Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chuyện của ông trưởng vườn

của Anton Chekhov

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.533 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trong nhà kính trồng hoa của dòng họ bá…
  2. 2:10Anh lái buôn đồng tình:
  3. 3:05Một ý tưởng hay.
  4. 4:27Họ nói về ông:
  5. 7:09Cả thị trấn đồng ý với ý kiến ấy.…
  6. 8:23Bị cáo! Toà án xét thấy ngươi phạm tội…
  7. 8:52Đám đông cũng hưởng ứng:

Trong nhà kính trồng hoa của dòng họ bá tước N., người ta đang bán hoa. Khách mua chẳng có mấy: tôi, ông điền chủ hàng xóm của tôi, và một anh lái buôn gỗ trẻ tuổi. Trong khi những người làm công khiêng những món hàng tuyệt đẹp của chúng tôi ra và xếp lên xe, chúng tôi ngồi ở lối vào nhà kính, trò chuyện chuyện này chuyện nọ. Vào một buổi sáng tháng Tư ấm áp, ngồi trong vườn nghe chim hót và ngắm những bông hoa được đưa ra ngoài trời đang lim dim tắm nắng, thật là dễ chịu vô cùng.

Người chỉ huy việc xếp cây là chính ông làm vườn, Mi-kha-in Các-lô-vích, một ông già đáng kính, mặt đầy đặn cạo nhẵn, mặc áo gi-lê lông thú, không khoác áo ngoài. Ông im lặng suốt, nhưng vẫn lắng nghe câu chuyện của chúng tôi, và chờ xem chúng tôi có nói điều gì mới mẻ không. Đó là một người thông minh, rất tốt bụng, ai cũng kính trọng. Chẳng hiểu sao mọi người đều coi ông là người Đức, dù bố ông là người Thuỵ Điển, mẹ là người Nga, và ông đi lễ ở nhà thờ Chính thống. Ông biết tiếng Nga, tiếng Thuỵ Điển và tiếng Đức, đọc nhiều sách bằng cả ba thứ tiếng ấy, và chẳng có gì làm ông vui hơn là được cho mượn một cuốn sách mới, hay được nói chuyện với ông, chẳng hạn về Íp-xen.

Ông cũng có những nhược điểm, nhưng vô hại. Chẳng hạn ông tự gọi mình là trưởng vườn, dù chẳng có người làm vườn nào dưới quyền. Vẻ mặt ông nghiêm trang và kiêu kỳ lạ thường. Ông không chịu được ai cãi lại, và thích người ta nghe ông nói một cách nghiêm túc và chăm chú.

Ông hàng xóm của tôi chỉ vào một người làm công mặt đen sạm vừa đánh xe chở thùng nước đi qua, nói:

— Cái anh chàng kia, tôi xin giới thiệu, là một tên vô lại khủng khiếp. Tuần trước hắn bị xử ở thành phố về tội cướp, và được tha bổng. Người ta xác nhận hắn bị bệnh tâm thần, thế mà các ông nhìn cái bộ mặt hắn xem, khoẻ như vâm. Dạo này ở nước Nga người ta tha bổng bọn vô lại nhiều quá, cái gì cũng giải thích bằng bệnh hoạn và bằng cơn kích động. Thế mà những bản án tha bổng ấy, cái sự dễ dãi, dung túng rành rành ấy, chẳng dẫn đến điều gì tốt đẹp cả. Chúng làm băng hoại đám đông. Ở mọi người, ý thức về công lý đã cùn nhụt đi, vì người ta đã quen nhìn thấy cái ác không bị trừng phạt. Và các ông biết không, về thời đại chúng ta, có thể mạnh dạn mượn lời Sếch-xpia mà nói: "Trong thời buổi độc ác, đồi bại này, đến đức hạnh cũng phải xin lỗi tội ác."

