Một người đàn ông cao lêu nghêu, khoẻ mạnh, mặt đỏ gay, mũi khoằm như mỏ chim, đôi mắt nhỏ rực lửa được hàng mi màu lanh làm dịu đi, ngồi trên sân ga ở Lốt Pi-nốt, đung đưa hai chân. Ngồi cạnh hắn là một người đàn ông khác, béo, buồn rầu, tàng tàng, có vẻ là bạn hắn. Trông họ như những người mà cuộc đời đối với họ là một chiếc áo mặc được cả hai mặt, mặt nào cũng toàn đường chỉ xấu xí.
— Gần bốn năm nay chẳng thấy mặt cậu, Hem ạ, người đàn ông tàng tàng nói. Cậu đi lang bạt mạn nào thế?
— Tếch-dát, người mặt đỏ nói. A-la-xca lạnh quá với tớ. Mà tớ thấy Tếch-dát thì ấm. Để tớ kể cậu nghe về một đợt nóng tớ đã trải qua ở đó.
Một buổi sáng, tớ bước xuống chuyến tàu Quốc tế ở một trạm lấy nước, và để nó đi tiếp không có tớ. Đó là vùng đất trại chăn nuôi, nhà cửa giận dỗi nhau còn nhiều hơn ở New York. Có điều ngoài ấy người ta xây nhà cách nhau ba chục cây số để khỏi ngửi thấy nhà bên ăn gì, chứ không xây cách cửa sổ nhà hàng xóm có năm phân.
Chẳng thấy con đường nào, nên tớ cuốc bộ băng đồng. Cỏ cao ngập mũi giày, còn rừng cây gai thì trông y như một vườn đào. Nó giống khu đất riêng của một quý ông tới mức lúc nào tớ cũng tưởng sắp có cả một chuồng chó bun lao ra cắn mình. Nhưng tớ phải đi tới ba chục cây số mới thấy một ngôi nhà trại. Đó là một ngôi nhà nhỏ, to cỡ một nhà ga tàu điện trên cao.
Có một người đàn ông nhỏ thó mặc áo sơ mi trắng, quần yếm nâu, quàng khăn hồng quanh cổ, đang ngồi vấn thuốc dưới một gốc cây trước cửa.
"Xin chào", tớ nói. "Có chút đồ giải khát, lời chào đón, bổng lộc, hay thậm chí việc làm nào cho một kẻ tương đối xa lạ không?"
"Ồ, mời vào", anh ta nói bằng giọng tao nhã. "Mời anh ngồi chiếc ghế đẩu kia. Tôi không nghe tiếng ngựa anh tới."
"Nó chưa tới gần thế đâu", tớ nói. "Tôi đi bộ. Tôi không muốn làm phiền, nhưng không biết anh có sẵn chừng mươi lăm lít nước không."
"Trông anh cũng bụi bặm thật", anh ta nói, "nhưng chỗ tắm rửa của chúng tôi thì..."
"Tôi muốn uống cơ", tớ nói. "Bụi bên ngoài thì kệ nó."
Anh ta múc cho tớ một gáo nước từ cái vại đỏ treo trên tường, rồi nói tiếp:
"Anh muốn tìm việc à?"
"Một thời gian thôi", tớ nói. "Vùng này khá yên tĩnh nhỉ?"
"Phải", anh ta nói. "Đôi khi, người ta bảo tôi thế, hàng tuần liền chẳng thấy một bóng người nào đi qua. Tôi mới ở đây được một tháng. Tôi mua lại trại này của một ông già khai hoang muốn dọn đi xa hơn về phía tây."
"Hợp với tôi đấy", tớ nói. "Đôi khi sự yên tĩnh và ẩn dật cũng tốt cho con người. Mà tôi đang cần việc. Tôi biết đứng quầy rượu, rải muối giả làm mỏ, diễn thuyết, phát hành cổ phiếu, đấm bốc hạng trung một chút, và chơi dương cầm."
"Anh có biết chăn cừu không?" Ông chủ trại nhỏ thó hỏi.
"Ý anh là tôi có biết nghe cừu kêu không à?" Tớ nói.
"Anh có biết chăn chúng không, trông nom cả một đàn ấy?" Anh ta nói.
"Ồ", tớ nói, "giờ thì tôi hiểu rồi. Ý anh là chạy vòng quanh chúng mà sủa như chó chăn cừu. Chà, có lẽ được", tớ nói. "Tôi chưa từng chăn cừu thật bao giờ, nhưng tôi thường thấy chúng qua cửa sổ toa tàu, đang nhai hoa cúc, mà trông chúng chẳng có vẻ gì nguy hiểm."
"Tôi đang thiếu một người chăn", ông chủ trại nói. "Chẳng bao giờ tin được đám người Mê-hi-cô. Tôi chỉ có hai đàn. Nếu anh muốn thì sáng mai anh có thể đưa đàn cừu của tôi đi, chỉ có tám trăm con thôi. Lương mười hai đô-la một tháng, được cấp khẩu phần ăn. Anh cắm trại trong lều trên đồng cỏ cùng với cừu. Anh tự nấu ăn, nhưng củi với nước sẽ có người mang tới trại. Việc nhẹ nhàng thôi."
"Tôi nhận", tớ nói. "Tôi sẽ nhận việc, dù có phải đội vòng hoa lên đầu, cầm cái gậy móc, mặc áo thụng, thổi sáo như những chàng chăn cừu trong tranh."
Thế là sáng hôm sau, ông chủ trại nhỏ thó giúp tớ lùa đàn cừu từ chuồng ra cách đó chừng ba cây số, thả chúng gặm cỏ trên một sườn đồi thấp giữa đồng. Anh ta dặn dò tớ đủ điều, nào đừng để từng nhóm tách đàn đi lạc, nào giữa trưa phải lùa chúng xuống vũng nước uống.
"Trước khi trời tối tôi sẽ mang lều, đồ cắm trại với khẩu phần ra cho anh bằng xe ngựa", anh ta nói.
"Tốt", tớ nói. "Đừng quên khẩu phần nhé. Cả đồ cắm trại nữa. Và nhớ mang lều. Anh tên là Dô-li-cô-phơ phải không?"
"Tên tôi", anh ta nói, "là Hen-ri Ốc-đen."
"Được rồi, anh Ốc-đen", tớ nói. "Tên tôi là Péc-xi-van Xanh Cle."
Tớ chăn cừu năm ngày ở trại Chi-qui-tô, rồi thì lông cừu ngấm vào tận tâm hồn tớ. Cái trò gần gũi với Thiên Nhiên ấy gần gũi với tớ quá mức. Tớ cô đơn hơn cả con dê của Rô-bin-xơn trên hoang đảo. Tớ đã gặp khối người làm bạn đồng hành thú vị hơn lũ cừu ấy nhiều. Tối nào tớ cũng lùa chúng về nhốt vào chuồng, rồi nấu bánh ngô, thịt cừu với cà phê, rồi nằm trong một cái lều to bằng tấm khăn trải bàn, nghe chó sói với chim cú muỗi hát quanh trại.
Tối thứ năm, sau khi nhốt xong đám cừu đắt giá mà chẳng hợp tính, tớ đi bộ sang nhà trại, bước vào cửa.
"Anh Ốc-đen", tớ nói, "anh với tôi phải thân mật với nhau một chút. Cừu thì cũng hay đấy, để điểm xuyết phong cảnh và cung cấp cho con người những bộ đồ len tám đô-la, nhưng làm bạn chuyện trò bên bàn ăn hay bên lò sưởi thì chúng chẳng hơn gì mấy trò đố mẹo vớ vẩn. Nếu anh có bộ bài, hay bộ cờ cá ngựa, hay trò chơi gì khác, thì lấy ra, ta hãy giao lưu trên cơ sở trí óc một chút. Tôi phải làm cái gì đó thuộc lĩnh vực trí tuệ, dù chỉ là đập vỡ đầu ai đó."
Cái anh Hen-ri Ốc-đen này là một chủ trại khác người. Anh ta đeo nhẫn, đeo chiếc đồng hồ vàng to, thắt cà vạt cẩn thận. Gương mặt anh ta điềm tĩnh, cặp kính kẹp mũi lúc nào cũng sáng bóng. Có lần ở Mớt-cô-gi tớ thấy người ta treo cổ một tên cướp vì giết sáu mạng người, trông giống anh ta như đúc. Nhưng tớ cũng biết một ông mục sư ở Ác-can-xơ mà nhìn cậu sẽ tưởng là anh em ruột của anh ta. Đằng nào tớ cũng chẳng bận tâm lắm. Cái tớ muốn là được giao du, trò chuyện với các bậc thánh nhân hay những kẻ tội lỗi lạc đường. Bất cứ thứ gì không có cừu cũng được.
"Thế đấy, Xanh Cle", anh ta nói, đặt cuốn sách đang đọc xuống, "tôi đoán thoạt đầu chắc anh thấy cô đơn lắm. Mà tôi cũng không chối là với tôi cũng tẻ nhạt. Anh có chắc là anh nhốt cừu kĩ để chúng không xổng ra không?"
"Chúng bị nhốt chặt như bồi thẩm đoàn trong vụ xử một tên triệu phú giết người", tớ nói. "Mà tôi sẽ quay về với chúng từ lâu trước khi chúng cần tới cô y tá riêng."
Thế là Ốc-đen lôi ra một bộ bài, và chúng tớ chơi bài. Sau năm ngày năm đêm ở trại cừu, như thế chẳng khác gì một chầu ăn chơi ở đường Brốt-uê. Khi bắt được quân to, tớ phấn khích như vừa kiếm được một triệu ở phố Uôn. Và khi anh Hen-ri Ốc-đen cởi mở hơn một chút, kể chuyện bà nọ trên toa tàu nằm, tớ cười suốt năm phút.
Điều đó cho thấy đời là một thứ tương đối biết chừng nào. Một người có thể đã thấy nhiều tới mức chán chẳng buồn quay đầu nhìn một đám cháy ba triệu đô-la, hay một danh hài, hay biển A-đri-a-tích. Nhưng cứ để anh ta đi chăn cừu một thời gian, rồi cậu sẽ thấy anh ta cười vỡ bụng vì một bài thơ ủy mị, hay thật sự thích thú khi đánh bài với các bà.
Một lúc sau Ốc-đen lấy ra một bình rượu uýt-ki ngô, thế là lũ cừu hoàn toàn bị nhật thực che khuất.
"Anh có nhớ đọc trên báo khoảng một tháng trước", anh ta nói, "về vụ cướp tàu trên tuyến đường sắt Mít-xu-ri - Can-dát - Tếch-dát không? Nhân viên chuyển phát bị bắn xuyên vai, khoảng mười lăm nghìn đô-la tiền mặt bị lấy mất. Mà người ta bảo chỉ có một người làm vụ ấy."
"Hình như có nhớ", tớ nói. "Nhưng những chuyện ấy xảy ra thường quá, chẳng lưu lại lâu trong đầu óc dân Tếch-dát. Họ có đuổi kịp, tóm được, bắt giữ hay đặt tay lên kẻ cướp bóc ấy không?"
"Hắn trốn thoát", Ốc-đen nói. "Mà hôm nay tôi vừa đọc trên báo là các nhà chức trách đã lần theo dấu hắn xuống tận vùng này. Hình như số giấy bạc tên cướp lấy được toàn là đợt tiền phát hành đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Thứ hai thành phố Ét-pi-nô-xa. Thế là người ta lần theo những chỗ số tiền ấy được tiêu, và dấu vết dẫn về phía này."
Ốc-đen rót thêm rượu, đẩy cái chai sang cho tớ.
"Tôi nghĩ", tớ nói, sau khi tiếp nhận thêm một lượng nhỏ thứ rượu vương giả ấy, "rằng một tên cướp tàu chạy xuống vùng này trốn một thời gian thì cũng chẳng phải là ý tưởng thiếu thành thật gì. Chẳng hạn một trại cừu", tớ nói, "sẽ là chỗ tuyệt vời nhất. Ai mà ngờ được lại có một kẻ liều mạng như thế giữa đám chim hót, cừu non với hoa dại này? Mà nhân tiện", tớ nói, hơi nhìn soi mói anh Hen-ri Ốc-đen, "báo có tả gì về cái kẻ khủng bố đơn thương độc mã ấy không? Đường nét, chiều cao, bề ngang, răng hàn hay kiểu quần áo của hắn có được in ra không?"
"Ồ, không", Ốc-đen nói. "Người ta bảo chẳng ai nhìn rõ mặt hắn, vì hắn đeo mặt nạ. Nhưng người ta biết đó là một tên cướp tàu tên là Bin Đen, vì hắn bao giờ cũng làm một mình, và vì hắn đánh rơi trong toa chuyển phát một chiếc khăn tay có thêu tên hắn."
"Được lắm", tớ nói. "Tôi tán thành việc Bin Đen rút về vùng đồng cỏ chăn cừu. Tôi đoán là họ sẽ không tìm ra hắn đâu."
"Ai bắt được hắn sẽ được thưởng một nghìn đô-la", Ốc-đen nói.
"Tôi chẳng cần thứ tiền ấy", tớ nói, nhìn thẳng vào mắt ngài chủ trại cừu. "Mười hai đô-la một tháng anh trả tôi là đủ rồi. Tôi cần nghỉ ngơi, và tôi có thể để dành cho tới khi đủ tiền tàu về Téc-xa-can-na, nơi bà mẹ goá của tôi đang sống. Nếu Bin Đen", tớ nói tiếp, nhìn Ốc-đen đầy ẩn ý, "có xuống mạn này, chẳng hạn một tháng trước, và mua một trại cừu nhỏ, rồi..."
"Thôi ngay", Ốc-đen nói, đứng phắt dậy khỏi ghế, trông khá hung dữ. "Anh định ám chỉ..."
"Chẳng có gì cả", tớ nói. "Chẳng ám chỉ gì. Tôi chỉ đang nêu một trường hợp giả định thôi. Tôi nói là, nếu Bin Đen xuống đây mua một trại cừu, thuê tôi làm chú bé chăn cừu, và đối xử với tôi đàng hoàng, tử tế như anh đã làm, thì hắn sẽ chẳng bao giờ phải sợ gì ở tôi. Người ta là người ta, bất kể có dây dưa thế nào với cừu hay tàu hoả. Giờ thì anh biết lập trường của tôi rồi đấy."
Ốc-đen sa sầm mặt đen như cà phê trại suốt chín giây, rồi bật cười, có vẻ thích thú.
"Anh được đấy, Xanh Cle", anh ta nói. "Nếu tôi là Bin Đen thật, thì tôi chẳng sợ tin anh. Tối nay ta đánh vài ván bài đi. Ấy là nếu anh không ngại chơi bài với một tên cướp tàu."
"Tôi đã bày tỏ với anh những tình cảm bằng lời của tôi rồi", tớ nói, "mà chẳng có điều kiện gì kèm theo."
Trong khi xào bài sau ván đầu tiên, tớ hỏi Ốc-đen, như thể ý ấy chỉ là tình cờ, xem anh ta người ở đâu.
"Ồ", anh ta nói, "ở thung lũng Mít-xi-xi-pi."
"Một chỗ nhỏ xinh xắn đấy", tớ nói. "Tôi thường dừng chân ở đó. Nhưng anh có thấy khăn trải giường hơi ẩm và đồ ăn hơi tồi không? Còn tôi", tớ nói, "thì quê ở sườn núi Thái Bình Dương. Anh đã bao giờ trọ ở đó chưa?"
"Gió lùa quá", Ốc-đen nói. "Nhưng nếu có lúc nào anh tới miền Trung Tây, cứ nhắc tên tôi, anh sẽ được sưởi chân và uống cà phê phin."
"Chà", tớ nói, "tôi đâu có định câu số điện thoại riêng của anh, hay tên đệm của bà dì anh, cái bà đã cuỗm mất ông mục sư nọ. Chẳng sao cả. Tôi chỉ muốn anh biết là anh được an toàn trong tay người chăn cừu của anh. Thôi, đừng có đánh nhầm chất, mà cũng đừng có cuống."
"Lại vẫn cái điệp khúc ấy", Ốc-đen nói, lại bật cười. "Anh không nghĩ là nếu tôi là Bin Đen, và tưởng anh nghi tôi, thì tôi đã cho anh một viên đạn súng trường để hết cuống, nếu tôi có cuống sao?"
"Không đâu", tớ nói. "Một người có gan một mình cướp cả đoàn tàu thì chẳng giở cái trò ấy. Tôi đã lăn lộn đủ để biết rằng những người như thế là loại người biết quý trọng bạn bè. Không phải tôi dám nhận là bạn anh đâu, anh Ốc-đen", tớ nói, "tôi chỉ là người chăn cừu của anh thôi. Nhưng trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn, thì có khi chúng ta đã là bạn."
"Xin anh tạm quên lũ cừu đi", Ốc-đen nói, "rồi chia bài."
Khoảng bốn ngày sau, trong lúc đàn cừu của tớ đang nghỉ trưa bên vũng nước còn tớ thì đang đắm chìm trong việc pha một ấm cà phê, có một nhân vật bí ẩn cưỡi ngựa lặng lẽ trên cỏ tới, ăn vận đúng như cái mà hắn muốn làm ra vẻ. Hắn mặc cái gì đó lưng chừng giữa một tay thám tử thành phố, một cao bồi biểu diễn, với một ông bắt chó của thị trấn. Cằm và mắt hắn không được đúc theo đường nét của dân đánh nhau, nên tớ biết hắn chỉ là một tay đi trinh sát.
"Chăn cừu à?" Hắn hỏi tớ.
"Chà", tớ nói, "với một người có trí khôn hiển nhiên như ông, tôi đâu dám bảo là tôi đang trang trí đồ đồng cổ hay tra dầu cho líp xe đạp."
"Tôi thấy anh nói năng với trông chẳng giống dân chăn cừu tí nào", hắn nói.
"Nhưng tôi thấy ông nói năng đúng y như cái vẻ ngoài của ông", tớ nói.
Rồi hắn hỏi tớ làm cho ai, tớ chỉ cho hắn trại Chi-qui-tô cách đó ba cây số, dưới bóng một ngọn đồi thấp, và hắn bảo tớ hắn là phó cảnh sát trưởng.
"Có một tên cướp tàu tên là Bin Đen được cho là đang ở đâu đó quanh đây", tay trinh sát nói. "Người ta đã lần dấu hắn tới tận Xan An-tô-ni-ô, có khi xa hơn. Trong tháng vừa rồi anh có thấy hay nghe nói tới người lạ nào quanh đây không?"
"Không", tớ nói, "trừ có tin về một người ở khu nhà của dân Mê-hi-cô thuộc trại Lu-mít, bên sông Phri-ô."
"Anh biết gì về hắn?" Viên phó cảnh sát hỏi.
"Nó mới ba ngày tuổi", tớ nói.
"Cái ông anh đang làm cho trông thế nào?" Hắn hỏi. "Lão Gioóc Ra-mi vẫn còn làm chủ chỗ này à? Lão nuôi cừu ở đây mười năm nay mà chẳng bao giờ ăn thua."
"Ông già bán trại đi miền Tây rồi", tớ bảo hắn. "Một tay mê cừu khác mua lại khoảng một tháng trước."
"Trông hắn thế nào?" Viên phó cảnh sát lại hỏi.
"Ồ", tớ nói, "một gã người Đức to béo, râu dài, đeo kính xanh. Tôi nghĩ gã chẳng phân biệt nổi con cừu với con sóc đất. Tôi đoán lão Gioóc đã chém gã một vố ra trò trong vụ mua bán ấy", tớ nói.
Sau khi tự cho phép mình moi thêm một mớ thông tin chẳng nói lên gì và chén mất hai phần ba bữa trưa của tớ, viên phó cảnh sát cưỡi ngựa đi.
Tối hôm ấy tớ kể chuyện ấy với Ốc-đen.
"Người ta đang siết những xúc tu của con bạch tuộc quanh Bin Đen rồi đấy", tớ nói.
Rồi tớ kể cho anh ta về viên phó cảnh sát, về việc tớ đã tả anh ta với viên phó cảnh sát thế nào, và viên phó cảnh sát đã nói gì về chuyện ấy.
"Ồ, thôi", Ốc-đen nói, "ta đừng vay mượn những rắc rối của Bin Đen. Ta cũng có vài rắc rối của riêng ta rồi. Lấy chai rượu trong tủ ra, ta uống chúc sức khoẻ hắn. Trừ phi", anh ta nói, với tiếng cười khúc khích nhỏ của mình, "anh có thành kiến với bọn cướp tàu."
"Tôi sẽ uống", tớ nói, "chúc bất cứ ai là bạn của bạn mình. Và tôi tin rằng Bin Đen", tớ nói tiếp, "sẽ là người như thế. Vậy xin nâng ly chúc Bin Đen, mong hắn gặp may."
Và cả hai chúng tớ đều uống.
Khoảng hai tuần sau thì tới mùa xén lông. Cừu phải được lùa về trại, rồi một lũ người Mê-hi-cô đầu bù tóc rối sẽ xén lông chúng bằng những chiếc kéo to. Vậy là chiều hôm trước ngày các ông thợ cạo tới, tớ lùa đàn cừu chưa chín tới của tớ qua đồi, qua thung, dọc con suối uốn khúc, lên tới nhà trại, nhốt chúng vào chuồng và chúc chúng ngủ ngon như mọi tối.
Từ đó tớ đi vào nhà. Tớ thấy ngài Hen-ri Ốc-đen nằm ngủ trên chiếc giường gấp nhỏ. Tớ đoán anh ta đã bị bệnh chống mất ngủ, hay bệnh không tỉnh táo, hay một trong những thứ bệnh đặc thù của nghề nuôi cừu quật ngã. Miệng và áo gi-lê của anh ta đều mở, và anh ta thở như cái bơm xe đạp cũ. Tớ nhìn anh ta mà tuôn ra vài dòng suy tưởng. "Hoàng đế Xê-da", tớ nói, "mà ngủ kiểu này, thì nên ngậm miệng lại cho gió khỏi lùa vào."
Một người đang ngủ đúng là cảnh tượng làm thiên thần cũng phải khóc. Tất cả trí óc, cơ bắp, người chống lưng, gan góc, thế lực và họ hàng của hắn thì có ích gì? Hắn nằm đó, phó mặc cho kẻ thù, mà còn phó mặc cho bạn bè hơn nữa. Và hắn đẹp đẽ chẳng khác gì con ngựa kéo xe đứng tựa vào nhà hát ô-pê-ra lúc nửa đêm, mơ về những đồng cỏ xứ Ả Rập. Còn một người đàn bà đang ngủ thì cậu nhìn khác hẳn. Dù trông cô ta thế nào, cậu cũng biết cô ta ngủ như thế là tốt cho tất cả mọi người.
Thế là tớ làm một ly rượu, thêm một ly cho Ốc-đen, rồi bắt đầu ngồi thoải mái trong khi anh ta ngủ trưa. Trên bàn anh ta có vài cuốn sách về những đề tài bản địa, như nước Nhật, hệ thống thoát nước và thể dục thể hình, với một ít thuốc lá, thứ có vẻ thiết thực hơn.
Sau khi hút vài điếu, và nghe tiếng thở như kéo cưa của Hen-ri Ốc-đen, tớ tình cờ nhìn ra cửa sổ, về phía chuồng xén lông, nơi có một thứ gọi là đường đi lên từ một thứ gọi là đường băng qua một thứ gọi là con lạch ở xa xa.
Tớ thấy năm người đang cưỡi ngựa tới nhà. Người nào cũng đặt súng ngang yên, và trong số đó có viên phó cảnh sát đã nói chuyện với tớ ở trại.
Họ thận trọng tiến tới, đội hình dàn rộng, súng lăm lăm. Tớ đưa mắt chọn ra kẻ mà tớ đoán là thủ lĩnh của toán kị binh trật tự trị an này.
"Chào các ông", tớ nói. "Các ông không xuống ngựa, buộc ngựa lại à?"
Tên thủ lĩnh cưỡi ngựa tới sát, chĩa súng tới mức cái lỗ trên nòng súng dường như che kín cả mặt tiền của tớ.
"Đừng có động đậy tay", hắn nói, "cho tới khi tôi với anh nói chuyện đủ cần thiết."
"Tôi sẽ không động đậy", tớ nói. "Tôi không câm không điếc, nên trả lời ông thì cũng chẳng trái lệnh ông."
"Chúng tôi đang truy lùng", hắn nói, "Bin Đen, kẻ đã cướp đoàn tàu mười lăm nghìn đô-la hồi tháng Năm. Chúng tôi đang lục soát các trại và tất cả mọi người trong đó. Anh tên gì, và anh làm gì ở trại này?"
"Thưa đại uý", tớ nói, "Péc-xi-van Xanh Cle là nghề nghiệp của tôi, còn tên tôi là chăn cừu. Tối nay tôi nhốt đàn bê của tôi, à không, đàn cừu, ở đây. Mai thợ xén lông tới cắt tóc cho chúng."
"Chủ trại này đâu?" Đại uý của toán người hỏi tớ.
"Khoan một phút, đại uý", tớ nói. "Có phải có một khoản tiền thưởng cho việc bắt giữ cái kẻ liều mạng mà ông nhắc tới trong lời mở đầu không?"
"Có một nghìn đô-la tiền thưởng", viên đại uý nói, "nhưng là cho việc bắt giữ và kết án hắn. Hình như chẳng có điều khoản nào dành cho người chỉ điểm."
"Có vẻ như một hai hôm nữa trời sẽ mưa", tớ nói, giọng mệt mỏi, ngước nhìn bầu trời xanh ngắt.
"Nếu anh biết gì về chỗ ở, tính tình hay sự giấu giếm của cái tên Bin Đen này", hắn nói bằng giọng nghiêm khắc, "thì anh đang thân thiện với pháp luật khi không khai báo đấy."
"Tôi nghe một anh đi tuần hàng rào kể", tớ nói, giọng lơ đãng, "rằng có một người Mê-hi-cô bảo một anh cao bồi tên là Gếch ở cửa hàng Pít-gin bên sông Nu-ê-xét, rằng anh ta nghe nói có người thấy Bin Đen ở Ma-ta-mô-rát, do ông anh họ của một tay nuôi cừu thấy, hai tuần trước."
"Thế này nhé, Kín Miệng", viên đại uý nói, sau khi nhìn tớ một lượt như để mặc cả. "Nếu anh chỉ cho chúng tôi để tóm được Bin Đen, tôi sẽ trả anh một trăm đô-la bằng tiền túi của tôi, à, của chúng tôi. Thế là hào phóng lắm rồi", hắn nói. "Anh chẳng có quyền được gì cả. Giờ anh nói sao?"
"Trả tiền mặt ngay bây giờ chứ?" Tớ hỏi.
Viên đại uý bàn bạc một lúc với đám người giúp việc, rồi tất cả lôi hết những gì có trong túi ra để phân tích. Từ kết quả chung, họ tính được một trăm linh hai đô-la ba mươi xu tiền mặt, với ba mươi mốt đô-la thuốc lá bánh.
"Lại gần đây, thưa đại uý", tớ nói, "mà nghe này." Hắn làm theo.
"Tôi nghèo lắm, thấp hèn lắm trên đời này", tớ nói. "Tôi làm mười hai đô-la một tháng, cố giữ cho một lũ súc vật ở với nhau, mà cái ý nghĩ duy nhất của chúng hình như là tản đi mỗi đứa một ngả. Tuy rằng", tớ nói, "tôi tự coi mình còn khá hơn đôi chút, nhưng với một người xưa nay chỉ biết tới cừu dưới dạng sườn nướng, thì thế này là sa sút lắm. Tôi đã sa cơ khá xa trên đời vì những tham vọng tan vỡ, vì rượu rum, và vì một thứ cốc-tai người ta pha dọc tuyến đường sắt Pen-xin-va-ni-a từ Xcran-tơn tới Xin-xin-na-ti, rượu gin khô, rượu vang thơm Pháp, vắt một chút chanh, thêm một giọt rượu đắng vỏ cam. Nếu có dịp tới mạn ấy, ông đừng quên thử một ly. Mà còn nữa", tớ nói, "tôi chưa bao giờ phản bạn. Tôi đã sát cánh với bạn khi họ dư dả, và khi hoạn nạn đổ xuống đầu tôi, tôi cũng chưa bao giờ bỏ rơi họ."
"Nhưng", tớ nói tiếp, "đây không hẳn là trường hợp của một người bạn. Mười hai đô-la một tháng chỉ là tiền của mối quen biết gật đầu chào nhau. Và tôi không coi đậu nâu với bánh ngô là món ăn của tình bạn. Tôi là người nghèo", tớ nói, "và tôi có bà mẹ goá ở Téc-xa-can-na. Các ông sẽ thấy Bin Đen", tớ nói, "đang nằm ngủ trong ngôi nhà này, trên chiếc giường gấp trong căn phòng bên tay phải các ông. Hắn chính là người các ông cần tìm, tôi biết qua lời nói và cách chuyện trò của hắn. Hắn cũng có thể coi là một người bạn", tớ giải thích, "và nếu tôi còn là con người như ngày trước, thì toàn bộ sản lượng của các mỏ vàng trên đời cũng không cám dỗ được tôi phản bội hắn. Nhưng", tớ nói, "tuần nào cũng có một nửa số đậu bị mọt, mà củi ở trại thì chẳng bao giờ đủ."
"Các ông vào thì cẩn thận đấy", tớ nói. "Đôi khi hắn có vẻ nóng nảy, mà nghĩ tới cái nghề nghiệp gần đây của hắn, thì nếu bị bất ngờ, người ta có thể chờ đợi những hành động đột ngột."
Thế là cả toán người xuống ngựa, buộc ngựa, sửa soạn đạn dược với đồ lề, rồi rón rén đi vào nhà. Còn tớ theo sau, như nàng Đê-li-la khi xúi quân thù xông vào bắt chàng lực sĩ Xam-xơn.
Thủ lĩnh toán người lay Ốc-đen dậy. Anh ta bật dậy, và hai tay săn tiền thưởng khác chộp lấy anh ta. Ốc-đen tuy mảnh khảnh mà rất dai sức, anh ta chống trả một mình trước đám đông một trận gọn gàng nhất mà tớ từng thấy.
"Thế này là thế nào?" Anh ta nói, sau khi họ đã đè được anh ta xuống.
"Mày bị tóm rồi, ngài Bin Đen", viên đại uý nói. "Thế thôi."
"Thật là xúc phạm", Hen-ri Ốc-đen nói, càng giận dữ hơn.
"Đúng là đã có sự xúc phạm", con người của hoà bình và thiện chí nói. "Đoàn tàu có làm gì mày đâu, mà luật pháp thì cấm nghịch ngợm với các kiện hàng chuyển phát."
Rồi hắn ngồi lên bụng Hen-ri Ốc-đen, lục soát các túi của anh ta một cách cẩn thận, có hệ thống.
"Tôi sẽ cho các người toát mồ hôi vì vụ này", Ốc-đen nói, chính anh ta cũng đang toát mồ hôi. "Tôi chứng minh được tôi là ai."
"Tao cũng chứng minh được", viên đại uý nói, khi rút từ túi áo trong của Hen-ri Ốc-đen ra một nắm giấy bạc mới của Ngân hàng Quốc gia Thứ hai thành phố Ét-pi-nô-xa. "Đến tấm danh thiếp khắc chữ nổi của mày cũng chẳng tuyên bố mày là ai to tiếng bằng đám giấy bạc này. Giờ mày đứng dậy được rồi, chuẩn bị đi với chúng tao mà chuộc tội đi."
Hen-ri Ốc-đen đứng dậy, sửa lại cà vạt. Sau khi họ đã lấy số tiền khỏi người anh ta, anh ta không nói thêm gì nữa.
"Một ý tưởng trơn tru lắm", viên đại uý cảnh sát trầm trồ, "lẻn xuống đây mua một trại cừu nhỏ ở chốn hiếm khi nghe thấy bàn tay con người. Đó là chỗ ẩn náu khéo nhất tôi từng thấy", viên đại uý nói.
Thế là một người trong bọn ra chuồng xén lông tìm người chăn cừu kia, một người Mê-hi-cô họ gọi là Giôn Xa-li, và anh ta thắng yên con ngựa của Ốc-đen. Đám cảnh sát cưỡi ngựa vây sát quanh anh ta, súng lăm lăm trong tay, sẵn sàng đưa tù nhân về thị trấn.
Trước khi đi, Ốc-đen giao trại lại cho Giôn Xa-li, dặn dò về việc xén lông và chỗ chăn thả đàn cừu, như thể anh ta định vài ngày nữa sẽ về. Và vài giờ sau, người ta có thể đã thấy một gã tên là Péc-xi-van Xanh Cle, cựu chăn cừu của trại Chi-qui-tô, túi có một trăm linh chín đô-la, gồm tiền lương và tiền bán máu người, cưỡi ngựa về phía nam, trên một con ngựa khác cũng thuộc trại ấy.
Người mặt đỏ ngừng lời và lắng nghe. Tiếng còi của một đoàn tàu hàng đang tới vang lên xa xa giữa những ngọn đồi thấp.
Người đàn ông béo tàng tàng ngồi cạnh hắn khịt mũi, chậm rãi lắc cái đầu bù xù, vẻ chê trách.
— Sao thế, Xnai-pi? Người kia hỏi. Lại buồn rầu à?
— Không, người tàng tàng nói, lại khịt mũi. Nhưng tớ không thích câu chuyện của cậu. Cậu với tớ làm bạn với nhau, khi gần khi xa, đã mười lăm năm nay, và tớ chưa bao giờ biết hay nghe nói cậu nộp ai cho pháp luật, không một ai cả. Thế mà đây là một người cậu đã ăn bánh của anh ta, đã ngồi chơi bài ở bàn của anh ta. Vậy mà cậu chỉ điểm anh ta cho pháp luật và lấy tiền. Tớ nói cho cậu biết, cậu xưa nay đâu có như thế.
— Cái anh Hen-ri Ốc-đen ấy, người mặt đỏ nói tiếp, nhờ một luật sư, đã chứng minh được mình vô tội bằng chứng cớ ngoại phạm và những thủ tục pháp lí khác, sau này tớ nghe kể thế. Anh ta chẳng bị làm sao cả. Anh ta tốt với tớ, tớ cũng chẳng muốn nộp anh ta.
— Thế còn đám giấy bạc người ta tìm thấy trong túi anh ta? Người tàng tàng hỏi.
— Tớ nhét vào đấy, người mặt đỏ nói, trong lúc anh ta ngủ, khi tớ thấy toán cảnh sát cưỡi ngựa tới. Tớ chính là Bin Đen. Coi chừng, Xnai-pi, tàu tới kìa! Lúc nó dừng lấy nước ở bồn, chúng mình sẽ nhảy lên bám vào đệm toa.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn