Chừng sáu trăm năm về trước, ở thị trấn U-ji, xứ Ya-ma-si-rô, có một võ sĩ trẻ tên là Y-tô Ta-tê-oa-ki Nô-ri-xu-kê, tổ tiên vốn thuộc dòng họ Hây-kê. Y-tô dung mạo khôi ngô, tính tình dễ mến, vừa giỏi chữ vừa thạo võ. Nhưng nhà chàng nghèo, chàng lại không được bậc quyền quý nào trong giới võ sĩ nâng đỡ, nên đường công danh chẳng mấy sáng sủa. Chàng sống rất lặng lẽ, vùi đầu vào sách vở, và như người kể chuyện xưa nói, chỉ có trăng với gió làm bạn.
Một chiều thu, đang dạo bước một mình quanh ngọn đồi tên là Cô-tô-bi-ki-ya-ma, chàng đi kịp một cô bé cũng đi cùng lối. Cô bé ăn mặc sang trọng, trông chừng mười một, mười hai tuổi. Y-tô chào cô, rồi nói:
"Này cô bé, mặt trời sắp lặn rồi, mà chỗ này lại vắng vẻ. Cô có bị lạc đường không?"
Cô bé ngước lên nhìn chàng, nở một nụ cười tươi tắn, rồi đáp như muốn chàng khỏi bận tâm:
"Dạ không ạ! Em là người hầu trong một phủ ở gần đây, em chỉ còn phải đi một quãng ngắn nữa thôi."
Nghe cô bé tự xưng là người hầu trong phủ, Y-tô biết cô phải đang hầu hạ một nhà quyền quý. Chàng lấy làm lạ, vì chàng chưa từng nghe có gia đình danh giá nào sống ở vùng này. Nhưng chàng chỉ nói:
"Tôi đang về U-ji, nhà tôi ở đó. Chỗ này vắng quá, có lẽ cô cho phép tôi đưa cô đi một quãng."
Cô bé duyên dáng cảm ơn chàng, có vẻ mừng vì lời đề nghị. Hai người cùng đi, vừa đi vừa chuyện trò. Cô bé nói chuyện thời tiết, chuyện hoa, chuyện bướm, chuyện chim. Cô kể về một lần cô tới U-ji chơi, kể về những thắng cảnh nổi tiếng nơi kinh đô, nơi cô sinh ra. Nghe cô bé líu lo hồn nhiên, Y-tô thấy thời gian trôi qua thật dễ chịu. Một lát sau, tới một khúc quanh, hai người bước vào một xóm nhỏ, bóng một khu rừng cây non phủ kín mít.
Ai chưa tận mắt thấy thì khó mà hình dung được có những làng quê Nhật tối tăm đến thế nào, ngay cả trong những ngày nắng chói chang nhất. Đứng cách làng một quãng, chẳng thấy nhà cửa đâu, chỉ thấy một khu rừng cây xanh quanh năm rậm rạp, phần nhiều là tuyết tùng non và tre, vừa để chắn bão, vừa để lấy gỗ dùng việc này việc khác. Cây trồng sát nhau đến mức không lách người qua giữa hai thân cây được. Thân cây thẳng tắp như cột buồm, ngọn cây đan vào nhau thành một mái che kín mặt trời. Mỗi nếp nhà tranh nằm trong một khoảng trống giữa rừng, cây cối bao quanh như hàng rào, cao gấp đôi mái nhà. Dưới tán cây lúc nào cũng nhá nhem như chạng vạng, kể cả giữa trưa. Điều khiến người lạ lần đầu tới những làng như thế thấy bồn chồn không phải là cái bóng tối trong trong, vốn có một vẻ quyến rũ kỳ lạ, mà là sự im lặng. Có thể có tới năm chục, một trăm nóc nhà, mà chẳng thấy một bóng người. Chỉ nghe tiếng những con chim không trông thấy líu lo, thỉnh thoảng một tiếng gà gáy, và tiếng ve ran. Mà đến ve cũng thấy những lùm cây này tối quá, chỉ kêu yếu ớt. Đôi khi còn nghe tiếng thoi dệt vải từ đâu đó vọng ra, lách cách, lách cách, nhưng giữa cái im lặng xanh mênh mông ấy, tiếng động quen thuộc kia nghe như chuyện của yêu tinh. Sở dĩ yên ắng như vậy chỉ vì người làng không có nhà. Người lớn, trừ mấy cụ già yếu, đều ra đồng cả, đàn bà địu con trên lưng. Còn trẻ con thì phần đông đã tới trường, có khi xa tới cả dặm đường.
Lúc Y-tô tới xóm thì trong xóm đã tối lắm. Mặt trời đã lặn, mà ánh hoàng hôn còn sót lại cũng không đủ làm sáng được bóng cây. Cô bé chỉ vào một con ngõ hẹp mở ra đường cái, nói:
"Thưa anh, giờ em phải rẽ lối này."
"Vậy cho tôi đưa cô về tận nhà," Y-tô đáp.
Chàng cùng cô bé rẽ vào ngõ, dò dẫm mà đi chứ chẳng nhìn thấy gì. Nhưng chẳng bao lâu cô bé đã dừng trước một cái cổng nhỏ lờ mờ trong bóng tối. Đó là một cái cổng bằng phên đan, phía sau thấp thoáng ánh đèn của một ngôi nhà.
"Đây là phủ nơi em hầu hạ," cô bé nói. "Anh đã đi lạc đường xa thế này vì em, xin mời anh vào nghỉ chân một lát."
Y-tô nhận lời. Chàng thích lời mời giản dị ấy, lại muốn biết những người dòng dõi cao sang nào đã chọn sống ở một cái xóm hiu quạnh đến thế. Chàng biết đôi khi có những nhà quyền quý rút khỏi chốn quan trường như thế, vì bị triều đình ghét bỏ hay vướng vào chuyện chính sự rắc rối. Chàng đoán những người sống trong ngôi nhà trước mặt hẳn cũng có một cảnh ngộ như vậy.
Qua cái cổng cô bé mở cho, chàng thấy mình đứng trong một khu vườn rộng, bày biện rất lạ mắt. Lờ mờ hiện ra một bức cảnh non nước thu nhỏ, có dòng suối uốn lượn chảy ngang.
"Xin anh chờ cho một chút," cô bé nói. "Em vào báo tin anh tới."
Rồi cô vội vã đi về phía ngôi nhà. Nhà rộng, nhưng trông rất cũ, dựng theo lối của một thời đã xa. Các cửa lùa chưa đóng, nhưng bên trong đèn đuốc sáng trưng đã được che khuất sau một tấm rèm tre rất đẹp buông dọc hành lang. Sau rèm có những cái bóng đi lại, bóng của những người đàn bà. Rồi bỗng tiếng đàn cầm lan trong màn đêm.
Tiếng đàn nhẹ nhàng, ngọt ngào đến nỗi Y-tô khó tin vào tai mình. Lắng nghe, chàng thấy một niềm vui lâng lâng như say ngủ thấm dần vào người, một niềm vui pha lẫn nỗi buồn lạ lùng. Chàng tự hỏi sao lại có người đàn bà nào học được cách đàn như thế. Chàng tự hỏi người đàn có phải là đàn bà không. Chàng còn tự hỏi đây có phải là tiếng nhạc của cõi trần không, vì dường như theo tiếng đàn, một thứ bùa mê đã ngấm vào máu chàng.
Tiếng đàn êm dịu ngưng bặt. Gần như cùng lúc ấy, Y-tô thấy cô bé hầu đã đứng bên cạnh.
"Thưa anh," cô nói, "xin mời anh vào."
Cô dẫn chàng tới cửa. Chàng cởi dép. Một bà già, mà chàng đoán là bà quản gia, ra tận ngưỡng cửa đón chàng. Bà dẫn chàng qua nhiều gian phòng, tới một gian lớn đèn đuốc sáng trưng ở phía sau nhà, cúi chào rất cung kính, rồi mời chàng ngồi vào chỗ danh dự dành cho khách quý.
Chàng ngạc nhiên trước vẻ trang nghiêm của gian phòng và vẻ đẹp lạ lùng của những thứ bày biện. Lát sau, mấy thị nữ mang đồ ăn thức uống vào. Chàng để ý thấy chén bát bày trước mặt đều là đồ quý hiếm, chế tác cầu kỳ, lại có vẽ một hình hiệu cho biết chủ nhân là người thuộc hàng rất cao sang. Chàng càng lúc càng thắc mắc không biết bậc quyền quý nào đã chọn chốn hẻo lánh này mà ở, và chuyện gì đã khiến người ấy muốn sống quạnh hiu như thế.
Nhưng bà già bỗng cắt ngang dòng suy nghĩ của chàng bằng một câu hỏi:
"Tôi đoán không lầm thì ngài là ngài Y-tô ở U-ji, ngài Y-tô Ta-tê-oa-ki Nô-ri-xu-kê, phải không ạ?"
Y-tô cúi đầu nhận. Chàng chưa hề nói tên mình với cô bé hầu, nên câu hỏi làm chàng giật mình.
"Xin ngài đừng cho câu hỏi của tôi là vô lễ," bà già nói tiếp. "Một bà già như tôi có hỏi han thì cũng chẳng phải vì tò mò không phải phép. Lúc ngài vào, tôi thấy như đã biết mặt ngài, nên tôi hỏi tên ngài chỉ để cho hết ngờ, trước khi nói tới chuyện khác. Tôi có một chuyện hệ trọng muốn thưa với ngài.
Ngài vẫn hay đi ngang qua xóm này. Một buổi sáng, cô chủ nhỏ của chúng tôi tình cờ trông thấy ngài đi qua. Từ lúc ấy, cô ngày đêm cứ nghĩ tới ngài. Nghĩ nhiều quá, cô đâm ra ốm, chúng tôi lo cho cô lắm. Vì thế tôi đã tìm cách dò cho ra tên ngài và nơi ngài ở. Tôi đang sắp gửi thư cho ngài, thì thật không ngờ, ngài lại cùng con bé hầu tới tận cổng nhà chúng tôi.
Giờ được gặp ngài, tôi mừng thế nào thật không sao nói hết. Chuyện may mắn quá, cứ như không phải thật! Tôi nghĩ hẳn là nhờ ơn vị thần se duyên ở xứ I-du-mô, vị thần lớn chuyên buộc những mối duyên lành, mới có cuộc gặp gỡ này. Mà giờ duyên may đã đưa ngài tới đây, nếu không có gì ngăn trở mối duyên ấy, có lẽ ngài sẽ không nỡ chối từ làm cho cô chủ nhỏ của chúng tôi được vui lòng?"
Nhất thời Y-tô không biết đáp ra sao. Nếu bà già nói thật, thì chàng đang được trao một cơ hội lạ thường. Phải có một mối tình rất lớn mới khiến con gái một nhà quyền quý tự mình tìm tới một võ sĩ vô danh không chủ, chẳng của cải, chẳng tương lai. Mặt khác, bản tính chàng vốn trọng danh dự, không muốn lợi dụng sự yếu lòng của một người con gái để mưu lợi cho mình. Hơn nữa, mọi chuyện đều bí ẩn tới mức khiến chàng bất an. Nhưng từ chối một lời đề nghị đột ngột như thế thế nào cho phải, điều ấy làm chàng bối rối không ít. Im lặng một lúc, chàng đáp:
"Chẳng có gì ngăn trở cả, vì tôi chưa có vợ, chưa hứa hôn, cũng chẳng vướng víu với người đàn bà nào. Xưa nay tôi sống với cha mẹ, cha mẹ tôi chưa từng bàn tới chuyện vợ con cho tôi. Bà cũng nên biết, tôi chỉ là một võ sĩ nghèo, không được bậc quyền quý nào nâng đỡ, và tôi không muốn lấy vợ trước khi tìm được dịp đổi đời. Còn lời đề nghị bà đã hết sức ưu ái mà ngỏ với tôi, tôi chỉ có thể nói rằng tôi tự biết mình chưa xứng để một tiểu thư cao quý đoái hoài tới."
Bà già mỉm cười như hài lòng về những lời ấy, rồi đáp:
"Khi chưa gặp cô chủ nhỏ của chúng tôi, ngài chớ vội quyết định gì. Có lẽ gặp cô rồi, ngài sẽ chẳng còn ngần ngại nữa. Giờ xin ngài theo tôi, để tôi đưa ngài ra mắt cô."
Bà dẫn chàng sang một gian khách khác còn rộng hơn, nơi tiệc đã bày sẵn. Mời chàng ngồi vào chỗ danh dự xong, bà để chàng ngồi một mình trong chốc lát. Rồi bà trở lại, cùng với cô chủ nhỏ.
Vừa trông thấy cô chủ trẻ, Y-tô lại thấy cái rung động lạ lùng, vừa kinh ngạc vừa sung sướng, mà chàng đã cảm thấy trong vườn lúc nghe tiếng đàn. Chưa bao giờ chàng mơ thấy một người đẹp đến thế. Ánh sáng dường như toả ra từ người nàng, xuyên qua xiêm áo, như ánh trăng xuyên qua làn mây mỏng. Mái tóc buông xoã đung đưa theo mỗi bước nàng đi, như cành liễu rủ lay động trong gió xuân. Đôi môi nàng như hoa đào còn đẫm sương mai. Y-tô sững sờ trước cảnh ấy. Chàng tự hỏi phải chăng mình đang nhìn thấy chính nàng Chức Nữ, người ngồi dệt bên bờ sông Ngân lấp lánh trên trời.
Bà già mỉm cười quay sang người đẹp. Nàng vẫn lặng thinh, mắt nhìn xuống, đôi má ửng hồng. Bà nói:
"Con xem này! Đúng lúc chúng ta ít dám mong nhất, thì chính người con mong gặp lại tự tìm tới. Chuyện may mắn như thế, chỉ có ý trời mới làm nên. Nghĩ tới mà già này mừng phát khóc."
Rồi bà khóc nức nở. Lấy tay áo lau nước mắt xong, bà nói tiếp:
"Nhưng giờ thì, trừ phi có người nào không bằng lòng, mà già này không tin thế đâu, hai con chỉ còn việc thề nguyền với nhau, rồi cùng dự tiệc cưới."
Y-tô không đáp một lời. Cảnh tượng tuyệt diệu trước mắt đã làm ý chí chàng tê dại, lưỡi chàng líu lại. Các thị nữ bưng mâm, bưng rượu vào. Tiệc cưới được dọn ra trước mặt đôi trẻ, và lời thề được trao nhau. Nhưng Y-tô vẫn như người trong mộng. Sự kỳ lạ của cuộc gặp gỡ, vẻ đẹp diệu kỳ của cô dâu vẫn làm chàng choáng ngợp. Một niềm vui chàng chưa từng biết tràn ngập lòng chàng, như một sự im lặng mênh mông.
Nhưng dần dần chàng lấy lại được vẻ điềm tĩnh thường ngày, và thấy mình đã có thể chuyện trò mà không còn lúng túng. Chàng uống rượu thoả thích, và đánh bạo kể lại, bằng giọng vui vẻ, tự giễu mình, những ngờ vực, lo sợ đã đè nặng lên chàng lúc trước. Trong khi đó, cô dâu vẫn lặng lẽ như ánh trăng, không bao giờ ngước mắt lên, mỗi khi chàng nói với nàng chỉ đáp lại bằng một thoáng đỏ mặt hay một nụ cười.
Y-tô nói với bà già:
"Bao nhiêu lần đi dạo một mình, tôi đã đi ngang qua xóm này mà không hề biết có toà nhà quý phái này. Từ lúc bước vào đây, tôi cứ tự hỏi sao một gia đình cao quý lại chọn một nơi hiu quạnh thế này mà ở. Giờ tôi với cô chủ nhỏ của bà đã thề nguyền với nhau rồi, vậy mà tôi vẫn chưa biết tên họ của gia đình cao quý ấy, thật cũng là chuyện lạ."
Nghe câu ấy, một bóng mây lướt qua gương mặt hiền hậu của bà già. Còn cô dâu, người từ nãy gần như chưa nói câu nào, bỗng tái mặt, có vẻ lo âu đau đớn. Im lặng một lúc, bà già đáp:
"Giấu ngài lâu hơn nữa thì khó lắm. Mà tôi nghĩ, dù thế nào thì giờ ngài đã là người nhà, ngài cũng nên được biết sự thật. Vậy xin ngài Y-tô hãy biết rằng, cô dâu của ngài là con gái ngài Si-ghê-hi-ra, vị Tam vị Trung tướng lừng lẫy mà bạc mệnh."
Nghe mấy chữ "ngài Si-ghê-hi-ra, Tam vị Trung tướng", chàng võ sĩ trẻ thấy một luồng lạnh buốt như băng chạy khắp các mạch máu. Si-ghê-hi-ra, vị đại tướng kiêm đại thần lừng danh của nhà Hây-kê, đã thành cát bụi từ mấy trăm năm nay. Và Y-tô chợt hiểu rằng mọi thứ quanh chàng, gian phòng, ánh đèn, bữa tiệc, đều là một giấc mộng của quá khứ. Những người trước mặt chàng không phải là người, mà là bóng của người đã chết.
Nhưng chỉ một thoáng sau, luồng lạnh buốt đã qua. Bùa mê lại trở về, như càng dày thêm quanh chàng, và chàng không thấy sợ nữa. Dù cô dâu của chàng từ cõi suối vàng tìm tới, trái tim chàng đã hoàn toàn thuộc về nàng. Ai cưới một hồn ma thì cũng phải thành ma. Thế nhưng chàng biết mình sẵn lòng chết, không phải một lần mà nhiều lần, chứ không để một lời nói, một ánh mắt nào của mình làm hiện lên dù chỉ một bóng đau buồn trên vầng trán của ảo ảnh tuyệt đẹp trước mặt. Về tấm tình được trao, chàng chẳng chút nghi ngờ. Người ta đã nói thật với chàng, vào lúc mà nếu có ý gì không tốt thì lừa dối chàng còn có lợi hơn.
Những ý nghĩ, những cảm xúc ấy chỉ thoáng qua trong chớp mắt. Chàng quyết định đón nhận cảnh ngộ lạ lùng này đúng như nó đang bày ra, và cư xử đúng như chàng sẽ cư xử nếu được con gái Si-ghê-hi-ra chọn làm chồng vào thời nhà Hây-kê còn hưng thịnh.
"Ôi, thương thay!" chàng thốt lên. "Tôi có nghe kể về số phận nghiệt ngã của ngài Si-ghê-hi-ra."
"Vâng," bà già đáp, vừa nói vừa nức nở, "quả là một số phận nghiệt ngã. Ngài cũng biết đấy, con ngựa của ngài bị trúng tên, ngã đè lên ngài. Ngài kêu cứu, thì những kẻ từng sống nhờ ơn ngài lại bỏ mặc ngài lúc hoạn nạn. Rồi ngài bị bắt, bị giải về Ca-ma-cu-ra. Ở đó chúng làm nhục ngài đủ điều, rồi cuối cùng giết ngài.
Khi ấy vợ ngài và con gái ngài, chính cô bé thân yêu này đây, đang phải trốn tránh, vì khắp nơi người ta đang lùng bắt và giết hại người nhà Hây-kê. Tin ngài Si-ghê-hi-ra chết tới tai, người mẹ đau đớn quá không chịu nổi, thế là đứa bé chẳng còn ai chăm nom ngoài tôi, vì họ hàng cô đều đã chết hết hoặc lưu lạc đâu mất. Cô mới lên năm. Tôi là vú nuôi của cô, tôi lo cho cô được chừng nào hay chừng ấy. Năm này qua năm khác, chúng tôi lang thang hết chốn này sang chốn khác, ăn mặc như người hành hương."
Bà vú lau nước mắt, kêu lên:
"Nhưng kể những chuyện buồn này lúc này thật không phải lúc. Xin ngài thứ cho cái lòng dại dột của một bà già không quên được chuyện cũ. Kìa xem! Cô bé con tôi nuôi nấng nay đã thành một tiểu thư thật sự rồi! Giá như chúng ta còn sống trong những ngày tốt đẹp dưới triều Thiên hoàng Ta-ca-cu-ra, thì số phận nào đang chờ cô! Nhưng thôi, cô đã được người chồng cô mong ước, thế là hạnh phúc lớn nhất rồi. Mà đã khuya lắm rồi. Phòng tân hôn đã sửa soạn xong. Giờ tôi phải để hai con lại với nhau cho tới sáng."
Bà đứng dậy, kéo những tấm vách ngăn gian khách với gian bên cạnh, đưa hai người vào phòng ngủ. Rồi bà nói thêm nhiều lời mừng vui, chúc tụng, rồi lui ra. Còn lại Y-tô một mình với cô dâu.
Lúc hai người nằm bên nhau, Y-tô nói:
"Em yêu, nói anh nghe đi, em mong được lấy anh làm chồng từ bao giờ thế?"
Vì mọi thứ đều có vẻ thật đến nỗi chàng gần như đã thôi nghĩ tới tấm ảo ảnh đang giăng quanh mình.
Nàng đáp, giọng như tiếng chim gáy:
"Chàng ơi, lần đầu tiên em thấy chàng là ở chùa Ích-si-ya-ma, khi em theo vú nuôi tới đó. Và vì thấy chàng, từ giờ phút ấy, cả thế gian với em đã khác hẳn. Nhưng chàng không nhớ đâu, vì lần gặp ấy không phải trong kiếp này của chàng. Đã lâu lắm, lâu lắm rồi. Từ thuở ấy, chàng đã qua bao lần chết đi sinh lại, đã mang bao nhiêu thân xác đẹp đẽ. Còn em vẫn mãi như chàng thấy em bây giờ. Em không thể nhận một thân xác khác, không thể sang một kiếp khác, vì em mong chàng quá. Chàng ơi, em đã chờ chàng qua bao nhiêu đời người."
Nghe những lời lạ lùng ấy, chú rể chẳng chút sợ hãi. Chàng không mong gì hơn trong đời này, và trong mọi kiếp sau, ngoài được vòng tay nàng ôm lấy, được nghe giọng nói êm ái của nàng vuốt ve.
Nhưng tiếng chuông chùa ngân vang báo hiệu trời sắp sáng. Chim chóc bắt đầu líu lo. Gió sớm làm cây cối thầm thì. Bỗng bà vú già kéo bung cửa phòng tân hôn, kêu lên:
"Các con ơi, đến giờ phải chia tay rồi! Trời sáng thì không được ở bên nhau, dù chỉ một khắc. Như thế là chết đấy! Hai con phải từ biệt nhau thôi."
Không nói một lời, Y-tô sửa soạn ra về. Chàng mơ hồ hiểu lời cảnh báo, và hoàn toàn phó mặc cho số phận. Ý chí chàng không còn thuộc về chàng nữa. Chàng chỉ mong làm vui lòng người vợ trong bóng tối của mình.
Nàng đặt vào tay chàng một nghiên mực nhỏ, chạm khắc rất tinh xảo, rồi nói:
"Chàng của em là người học rộng, chắc chàng sẽ không chê món quà nhỏ này. Nó có dáng lạ vì nó cũ, do Thiên hoàng Ta-ca-cu-ra ban cho cha em. Chỉ vì thế mà em coi nó là vật quý."
Đáp lại, Y-tô xin nàng nhận làm kỷ niệm đôi trâm cài vỏ kiếm của chàng, có khảm bạc khảm vàng hình hoa mai và chim oanh.
Rồi cô bé hầu tới dẫn chàng đi qua vườn. Cô dâu cùng bà vú tiễn chàng ra tới ngưỡng cửa. Tới chân bậc thềm, chàng quay lại chào từ biệt. Bà già nói:
"Đến năm Hợi tới, đúng ngày ấy, tháng ấy, giờ ấy như hôm ngài tới đây, chúng ta sẽ gặp lại nhau. Năm nay là năm Dần, vậy ngài sẽ phải chờ mười năm. Nhưng vì những lẽ tôi không được nói ra, chúng ta sẽ không gặp lại nhau ở chốn này được nữa. Chúng tôi sắp dời về gần Ki-ô-tô, nơi đức Thiên hoàng Ta-ca-cu-ra hiền đức cùng cha ông chúng tôi và nhiều người trong họ đang ở. Cả nhà Hây-kê sẽ vui mừng đón ngài tới. Đúng ngày hẹn, chúng tôi sẽ cho kiệu tới rước ngài."
Lúc Y-tô bước qua cổng, sao vẫn còn sáng rực trên xóm. Nhưng ra tới đường cái, chàng thấy bình minh đang rạng lên phía sau những cánh đồng lặng lẽ trải dài hàng dặm. Trong ngực áo, chàng mang theo món quà của vợ. Tiếng nói êm ái của nàng còn vương bên tai. Vậy mà, nếu không có kỷ vật ấy dưới những ngón tay đang dò hỏi của chàng, chàng có thể tự nhủ rằng những gì xảy ra đêm qua chỉ là giấc ngủ, và đời chàng vẫn còn thuộc về chàng.
Nhưng biết chắc rằng mình đã tự định đoạt cái chết cho mình, chàng chẳng hề hối tiếc. Chàng chỉ khổ vì phải xa cách, và vì nghĩ tới bao mùa sẽ phải qua đi trước khi ảo ảnh ấy lại hiện về với chàng. Mười năm! Mà mỗi ngày trong mười năm ấy sẽ dài biết bao! Vì sao phải chờ lâu như thế, chàng không mong gì hiểu được. Đường lối thầm kín của người chết chỉ thần linh mới biết.
Đã bao nhiêu lần, trong những buổi dạo một mình, Y-tô trở lại xóm nhỏ dưới đồi Cô-tô-bi-ki-ya-ma, mơ hồ mong được thoáng thấy quá khứ thêm lần nữa. Nhưng không bao giờ, dù đêm hay ngày, chàng tìm lại được cái cổng quê mùa trong con ngõ tối. Không bao giờ chàng còn thấy bóng cô bé hầu đi một mình trong ánh chiều tà.
Dân xóm, những người chàng hỏi han kỹ lưỡng, cho là chàng bị ma ám. Họ bảo chưa từng có người quyền quý nào sống trong xóm, quanh vùng cũng chưa từng có khu vườn nào như chàng tả. Nhưng ngày xưa, gần chỗ chàng nói, từng có một ngôi chùa lớn, và nay vẫn còn thấy mấy tấm bia mộ trong nghĩa trang của chùa. Y-tô tìm thấy những tấm bia ấy giữa một lùm cây rậm rạp. Bia làm theo kiểu Trung Hoa xưa, phủ đầy rêu và địa y. Chữ khắc trên bia không còn đọc được nữa.
Chuyện của mình, Y-tô không kể với ai. Nhưng bạn bè, họ hàng sớm nhận ra dáng vẻ và cử chỉ của chàng đã thay đổi hẳn. Ngày qua ngày, chàng mỗi lúc một xanh xao, gầy guộc, dù thầy thuốc bảo người chàng chẳng có bệnh gì. Trông chàng như một bóng ma, đi lại như một cái bóng. Chàng vốn trầm tư, ưa cô độc, nhưng giờ chàng dửng dưng với mọi thứ từng làm chàng vui thích, kể cả việc học hành chữ nghĩa, con đường lẽ ra có thể đưa chàng tới danh vọng. Mẹ chàng nghĩ lấy vợ có thể khơi lại chí hướng ngày trước, làm chàng thiết sống trở lại. Nhưng chàng nói với mẹ rằng chàng đã thề không lấy một người đàn bà nào còn sống. Và năm tháng cứ lê thê trôi.
Cuối cùng năm Hợi cũng tới, rồi mùa thu tới. Nhưng Y-tô không còn đi dạo một mình như chàng vẫn ưa nữa. Chàng không còn ngồi dậy nổi. Sự sống trong chàng đang cạn dần, mà không ai đoán ra vì sao. Chàng ngủ li bì, ngủ lâu đến nỗi nhiều khi người ta tưởng chàng đã chết.
Một chiều quang đãng, chàng giật mình tỉnh khỏi một giấc ngủ như thế vì nghe tiếng một đứa trẻ. Chàng thấy bên giường mình chính là cô bé hầu, người mười năm trước đã dẫn chàng tới cổng khu vườn đã biến mất. Cô bé chào chàng, mỉm cười, rồi nói:
"Em được sai tới thưa với anh rằng đêm nay anh sẽ được đón tới Ô-ha-ra, gần Ki-ô-tô, nơi có ngôi nhà mới, và kiệu đã được cho đi rước anh rồi."
Rồi cô bé biến mất.
Y-tô biết mình đang được gọi đi khỏi ánh sáng mặt trời. Nhưng tin ấy làm chàng mừng rỡ tới mức chàng có sức ngồi dậy, gọi mẹ. Lần đầu tiên, chàng kể cho mẹ nghe chuyện đám cưới của mình, và cho mẹ xem nghiên mực chàng được tặng. Chàng xin mẹ đặt nghiên mực vào quan tài cùng chàng. Rồi chàng mất.
Nghiên mực được chôn theo chàng. Nhưng trước khi làm lễ tang, có mấy người sành đồ cổ xem qua nó. Họ nói nó được làm vào thời Giô-an, gần tám trăm năm trước, và có khắc dấu của một nghệ nhân sống dưới triều Thiên hoàng Ta-ca-cu-ra.
— Hết —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