Anh lái buôn đồng tình:

— Đúng thế, đúng thế. Vì toà án cứ tha bổng, nên giết người và đốt nhà nhiều lên hẳn. Các ông cứ thử hỏi nông dân xem.

Ông làm vườn Mi-kha-in Các-lô-vích quay về phía chúng tôi và nói:

— Còn về phần tôi, thưa các ông, tôi bao giờ cũng hân hoan đón nhận những bản án tha bổng. Khi người ta nói "vô tội", tôi không lo cho đạo đức hay cho công lý, mà trái lại, tôi thấy vui. Ngay cả khi lương tâm bảo tôi rằng các vị bồi thẩm tha bổng tên tội phạm là đã nhầm, thì tôi vẫn cứ hân hoan. Các ông thử nghĩ xem: nếu các quan toà và các vị bồi thẩm tin vào con người hơn là tin vào chứng cứ, tang vật và những bài diễn văn, thì chẳng phải chính niềm tin vào con người ấy đã cao hơn mọi toan tính thường tình rồi sao? Tin vào Chúa thì chẳng khó gì. Cả bọn quan toà dị giáo, cả Bi-rôn, cả A-rắc-chê-ép cũng tin vào Chúa. Không, các ông hãy tin vào con người kia! Niềm tin ấy chỉ đến được với số ít những người hiểu và cảm được Chúa Ki-tô.

Tôi nói:

— Một ý tưởng hay.

Ông làm vườn mỉm cười:

— Nhưng đó không phải là ý tưởng mới. Tôi nhớ, từ lâu lắm rồi, tôi còn được nghe cả một truyền thuyết về chuyện này. Một truyền thuyết rất dễ thương. Bà nội tôi đã quá cố, mẹ của bố tôi, một bà cụ tuyệt vời, đã kể cho tôi nghe. Bà kể bằng tiếng Thuỵ Điển, chứ kể bằng tiếng Nga thì sẽ không đẹp bằng, không cổ kính bằng.

Nhưng chúng tôi xin ông cứ kể, và đừng ngại tiếng Nga thô ráp. Rất hài lòng, ông thong thả châm tẩu thuốc, nhìn những người làm công một cách nghiêm khắc, rồi bắt đầu:

— Ở một thị trấn nhỏ nọ, có một ông đã đứng tuổi, sống một mình, mặt mũi chẳng đẹp đẽ gì, đến cư ngụ. Họ ông là Tôm-xơn hay Uyn-xơn gì đó, mà thôi, cũng thế cả. Chuyện không nằm ở cái họ. Ông làm một nghề cao quý: chữa bệnh cho người ta. Lúc nào ông cũng u buồn, ít giao thiệp, chỉ nói khi nghề nghiệp đòi hỏi. Ông không đến chơi nhà ai, chẳng quen biết ai quá một cái cúi chào lặng lẽ, và sống khiêm nhường như một vị ẩn tu. Số là ông là một nhà bác học, mà vào thời ấy, các nhà bác học không giống những người bình thường. Họ dành cả ngày lẫn đêm cho suy tưởng, cho đọc sách và chữa bệnh, còn mọi thứ khác họ coi là tầm thường, và chẳng có thì giờ để nói những lời thừa. Dân thị trấn hiểu rõ điều đó, và cố gắng không làm phiền ông bằng những cuộc thăm viếng và những chuyện tán gẫu vô ích. Họ rất mừng vì rốt cuộc Chúa đã ban cho họ một người biết chữa bệnh, và tự hào rằng trong thị trấn của họ có một con người phi thường như thế.

Họ nói về ông:

— Ông ấy biết hết mọi điều.

Nhưng chừng ấy thì chưa đủ. Còn phải nói thêm: "Ông ấy yêu thương tất cả mọi người!" Trong lồng ngực con người bác học ấy đập một trái tim tuyệt diệu, một trái tim thiên thần. Dù sao đi nữa, dân thị trấn đối với ông cũng là người dưng, chẳng phải ruột thịt, vậy mà ông yêu họ như con, và sẵn sàng hy sinh cả mạng sống vì họ. Chính ông bị bệnh lao, ông ho, nhưng khi người ta gọi ông đến với người ốm, ông quên bệnh của mình, không tiếc thân, và dù thở không ra hơi, vẫn leo lên những ngọn núi, cao đến đâu cũng mặc. Ông chẳng màng nóng nực hay giá rét, coi thường cả đói lẫn khát. Ông không lấy tiền, và lạ một điều, khi có bệnh nhân của ông qua đời, ông cùng gia quyến đi theo quan tài và khóc.

Và chẳng bao lâu, ông trở nên cần thiết với thị trấn đến nỗi dân chúng ngạc nhiên không hiểu trước kia sao họ có thể sống được mà không có con người ấy. Lòng biết ơn của họ không có giới hạn. Người lớn và trẻ con, kẻ tốt người xấu, người lương thiện và kẻ bịp bợm, nói tóm lại, tất cả đều kính trọng ông và biết giá trị của ông. Trong thị trấn và vùng quanh đó, không một ai dám làm điều gì phật lòng ông, thậm chí không ai dám nghĩ đến điều ấy. Ra khỏi nhà, ông chẳng bao giờ khoá cửa ra vào hay cửa sổ, vì hoàn toàn tin chắc rằng không có tên trộm nào lại nỡ xúc phạm ông. Vì bổn phận thầy thuốc, ông thường phải đi trên những con đường lớn, băng qua rừng và núi, nơi đầy rẫy những kẻ lang thang đói khát, nhưng ông cảm thấy hoàn toàn an toàn. Một đêm nọ, ông đi thăm bệnh về, bọn cướp tấn công ông trong rừng. Nhưng nhận ra ông, chúng cung kính bỏ mũ chào và hỏi ông có muốn ăn gì không. Khi ông nói ông đã no rồi, chúng đưa cho ông một chiếc áo choàng ấm và tiễn ông về tận thị trấn, sung sướng vì số phận đã cho chúng một dịp để đền ơn con người hào hiệp ấy dù chỉ chút ít. Rồi sau đó, dĩ nhiên, bà tôi kể rằng cả ngựa, bò và chó cũng biết ông, và khi gặp ông thì tỏ ra mừng rỡ.

Thế mà con người ấy, người tưởng như đã dùng sự thánh thiện của mình mà che chắn khỏi mọi điều ác, người mà ngay cả bọn cướp và những kẻ điên dại cũng mong điều tốt lành, vào một buổi sáng đẹp trời nọ đã được tìm thấy bị giết. Máu me đầm đìa, sọ bị đập vỡ, ông nằm dưới một khe núi, và khuôn mặt nhợt nhạt của ông lộ vẻ ngạc nhiên. Phải, không phải kinh hoàng, mà là ngạc nhiên đã đọng lại trên mặt ông khi ông trông thấy kẻ giết mình trước mặt. Giờ thì các ông có thể hình dung nỗi đau buồn đã xâm chiếm dân thị trấn và cả vùng quanh đó. Mọi người tuyệt vọng, không tin vào mắt mình, tự hỏi: ai lại có thể giết con người này? Các quan toà điều tra vụ án và khám nghiệm xác ông bác sĩ, đã nói thế này: "Ở đây chúng ta có mọi dấu hiệu của một vụ giết người, nhưng vì trên đời không có ai có thể giết ông bác sĩ của chúng ta, nên hiển nhiên ở đây không có chuyện giết người, và tổng thể các dấu hiệu chỉ là một sự tình cờ đơn thuần. Phải cho rằng ông bác sĩ đi trong bóng tối, tự ngã xuống khe núi và bị thương đến chết."

Cả thị trấn đồng ý với ý kiến ấy. Người ta chôn cất ông bác sĩ, và chẳng ai còn nói đến cái chết vì bạo lực nữa. Sự tồn tại của một con người đủ đê tiện và ghê tởm để giết ông bác sĩ, thật không thể tin được. Bởi vì sự ghê tởm cũng phải có giới hạn của nó. Có phải thế không?

Nhưng bỗng nhiên, các ông cứ tưởng tượng xem, sự tình cờ dẫn người ta đến kẻ giết người. Người ta trông thấy một gã vô lại, đã nhiều lần ra toà, nổi tiếng vì lối sống trác táng, đang bán lấy tiền uống rượu trong quán cái hộp đựng thuốc lá và chiếc đồng hồ của ông bác sĩ. Khi người ta bắt đầu chất vấn, hắn bối rối và nói một lời dối trá rành rành. Người ta khám nhà hắn và tìm thấy trên giường một chiếc áo sơ mi tay áo đẫm máu, và con dao mổ nạm vàng của ông bác sĩ. Còn cần chứng cứ gì hơn nữa? Tên ác ôn bị tống vào tù. Dân thị trấn phẫn nộ, nhưng đồng thời lại nói:

— Không thể tin được! Không thể nào! Coi chừng kẻo lại nhầm. Vì vẫn có những khi chứng cứ nói sai sự thật!

Trước toà, kẻ giết người một mực chối tội. Mọi thứ đều chống lại hắn, và tin chắc hắn có tội cũng dễ như tin rằng đất này màu đen. Nhưng các quan toà cứ như phát điên: họ cân nhắc mỗi chứng cứ đến mười lần, ngờ vực nhìn các nhân chứng, đỏ mặt, uống nước… Phiên toà bắt đầu từ sáng sớm và mãi đến tối mới kết thúc.

Viên chánh án nói với kẻ giết người:

— Bị cáo! Toà án xét thấy ngươi phạm tội giết bác sĩ tên là thế này thế nọ, và tuyên phạt ngươi…

Viên chánh án định nói "tử hình", nhưng tờ giấy ghi bản án rơi khỏi tay ông. Ông lau mồ hôi lạnh và kêu lên:

— Không! Nếu tôi xử sai, xin Chúa trừng phạt tôi, nhưng tôi thề rằng hắn không có tội! Tôi không thể chấp nhận ý nghĩ rằng lại có một con người dám giết người bạn của chúng ta là ông bác sĩ! Con người không thể sa đoạ đến thế!

Các quan toà khác đồng tình:

— Phải, không có con người như thế.

Đám đông cũng hưởng ứng:

— Không có! Thả hắn ra!

Người ta thả kẻ giết người ra, muốn đi đâu thì đi, và không một ai trách các quan toà là bất công. Và bà tôi kể rằng vì niềm tin như thế vào con người, Chúa đã tha thứ tội lỗi cho tất cả dân thị trấn. Chúa vui mừng khi người ta tin rằng con người là hình ảnh của Ngài, và đau buồn khi người ta quên mất phẩm giá con người mà phán xét con người còn tệ hơn phán xét loài chó. Cứ cho là bản án tha bổng ấy đem lại tai hại cho dân thị trấn đi, nhưng bù lại, các ông thử nghĩ xem, niềm tin vào con người ấy đã có ảnh hưởng tốt đẹp đến họ biết bao. Một niềm tin không bao giờ là thứ chết. Nó nuôi dưỡng trong chúng ta những tình cảm cao thượng và luôn thôi thúc ta yêu thương và kính trọng mỗi con người. Mỗi con người! Và đó mới là điều quan trọng.

Mi-kha-in Các-lô-vích kể xong. Ông hàng xóm của tôi định nói gì đó để cãi lại, nhưng ông trưởng vườn làm một cử chỉ ra ý rằng ông không thích bị cãi, rồi đi về phía mấy chiếc xe, và với vẻ mặt trang nghiêm, tiếp tục lo việc xếp hoa lên xe.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Рассказ старшего садовника, 1894
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →