Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bố của Xi-mông

của Guy de Maupassant

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 15.572 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Chuông vừa điểm hết mười hai tiếng trưa. Cửa…
  2. 2:03"Tớ tên là Xi-mông."
  3. 4:01Bỗng một đứa đứng sát bên Xi-mông lè lưỡi…
  4. 8:27Người đàn ông mỉm cười:
  5. 10:11"Chú có muốn làm bố cháu không?"
  6. 11:56Nhưng một tiếng tăm đã sa ngã thì gây…
  7. 13:48Đứa bé đáp, hết sức ngây thơ:
  8. 15:39Trời đã đầy sao khi anh tới gõ cửa…

Chuông vừa điểm hết mười hai tiếng trưa. Cửa trường mở ra, lũ trẻ ùa ra, chen lấn xô đẩy nhau cho nhanh. Nhưng thay vì tản đi thật nhanh rồi về nhà ăn trưa như mọi ngày, chúng dừng lại cách đó mấy bước, tụm lại từng nhóm, rồi bắt đầu thì thầm với nhau.

Ấy là vì sáng hôm đó, Xi-mông, con trai chị Blăng-sốt, tới lớp lần đầu tiên.

Ở nhà, đứa nào cũng đã nghe nói về chị Blăng-sốt. Ngoài mặt thì người ta vẫn tiếp đón chị tử tế, nhưng khi chỉ có nhau, các bà mẹ nói về chị với một thứ thương hại pha chút khinh miệt. Thái độ ấy đã lây sang lũ trẻ, mà chúng chẳng hề biết vì sao.

Còn Xi-mông thì chúng không biết mặt, vì cậu chẳng bao giờ ra ngoài, chẳng bao giờ rong chơi với chúng ngoài đường làng hay ven sông. Vì vậy chúng chẳng ưa gì cậu. Cho nên chúng đã đón nhận, rồi kháo nhau, với một niềm vui khoái trá xen lẫn kinh ngạc vô cùng, câu nói của một thằng nhóc mười bốn mười lăm tuổi, đứa có vẻ biết nhiều chuyện lắm, vì nó cứ nheo nheo mắt ra vẻ ranh mãnh:

"Chúng mày biết không... thằng Xi-mông ấy... nó không có bố đâu."

Đến lượt con trai chị Blăng-sốt bước ra ngưỡng cửa trường.

Cậu bé chừng bảy tám tuổi, hơi xanh xao, rất sạch sẽ, dáng rụt rè, gần như vụng về.

Cậu đang trên đường về với mẹ thì từng nhóm bạn, vẫn thì thầm, vẫn nhìn cậu bằng ánh mắt tinh quái và độc ác của những đứa trẻ đang nghĩ ra trò xấu, cứ thế xúm lại quanh cậu, mỗi lúc một gần, cuối cùng vây kín lấy cậu. Cậu đứng trơ ra giữa đám đông, ngạc nhiên và lúng túng, chẳng hiểu người ta định làm gì mình. Thằng nhóc đã mang tin tới, thấy mình thành công thì lấy làm hãnh diện, hỏi cậu:

"Mày tên là gì?"

Cậu đáp:

"Xi-mông."

Thằng kia hỏi tiếp:

"Xi-mông gì?"

Cậu bé bối rối nhắc lại:

"Xi-mông."

Thằng nhóc quát lên:

"Người ta phải tên là Xi-mông gì gì chứ... Xi-mông không thì đâu phải là tên."

Còn cậu, nước mắt chực trào ra, đáp lần thứ ba:

"Tớ tên là Xi-mông."

Lũ nhóc phá lên cười. Thằng nhóc đắc thắng cao giọng:

"Đấy, chúng mày thấy chưa, nó không có bố."

Mọi người lặng đi. Lũ trẻ sững sờ trước một chuyện lạ lùng, không thể có, quái gở đến thế: một đứa con trai không có bố. Chúng nhìn cậu như nhìn một con vật lạ, một sinh vật trái tự nhiên, và chúng thấy lớn dần lên trong lòng mình cái nỗi khinh miệt của mẹ chúng đối với chị Blăng-sốt, cái nỗi khinh miệt mà trước nay chúng không hiểu.

Còn Xi-mông, cậu phải dựa vào một gốc cây cho khỏi ngã. Cậu đứng đó, như bị đánh gục bởi một tai hoạ không gì cứu vãn. Cậu muốn giải thích. Nhưng cậu chẳng tìm được câu gì để cãi lại, để chối cái điều khủng khiếp là cậu không có bố. Cuối cùng, mặt tái mét, cậu liều hét lên với chúng:

"Có, tớ có bố."

Thằng nhóc hỏi:

"Thế bố mày đâu?"

Xi-mông im lặng. Cậu không biết. Lũ trẻ cười ầm lên, vô cùng hào hứng. Những đứa trẻ đồng quê ấy, gần với muông thú hơn, cảm thấy cái thôi thúc tàn nhẫn vẫn khiến lũ gà trong sân xúm vào mổ chết một con trong đàn ngay khi nó bị thương. Bỗng Xi-mông nhìn thấy một đứa bé hàng xóm, con một bà goá, đứa mà cậu vẫn thấy cũng chỉ sống một mình với mẹ như cậu.

Cậu nói:

"Còn cậu nữa, cậu cũng không có bố."

Đứa kia đáp:

"Có chứ, tớ có bố."

Xi-mông vặn lại:

"Thế bố cậu đâu?"

Đứa bé kia tuyên bố, giọng hãnh diện lạ thường:

"Bố tớ chết rồi. Bố tớ nằm ở nghĩa địa."

Một tiếng xì xào tán thưởng chạy khắp đám nhóc, cứ như thể chuyện có bố đã chết nằm ngoài nghĩa địa làm cho bạn chúng lớn hẳn lên, đủ để đè bẹp đứa kia, đứa chẳng có bố gì sất. Và lũ ranh con ấy, mà bố chúng phần đông là những kẻ độc ác, nghiện rượu, ăn cắp, và hành hạ vợ, cứ chen nhau, xô nhau, xiết vòng mỗi lúc một chặt hơn, như thể chúng, những đứa con chính danh, muốn đè cho nghẹt thở cái đứa nằm ngoài vòng luật lệ.

Bỗng một đứa đứng sát bên Xi-mông lè lưỡi ra trêu chọc, rồi hét lên:

"Không có bố! Không có bố!"

Xi-mông túm lấy tóc nó bằng cả hai tay, đá túi bụi vào chân nó, trong lúc cắn mạnh vào má nó. Một trận xô xát lớn nổ ra. Hai đứa bị kéo ra, và Xi-mông bị đánh, bị cào xước, bị bầm dập, lăn lộn dưới đất, giữa vòng vây lũ trẻ đang vỗ tay reo hò. Lúc cậu đứng dậy, đưa tay phủi chiếc áo choàng nhỏ lấm bụi, có đứa hét lên:

"Về mà mách bố mày đi."

Thế là cậu cảm thấy trong lòng mình có cái gì đổ sụp. Chúng khoẻ hơn cậu, chúng đã đánh cậu, và cậu không thể cãi lại chúng, vì cậu biết rõ rằng cậu không có bố, điều ấy là thật. Đầy tự ái, cậu cố gắng mấy giây cưỡng lại những giọt nước mắt đang làm cậu nghẹn lại. Cậu nấc lên, rồi, không kêu một tiếng, cậu bật khóc, từng cơn nức nở dồn dập làm người cậu run lên.

Thế là lũ kẻ thù của cậu reo lên một niềm vui man rợ. Và cũng như những kẻ man rợ trong cơn hoan hỉ khủng khiếp của họ, chúng nắm tay nhau, nhảy vòng tròn quanh cậu, nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc:

"Không có bố! Không có bố!"

Nhưng đột nhiên Xi-mông thôi nức nở. Một cơn giận làm cậu điên lên. Dưới chân cậu có đá. Cậu nhặt lên, dồn hết sức ném vào lũ đao phủ. Hai ba đứa bị trúng, vừa la vừa chạy. Trông cậu dữ dằn tới mức cả bọn còn lại hoảng sợ. Hèn nhát như đám đông bao giờ cũng hèn nhát trước một con người đã tức giận đến cùng, chúng chạy tán loạn.

Còn lại một mình, đứa bé không cha chạy về phía cánh đồng, vì cậu chợt nhớ ra một chuyện, và chuyện ấy khiến cậu quyết định một điều hệ trọng. Cậu muốn trầm mình xuống sông.

Cậu nhớ rằng tám hôm trước, một kẻ khốn khổ sống bằng nghề ăn xin đã nhảy xuống sông vì không còn tiền. Xi-mông có mặt lúc người ta vớt ông lên. Ông già tội nghiệp ấy, mà thường ngày cậu thấy thảm hại, bẩn thỉu và xấu xí, lúc ấy lại làm cậu sững sờ vì vẻ bình yên, với đôi má tái nhợt, chòm râu dài ướt sũng và đôi mắt mở to, rất thanh thản. Quanh đó người ta bảo: "Ông ấy chết rồi." Có người còn nói thêm: "Bây giờ ông ấy sung sướng rồi." Và Xi-mông cũng muốn trầm mình vì cậu không có bố, cũng như ông già khốn khổ kia không có tiền.

Cậu đi tới sát mép nước, nhìn dòng sông chảy. Mấy con cá nhanh nhẹn đùa giỡn trong làn nước trong, thỉnh thoảng lại nhảy lên đớp những con ruồi bay là là trên mặt nước. Cậu thôi khóc để nhìn chúng, vì trò của chúng làm cậu thích thú lắm. Nhưng thỉnh thoảng, như giữa những lúc bão tạm lặng bỗng có những cơn gió lớn ào qua làm cây cối răng rắc rồi mất hút ở chân trời, ý nghĩ kia lại trở về với cậu, đau nhói:

"Mình sẽ trầm mình, vì mình không có bố."

Trời rất ấm, rất dễ chịu. Mặt trời dịu dàng sưởi ấm cỏ. Mặt nước sáng lấp lánh như một tấm gương. Và Xi-mông có những phút giây lâng lâng, cái uể oải vẫn tới sau khi khóc, khiến cậu rất muốn lăn ra ngủ ngay đó, trên cỏ, trong hơi ấm.

Một con nhái xanh nhỏ nhảy ra dưới chân cậu. Cậu tìm cách bắt nó. Nó trốn thoát. Cậu đuổi theo, ba lần liền vồ trượt. Cuối cùng cậu túm được đầu hai chân sau của nó, và cậu bật cười khi thấy con vật cố sức vùng vẫy. Nó co mình trên đôi chân dài, rồi bật mạnh một cái, duỗi thẳng ra, cứng đơ như hai thanh sắt, trong khi con mắt tròn xoe viền vàng của nó cứ mở to, còn hai chân trước khua khua trong không khí như hai bàn tay. Cậu chợt nhớ tới một món đồ chơi làm bằng những thanh gỗ mỏng đóng chéo lên nhau hình chữ chi, cũng cử động y như vậy, điều khiển những chú lính nhỏ cắm trên đó tập đi đều. Thế là cậu nghĩ tới nhà, rồi nghĩ tới mẹ, và một nỗi buồn lớn dâng lên, cậu lại khóc. Người cậu run lên từng đợt. Cậu quỳ xuống, đọc kinh như mọi tối trước khi đi ngủ. Nhưng cậu không đọc hết được, vì những tiếng nấc lại kéo tới, dồn dập, cuồn cuộn, tràn ngập khắp người cậu. Cậu chẳng còn nghĩ gì nữa. Cậu chẳng còn nhìn thấy gì quanh mình nữa, cậu chỉ còn biết khóc.

Bỗng một bàn tay nặng nề đặt lên vai cậu, và một giọng ồm ồm hỏi:

"Có chuyện gì mà cháu buồn thế, hả chú bé?"

Xi-mông quay lại. Một người thợ cao lớn, râu tóc đen, xoăn tít, đang nhìn cậu bằng ánh mắt hiền hậu. Cậu đáp, nước mắt đầy mắt, nghẹn đầy họng:

"Chúng nó đánh cháu... vì... cháu... cháu... không có... bố... không có bố..."

Người đàn ông mỉm cười:

"Sao thế được, ai mà chẳng có bố."

Đứa bé nói tiếp, khó nhọc, giữa những cơn nấc:

"Cháu... cháu... cháu không có."

Người thợ bỗng trở nên nghiêm trang. Anh đã nhận ra con trai chị Blăng-sốt. Tuy mới tới vùng này, anh cũng lờ mờ biết chuyện của chị.

Anh nói:

"Thôi nào, đừng buồn nữa, chú bé, đi với chú về nhà mẹ cháu. Người ta sẽ cho cháu... một ông bố."

Hai người lên đường, người lớn dắt tay đứa bé. Người đàn ông lại mỉm cười, vì anh cũng chẳng tiếc gì dịp được gặp chị Blăng-sốt, người mà thiên hạ đồn là một trong những cô gái đẹp nhất vùng. Và có lẽ trong thâm tâm, anh tự nhủ rằng một người con gái đã một lần lầm lỡ thì cũng có thể lầm lỡ lần nữa.

Họ tới trước một ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng, rất sạch sẽ.

Đứa bé nói:

"Đây rồi."

Rồi cậu gọi to:

"Mẹ ơi!"

Một người đàn bà bước ra. Người thợ bỗng tắt ngay nụ cười, vì anh hiểu ngay rằng không ai có thể đùa cợt với người con gái cao ráo, xanh xao này. Chị đứng nghiêm nghị nơi ngưỡng cửa, như để ngăn không cho một người đàn ông bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà nơi chị đã từng bị một kẻ khác phụ bạc. Ngượng ngùng, tay cầm mũ, anh ấp úng:

"Thưa chị, tôi đưa cháu nhà về. Cháu bị lạc ở gần bờ sông."

Nhưng Xi-mông nhảy lên ôm cổ mẹ, rồi vừa khóc lại vừa nói:

"Không phải đâu mẹ ơi, con định trầm mình, vì tụi nó đánh con... đánh con... vì con không có bố."

Đôi má người đàn bà trẻ đỏ bừng lên, rát bỏng. Đau đớn tận cùng da thịt, chị ôm ghì lấy con, nước mắt lã chã chảy dài trên mặt. Người đàn ông xúc động đứng đó, không biết làm sao mà đi. Nhưng Xi-mông bỗng chạy tới bên anh, nói:

"Chú có muốn làm bố cháu không?"

Mọi người lặng đi. Chị Blăng-sốt câm lặng, xấu hổ tới quặn thắt, dựa vào tường, hai tay ôm ngực. Đứa bé thấy không ai trả lời, nói tiếp:

"Nếu chú không muốn thì cháu lại ra sông trầm mình."

Người thợ coi đó là chuyện đùa, cười đáp:

"Có chứ, chú muốn lắm."

Đứa bé bèn hỏi:

"Thế chú tên là gì, để khi tụi nó hỏi tên bố thì cháu trả lời?"

Người đàn ông đáp:

"Phi-líp."

Xi-mông im lặng một giây cho cái tên ấy in thật kỹ vào đầu, rồi cậu giang hai tay, đã được an ủi hoàn toàn, và nói:

"Thế thì, Phi-líp ơi, chú là bố cháu."

Người thợ nhấc bổng cậu lên, hôn vội lên hai má cậu, rồi sải những bước dài, đi thật nhanh.

Hôm sau, khi đứa bé bước vào trường, một tràng cười độc ác đón cậu. Lúc tan học, khi thằng nhóc kia định giở trò cũ, Xi-mông ném vào mặt nó mấy chữ, như thể ném một hòn đá:

"Bố tớ tên là Phi-líp."

Những tiếng la hét khoái trá bật lên từ khắp phía:

"Phi-líp nào?... Phi-líp gì?... Phi-líp là cái gì thế?... Mày nhặt đâu ra cái ông Phi-líp ấy?"

Xi-mông không đáp lời nào. Vững vàng trong niềm tin của mình, cậu nhìn thẳng thách thức chúng, sẵn sàng chịu để chúng hành hạ chứ không chịu bỏ chạy trước chúng. Thầy giáo giải vây cho cậu, và cậu trở về với mẹ.

Suốt ba tháng, anh thợ cao lớn Phi-líp hay đi ngang qua nhà chị Blăng-sốt, và đôi lần, anh bạo dạn bắt chuyện khi thấy chị ngồi may bên cửa sổ. Chị đáp lại lễ phép, lúc nào cũng nghiêm trang, chẳng bao giờ cười đùa với anh, và chẳng bao giờ để anh vào nhà. Thế nhưng, hơi tự phụ như mọi người đàn ông, anh vẫn tưởng rằng mỗi lần trò chuyện với anh, mặt chị thường đỏ hơn mọi khi.

Nhưng một tiếng tăm đã sa ngã thì gây dựng lại khó nhọc biết bao, mà lúc nào cũng mong manh biết bao. Cho nên, dù chị Blăng-sốt giữ gìn e dè đến thế, trong vùng người ta đã bắt đầu bàn tán.

Còn Xi-mông thì rất yêu ông bố mới, hầu như tối nào cũng đi dạo với anh, khi ngày làm việc đã xong. Cậu đi học đều đặn, và đi qua giữa đám bạn với dáng vẻ rất đường hoàng, chẳng bao giờ thèm đáp lại chúng.

Thế nhưng một hôm, thằng nhóc đã gây sự với cậu đầu tiên bảo cậu:

"Mày nói dối. Mày làm gì có ông bố nào tên là Phi-líp."

Xi-mông hỏi lại, rất xúc động:

"Sao lại thế?"

Thằng nhóc xoa xoa hai tay. Nó nói tiếp:

"Vì nếu mày có bố thật, thì ông ấy phải là chồng của mẹ mày."

Xi-mông bối rối trước lập luận chí lý ấy, nhưng cậu vẫn đáp:

"Dù sao chú ấy vẫn là bố tớ."

Thằng nhóc cười khẩy:

"Có thể lắm, nhưng không phải bố mày hẳn hoi."

Thằng bé con chị Blăng-sốt cúi đầu, rồi thẫn thờ đi về phía lò rèn của bác Loa-dông, nơi Phi-líp làm việc.

Lò rèn ấy như bị vùi giữa những tán cây. Bên trong rất tối. Chỉ có ánh lửa đỏ của một lò than khổng lồ hắt từng vệt sáng lớn lên năm người thợ rèn cởi trần, đang nện trên đe với những tiếng chát chúa khủng khiếp. Họ đứng thẳng, đỏ rực như những con quỷ, mắt dán vào thanh sắt nóng bỏng mà họ đang hành hạ. Và những ý nghĩ nặng nề của họ cũng giơ lên rồi giáng xuống theo những chiếc búa.

Xi-mông bước vào, không ai thấy, rồi rón rén tới kéo tay áo bạn mình. Anh quay lại. Bỗng công việc ngừng hẳn, và mọi người đều nhìn, rất chăm chú. Giữa sự im lặng khác thường ấy, giọng nói nhỏ nhẹ, yếu ớt của Xi-mông cất lên:

"Chú Phi-líp ơi, thằng con nhà mụ Mi-sốt vừa bảo cháu là chú không phải là bố cháu hẳn hoi."

Người thợ hỏi:

"Sao lại thế?"

Đứa bé đáp, hết sức ngây thơ:

"Vì chú không phải là chồng của mẹ cháu."

Không ai cười. Phi-líp đứng yên, tì trán lên mu đôi bàn tay to bè đang nắm cán búa dựng đứng trên đe. Anh trầm ngâm. Bốn người bạn nhìn anh, và giữa những người khổng lồ ấy, Xi-mông bé nhỏ đứng chờ, lo lắng. Bỗng một người thợ rèn, như nói hộ ý nghĩ của tất cả, bảo Phi-líp:

"Dù sao thì chị Blăng-sốt cũng là một người con gái tốt, tử tế, chịu thương chịu khó, nết na, mặc dù chị ấy gặp chuyện không may. Một người đàn ông lương thiện lấy chị ấy làm vợ thì cũng xứng đáng lắm."

Ba người kia nói:

"Đúng thế đấy."

Người thợ nói tiếp:

"Chị ấy lầm lỡ thì đâu phải lỗi của chị ấy? Người ta đã hứa cưới chị ấy. Mà tôi biết khối người bây giờ được kính trọng lắm, cũng đã từng y như thế."

Ba người kia đồng thanh đáp:

"Đúng thế đấy."

Anh lại nói:

"Chị ấy đã vất vả thế nào, tội nghiệp, để một mình nuôi thằng con, và đã khóc thế nào từ ngày chị ấy chẳng ra khỏi nhà nữa trừ lúc đi nhà thờ, chỉ có Chúa trời biết."

Những người kia nói:

"Cái đó cũng đúng nốt."

Rồi chỉ còn nghe tiếng ống bễ thổi lửa trong lò. Phi-líp đột ngột cúi xuống bên Xi-mông:

"Cháu về bảo mẹ cháu là tối nay chú sẽ tới nói chuyện với mẹ."

Rồi anh nắm vai đẩy đứa bé ra ngoài.

Anh quay lại với công việc, và chỉ một nhát, năm chiếc búa cùng giáng xuống đe. Họ cứ thế nện sắt cho tới tối, mạnh mẽ, hùng tráng, vui vẻ như những chiếc búa mãn nguyện. Nhưng cũng như tiếng chuông lớn của nhà thờ vang lên át cả tiếng các chuông khác trong những ngày hội, chiếc búa của Phi-líp, trội hơn tiếng chát chúa của những chiếc kia, cứ từng giây lại giáng xuống, vang rền đinh tai. Còn anh, mắt rực sáng, say sưa rèn, đứng giữa những tia lửa bắn tung toé.

Trời đã đầy sao khi anh tới gõ cửa nhà chị Blăng-sốt. Anh mặc chiếc áo choàng ngày chủ nhật, áo sơ mi mới giặt, râu cạo nhẵn. Người đàn bà trẻ ra tới ngưỡng cửa, buồn rầu nói:

"Anh Phi-líp, trời tối rồi mà anh tới thế này là không phải đâu."

Anh muốn đáp, nhưng chỉ ấp úng, rồi đứng lúng túng trước mặt chị.

Chị nói tiếp:

"Anh cũng hiểu là tôi không muốn người ta bàn tán về tôi nữa."

Thế là, bỗng nhiên, anh nói:

"Thì có sao đâu, nếu em bằng lòng làm vợ anh!"

Không có tiếng trả lời. Nhưng anh tưởng như nghe thấy, trong bóng tối căn phòng, tiếng một thân người khuỵu xuống. Anh vội vàng bước vào. Và Xi-mông, đang nằm trên giường, nghe thấy tiếng một cái hôn và mấy lời mẹ cậu thì thầm rất khẽ. Rồi bỗng cậu thấy mình được nhấc bổng lên trong tay người bạn. Anh giơ cậu lên cao trên hai cánh tay lực sĩ, nói to:

"Con bảo với các bạn con là bố con là Phi-líp Rê-mi, thợ rèn, và bố sẽ tới kéo tai tất cả những đứa nào bắt nạt con."

Hôm sau, lúc trường đã đông đủ và lớp học sắp bắt đầu, bé Xi-mông đứng dậy, mặt tái đi, môi run run, nói bằng một giọng rành rọt:

"Bố tớ là Phi-líp Rê-mi, thợ rèn, và bố tớ đã hứa là sẽ kéo tai tất cả những đứa nào bắt nạt tớ."

Lần này, không ai cười nữa. Vì ai cũng biết rõ anh Phi-líp Rê-mi thợ rèn ấy. Có được một ông bố như thế, ai mà chẳng hãnh diện.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1879
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Papa de Simon, 1879, tập La Maison Tellier, Ollendorff 1891
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →