Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chuyện xảy ra ở cầu Suối Cú

của Ambrose Bierce

⏱ 18 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 19.760 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một người đàn ông đứng trên một cây cầu…
  2. 4:32Anh mở mắt, lại nhìn thấy mặt nước bên…
  3. 6:42Từ đây tới cầu Suối Cú bao xa? –…
  4. 7:06Người lính ngẫm nghĩ.
  5. 9:16Anh không ý thức được mình đang cố sức,…
  6. 12:14Một dòng xoáy ngược đã cuốn lấy Pha-quơ, xoay…
  7. 13:46"Viên sĩ quan," anh suy luận, "sẽ không mắc…
  8. 15:55Suốt ngày hôm ấy anh đi, định hướng theo…

Một người đàn ông đứng trên một cây cầu đường sắt ở miền bắc bang A-la-ba-ma, nhìn xuống dòng nước xiết bên dưới, cách chừng sáu mét. Hai tay anh để sau lưng, cổ tay bị trói bằng một sợi dây. Một sợi thừng tròng sát quanh cổ anh. Nó được buộc vào một thanh xà ngang chắc chắn trên đầu, phần dây chùng buông xuống ngang đầu gối. Vài tấm ván rời đặt trên những thanh tà vẹt đỡ đường ray làm chỗ đứng cho anh và những kẻ hành hình: hai binh nhì quân Liên bang, dưới sự chỉ huy của một viên trung sĩ mà hồi còn làm dân thường có lẽ là phó cảnh sát trưởng. Cách đó một quãng ngắn, trên cùng cái bục tạm ấy, là một sĩ quan mặc quân phục theo cấp bậc, có mang vũ khí. Ông ta là một đại uý. Ở mỗi đầu cầu có một lính gác đứng, súng trường trong tư thế gọi là "nâng súng", nghĩa là dựng thẳng trước vai trái, búa súng tựa lên cẳng tay đặt ngang ngực, một tư thế nghi thức và không tự nhiên, buộc người đứng phải thẳng lưng. Có vẻ hai người này không có nhiệm vụ phải biết chuyện gì đang diễn ra ở giữa cầu. Họ chỉ chặn hai đầu lối đi bằng ván bắc ngang cầu.

Phía sau một trong hai người lính gác chẳng thấy ai. Đường ray chạy thẳng vào rừng chừng trăm mét, rồi uốn cong và khuất tầm mắt. Hẳn xa hơn nữa có một tiền đồn. Bờ bên kia suối là đất trống, một con dốc thoai thoải, trên đỉnh là một hàng rào luỹ bằng những thân cây dựng đứng, có khoét lỗ châu mai, với một lỗ pháo duy nhất, từ đó chìa ra nòng một khẩu đại bác bằng đồng khống chế cây cầu. Ở lưng chừng dốc giữa cầu và đồn là những người chứng kiến: một đại đội bộ binh đứng thành hàng, trong tư thế nghỉ, báng súng chống đất, nòng hơi ngả về phía sau tựa vào vai phải, hai tay bắt chéo trên báng. Một trung uý đứng ở đầu bên phải hàng quân, mũi gươm chống xuống đất, tay trái đặt lên tay phải. Trừ nhóm bốn người ở giữa cầu, không ai nhúc nhích. Đại đội đứng quay mặt về phía cầu, nhìn trân trân, bất động như đá. Hai lính gác quay mặt về hai bờ suối, có thể là hai bức tượng trang trí cho cây cầu. Viên đại uý khoanh tay đứng im lặng quan sát cấp dưới làm việc, không ra dấu gì. Tử thần là một nhân vật quyền quý, khi đã được báo trước sắp tới thì phải được đón tiếp bằng những biểu hiện kính trọng trang nghiêm, ngay cả với những kẻ quen thân với ngài nhất. Theo lễ nghi quân đội, im lặng và bất động là những hình thức tôn kính.

Người đàn ông đang bận bị treo cổ có vẻ chừng ba mươi lăm tuổi. Anh là một thường dân, nếu xét theo trang phục, vốn là kiểu ăn mặc của một chủ đồn điền. Nét mặt anh dễ coi: mũi thẳng, miệng cương nghị, trán rộng, mái tóc dài sẫm màu chải ngược ra sau, buông xuống sau tai tới cổ chiếc áo khoác dài vừa vặn. Anh để ria mép và râu cằm nhọn, nhưng không để râu quai nón. Đôi mắt anh to, màu xám sẫm, có một vẻ hiền hậu mà người ta khó ngờ thấy ở một kẻ đang bị tròng thừng vào cổ. Rõ ràng đây không phải một tên sát nhân tầm thường. Luật quân sự rộng rãi có quy định treo cổ nhiều loại người, và những người lịch sự cũng không bị loại trừ.

Chuẩn bị xong xuôi, hai người lính bước sang bên, mỗi người rút tấm ván mình vừa đứng đi. Viên trung sĩ quay sang viên đại uý, chào, rồi đứng ngay sau lưng ông ta. Viên đại uý đến lượt mình bước sang bên một bước. Những động tác ấy khiến người tử tù và viên trung sĩ đứng ở hai đầu của cùng một tấm ván, bắc qua ba thanh tà vẹt của cây cầu. Đầu ván người thường dân đứng gần chạm tới thanh thứ tư, nhưng không hẳn tới. Lúc nãy tấm ván được giữ yên nhờ sức nặng của viên đại uý. Giờ nó được giữ yên nhờ sức nặng của viên trung sĩ. Theo hiệu lệnh của người trước, người sau sẽ bước sang bên, tấm ván sẽ bật nghiêng, và người tử tù sẽ rơi xuống giữa hai thanh tà vẹt. Theo phán đoán của chính anh, cách sắp đặt ấy đơn giản và hiệu quả. Mặt anh không bị trùm, mắt không bị bịt. Anh nhìn một lát cái chỗ đứng chênh vênh của mình, rồi để mắt lơ đãng nhìn dòng nước xoáy đang lao như điên dưới chân. Một khúc gỗ trôi nhảy nhót thu hút sự chú ý của anh, và mắt anh dõi theo nó trôi xuôi dòng. Nó có vẻ trôi chậm làm sao! Dòng suối mới lờ đờ làm sao!

Anh nhắm mắt lại để dồn những ý nghĩ cuối cùng vào vợ con. Mặt nước được nắng sớm nhuộm vàng, làn sương lẩn quất dưới chân bờ ở xa phía hạ lưu, cái đồn, những người lính, khúc gỗ trôi, tất cả đã làm anh phân tâm. Và giờ anh lại nhận ra một điều mới làm anh xao lãng. Xuyên qua ý nghĩ về những người thân yêu là một âm thanh mà anh không thể làm ngơ mà cũng không hiểu nổi, một tiếng gõ kim loại sắc, rõ, như tiếng búa thợ rèn nện lên đe, cũng ngân vang như thế. Anh tự hỏi đó là tiếng gì, ở xa tít tắp hay ngay gần, vì nó có vẻ vừa xa vừa gần. Nó lặp lại đều đặn, nhưng chậm như tiếng chuông báo tử. Anh chờ từng tiếng với vẻ sốt ruột và, chẳng hiểu vì sao, với nỗi sợ hãi. Những quãng lặng giữa các tiếng mỗi lúc một dài ra. Sự chờ đợi trở nên điên dại. Càng thưa, những âm thanh ấy càng mạnh hơn, sắc hơn. Chúng làm tai anh đau như bị dao đâm. Anh sợ mình sẽ hét lên. Thứ anh nghe thấy là tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ đeo người.

Anh mở mắt, lại nhìn thấy mặt nước bên dưới. "Giá mà mình gỡ được tay ra," anh nghĩ, "mình có thể hất cái thòng lọng ra mà nhảy xuống suối. Lặn xuống thì tránh được đạn, rồi bơi thật mạnh tới bờ, chạy vào rừng mà trốn về nhà. Tạ ơn Chúa, nhà mình hiện vẫn còn ở ngoài phòng tuyến của chúng. Vợ con mình vẫn còn ở xa hơn chỗ xa nhất mà quân xâm lược tiến tới."

Những ý nghĩ ấy, ở đây phải viết ra thành lời, thật ra chỉ loé lên trong óc người tử tù chứ không phải được anh nghĩ ra từng bước. Đúng lúc ấy viên đại uý gật đầu với viên trung sĩ. Viên trung sĩ bước sang bên.

Pây-tơn Pha-quơ là một chủ đồn điền khá giả, thuộc một dòng họ lâu đời và rất được kính trọng ở A-la-ba-ma. Là chủ nô, và cũng như những chủ nô khác là một người làm chính trị, đương nhiên anh là một người ủng hộ ly khai từ đầu, hăng hái hiến mình cho sự nghiệp của miền Nam. Vì những hoàn cảnh bắt buộc mà không cần kể ra đây, anh đã không thể gia nhập đạo quân dũng cảm từng đánh những chiến dịch thảm hại kết thúc bằng việc thất thủ Cô-rinh. Anh bực bội với sự kìm hãm chẳng vẻ vang gì ấy, khao khát được giải phóng nghị lực của mình, được sống cuộc đời rộng lớn hơn của người lính, được có cơ hội lập công. Anh cảm thấy cơ hội ấy sẽ tới, như nó tới với mọi người trong thời chiến. Trong lúc chờ đợi, anh làm những gì mình có thể. Không có việc gì quá hèn mọn để anh không làm nhằm giúp miền Nam, không có cuộc phiêu lưu nào quá nguy hiểm để anh không dám dấn thân, miễn là hợp với tư cách một thường dân nhưng trong lòng là một người lính, và là người thành thật, chẳng mấy dè dặt, đồng ý ít ra với một phần cái câu châm ngôn gian ác một cách thẳng thừng: trong tình yêu và chiến tranh, mọi thủ đoạn đều chính đáng.

Một buổi tối, trong lúc Pha-quơ và vợ đang ngồi trên chiếc ghế dài mộc mạc gần lối vào điền trang, một người lính mặc quân phục xám phi ngựa tới cổng, xin một cốc nước. Bà Pha-quơ chỉ quá vui lòng được tự tay mình mời anh ta. Trong lúc bà đi lấy nước, chồng bà tới gần người kỵ sĩ bụi bặm, háo hức hỏi tin tức ngoài mặt trận.

– Bọn miền Bắc đang sửa lại đường sắt, – người kia nói, – và chuẩn bị cho một đợt tiến quân nữa. Chúng đã tới cầu Suối Cú, sửa sang lại nó và xây một hàng rào luỹ ở bờ bắc. Viên chỉ huy đã ra một mệnh lệnh, dán khắp nơi, tuyên bố rằng bất cứ thường dân nào bị bắt quả tang phá hoại đường sắt, cầu, đường hầm hay tàu hoả sẽ bị treo cổ ngay lập tức. Chính tôi đã thấy mệnh lệnh ấy.

– Từ đây tới cầu Suối Cú bao xa? – Pha-quơ hỏi.

– Chừng năm mươi cây số.

– Ở bờ bên này suối không có quân nào à?

– Chỉ có một trạm gác tiền tiêu cách đó gần một cây số, trên đường sắt, và một lính gác duy nhất ở đầu cầu bên này.

– Giả sử có một người, một thường dân có nghiên cứu về chuyện treo cổ, – Pha-quơ mỉm cười nói, – lẩn tránh được trạm gác và có lẽ khống chế được người lính gác, thì anh ta có thể làm được gì?

Người lính ngẫm nghĩ.

– Tôi đã ở đó một tháng trước, – anh ta đáp. – Tôi để ý thấy trận lụt mùa đông năm ngoái đã dồn cả một đống gỗ trôi lớn vào trụ cầu bằng gỗ ở đầu bên này. Giờ nó đã khô, mà bắt lửa thì cháy như bùi nhùi.

Lúc ấy bà chủ đã mang nước tới, và người lính uống. Anh ta lễ phép cảm ơn bà, cúi chào chồng bà, rồi phi ngựa đi. Một giờ sau, khi trời đã tối, anh ta lại đi qua đồn điền, nhưng đi về phía bắc, theo hướng anh ta vừa tới. Anh ta là một lính trinh sát của quân Liên bang.

Khi Pây-tơn Pha-quơ rơi thẳng xuống qua cây cầu, anh mất ý thức, như một người đã chết. Anh tỉnh lại, sau một quãng mà anh tưởng như dài hàng thế kỷ, vì cơn đau của một sức ép buốt nhói trên cổ họng, tiếp theo là cảm giác ngạt thở. Những cơn đau nhói, buốt thấu dường như bắn từ cổ xuống khắp mọi thớ thịt trên thân mình và chân tay anh. Chúng như loé dọc theo những đường phân nhánh rõ rệt, và đập theo một nhịp nhanh không tưởng tượng nổi. Chúng như những dòng lửa phập phồng nung anh tới mức nóng không chịu nổi. Còn đầu anh thì anh chỉ thấy căng đầy, nghẹt cứng. Những cảm giác ấy không kèm theo ý nghĩ nào. Phần lý trí trong anh đã bị xoá sạch. Anh chỉ còn khả năng cảm thấy, mà cảm thấy là cực hình. Anh ý thức được mình đang chuyển động. Bao bọc trong một đám mây sáng chói, mà giờ anh chỉ là trái tim rực lửa của nó, không có chút thực thể vật chất nào, anh đung đưa theo những vòng cung không tưởng tượng nổi, như một con lắc khổng lồ. Rồi bất thình lình, đột ngột khủng khiếp, ánh sáng quanh anh vụt bay lên kèm một tiếng ùm lớn. Một tiếng gầm kinh hoàng dội vào tai anh, và tất cả lạnh giá, tối đen.

Khả năng suy nghĩ trở lại. Anh biết sợi thừng đã đứt và anh đã rơi xuống suối. Không có thêm sự ngạt thở nào. Cái thòng lọng quanh cổ vốn đã làm anh nghẹt thở, giờ lại ngăn nước vào phổi. Chết vì treo cổ dưới đáy sông! Ý nghĩ ấy làm anh thấy buồn cười. Anh mở mắt trong bóng tối, thấy phía trên một tia sáng, nhưng xa làm sao, không với tới được làm sao! Anh vẫn đang chìm xuống, vì ánh sáng mỗi lúc một mờ đi, cho tới khi chỉ còn le lói. Rồi nó bắt đầu lớn dần, sáng dần, và anh biết mình đang nổi lên mặt nước. Biết mà không muốn, vì lúc ấy anh đang rất dễ chịu. "Bị treo cổ rồi chết đuối," anh nghĩ, "thế cũng không đến nỗi. Nhưng mình không muốn bị bắn. Không, mình sẽ không để bị bắn. Như thế là không công bằng."

Anh không ý thức được mình đang cố sức, nhưng một cơn đau buốt ở cổ tay báo cho anh biết mình đang cố gỡ tay ra. Anh chú ý tới cuộc vật lộn ấy như một kẻ nhàn rỗi xem trò ảo thuật, chẳng mấy quan tâm tới kết quả. Cố gắng mới tuyệt vời làm sao! Sức mạnh mới phi thường, siêu phàm làm sao! A, cố gắng hay lắm! Hoan hô! Sợi dây rơi ra. Hai cánh tay anh tách ra, nổi lên, hai bàn tay lờ mờ hiện ra ở hai bên trong ánh sáng đang sáng dần. Anh nhìn chúng với một sự quan tâm mới, khi đầu tiên tay này rồi tay kia chộp lấy cái thòng lọng ở cổ. Chúng giật nó ra, hung hăng hất nó sang bên, nó uốn éo như một con rắn nước.

"Đeo lại đi, đeo lại đi!" Anh tưởng mình đã hét lên những lời ấy với hai bàn tay, vì gỡ thòng lọng ra xong là tới một cơn đau ghê gớm nhất anh từng chịu. Cổ anh nhức nhối khủng khiếp. Óc anh như bốc lửa. Tim anh, vốn đang đập yếu ớt, bỗng nhảy mạnh một cái, như cố chui ra khỏi miệng. Toàn thân anh bị giày vò, vặn xoắn trong một nỗi đau đớn không chịu nổi! Nhưng hai bàn tay không vâng lời chẳng thèm nghe lệnh. Chúng quạt nước mạnh mẽ bằng những nhát nhanh, hướng xuống, đẩy anh lên mặt nước. Anh cảm thấy đầu mình nhô lên. Mắt anh loá đi vì ánh nắng. Ngực anh phồng lên co giật, và với một cơn đau tột cùng, phổi anh nuốt chửng một hơi không khí lớn, rồi lập tức thở ra thành một tiếng thét!

Giờ anh đã làm chủ hoàn toàn các giác quan. Thật ra chúng còn nhạy bén và tỉnh táo khác thường. Một điều gì đó trong cơn xáo trộn khủng khiếp của cơ thể đã nâng chúng lên, mài giũa chúng tinh tế đến nỗi chúng ghi nhận cả những thứ trước đây chưa bao giờ nhận thấy. Anh cảm thấy những gợn sóng trên mặt, nghe thấy tiếng từng gợn khi chúng vỗ vào. Anh nhìn khu rừng trên bờ suối, thấy từng cây riêng biệt, từng chiếc lá, từng đường gân trên mỗi chiếc lá, thấy cả những con côn trùng trên đó: châu chấu, những con ruồi mình óng ánh, những con nhện xám đang giăng tơ từ cành này sang cành kia. Anh nhận ra những màu sắc cầu vồng trong mọi giọt sương trên hàng triệu ngọn cỏ. Tiếng vo ve của những con muỗi nhỏ nhảy múa trên những xoáy nước, tiếng đập cánh của những con chuồn chuồn, những nhịp chân của những con nhện nước, như những mái chèo đã nâng con thuyền của chúng lên, tất cả tạo thành một bản nhạc nghe được. Một con cá lướt qua dưới mắt anh, và anh nghe thấy tiếng thân nó rẽ nước.

Anh nổi lên, mặt quay về phía hạ lưu. Trong khoảnh khắc, thế giới hữu hình dường như từ từ xoay tròn, mà chính anh là trục quay, và anh thấy cây cầu, cái đồn, những người lính trên cầu, viên đại uý, viên trung sĩ, hai binh nhì, những kẻ hành hình anh. Họ in bóng trên nền trời xanh. Họ la hét, khoa tay múa chân, chỉ về phía anh. Viên đại uý đã rút súng lục, nhưng không bắn. Những người khác không có vũ khí. Cử động của họ kỳ quặc và ghê rợn, hình dáng họ khổng lồ.

Bỗng anh nghe một tiếng nổ chát chúa, và một vật gì đập mạnh xuống nước cách đầu anh vài phân, bắn nước toé lên mặt anh. Anh nghe tiếng nổ thứ hai, và thấy một trong hai lính gác đang kề súng lên vai, một làn khói xanh nhẹ bốc lên từ nòng súng. Người dưới nước thấy con mắt của người trên cầu đang nhìn thẳng vào mắt mình qua thước ngắm của khẩu súng. Anh nhận thấy đó là một con mắt màu xám, và nhớ mình từng đọc thấy rằng mắt xám là tinh nhất, mọi tay thiện xạ nổi tiếng đều có mắt xám. Vậy mà người này đã bắn trượt.

Một dòng xoáy ngược đã cuốn lấy Pha-quơ, xoay anh nửa vòng. Anh lại nhìn vào khu rừng trên bờ đối diện với đồn. Một giọng nói cao, trong, ê a đều đều vang lên sau lưng anh, vọng qua mặt nước rõ ràng đến nỗi nó xuyên qua và át mọi âm thanh khác, kể cả tiếng sóng vỗ trong tai anh. Dù không phải lính, anh đã lui tới các doanh trại đủ nhiều để biết ý nghĩa đáng sợ của cái giọng hô chậm rãi, kéo dài, bật hơi ấy. Viên trung uý trên bờ đang góp tay vào công việc buổi sáng. Những lời tàn nhẫn ấy vang lên lạnh lùng, nhẫn tâm làm sao, với một âm điệu đều đều, bình thản, báo trước và buộc người lính phải bình tĩnh, với những quãng ngắt đo đếm chính xác làm sao:

– Đại đội, chú ý! Vác súng! Chuẩn bị! Ngắm! Bắn!

Pha-quơ lặn xuống, lặn sâu hết mức có thể. Nước gầm lên trong tai anh như tiếng thác Ni-a-ga-ra, vậy mà anh vẫn nghe tiếng sấm nghèn nghẹn của loạt đạn. Và khi lại nổi lên, anh gặp những mẩu kim loại sáng lấp lánh, bẹp dí một cách kỳ lạ, đang chao chao chìm xuống. Vài mẩu chạm vào mặt và tay anh, rồi rơi đi, tiếp tục chìm. Một mẩu mắc vào giữa cổ áo và cổ anh. Nó nóng đến khó chịu, và anh giật nó ra.

Khi trồi lên mặt nước, thở hổn hển, anh thấy mình đã ở dưới nước rất lâu. Anh đã trôi xuôi dòng xa hơn hẳn, gần chỗ an toàn hơn. Đám lính đã gần nạp đạn xong. Những que thông nòng bằng kim loại cùng loé lên dưới nắng khi được rút khỏi nòng súng, xoay vòng trên không rồi cắm vào chỗ. Hai người lính gác lại bắn, mỗi người một phát riêng, và đều trượt.

Kẻ bị săn đuổi nhìn thấy tất cả những điều ấy qua vai. Giờ anh đang bơi mạnh xuôi theo dòng nước. Óc anh cũng hăng hái như chân tay. Anh nghĩ nhanh như chớp.

"Viên sĩ quan," anh suy luận, "sẽ không mắc lại cái lỗi của kẻ máy móc ấy lần nữa đâu. Tránh một loạt đạn cũng dễ như tránh một phát. Hẳn hắn đã ra lệnh cho bắn tự do rồi. Chúa ơi, cứu con, con không tránh hết được!"

Một tiếng ùm kinh hoàng cách anh chưa đầy hai mét, theo sau là một tiếng ào ào lớn, nhỏ dần, như bay ngược qua không trung về phía đồn, rồi tắt trong một tiếng nổ làm rung chuyển con sông tới tận đáy! Một tấm màn nước dựng lên cong qua đầu anh, đổ ập xuống anh, làm anh mù mắt, nghẹt thở! Khẩu đại bác đã nhập cuộc. Khi anh lắc đầu thoát khỏi cơn xáo động của mặt nước bị đạn đánh trúng, anh nghe viên đạn nảy đi rít vo vo trong không trung phía trước, và chỉ trong nháy mắt nó đã bẻ gãy, đập nát cành cây trong khu rừng xa.

"Chúng sẽ không bắn thế nữa đâu," anh nghĩ. "Lần sau chúng sẽ bắn đạn chùm. Mình phải để mắt tới khẩu pháo. Khói sẽ báo cho mình biết. Tiếng nổ tới quá muộn, nó đi sau viên đạn. Khẩu pháo tốt đấy."

Bỗng anh thấy mình bị xoay tròn, xoay mãi, quay như con quay. Nước, bờ, rừng, cây cầu giờ đã ở xa, cái đồn và những người lính, tất cả lẫn lộn, nhoè đi. Mọi vật chỉ còn hiện ra bằng màu sắc của chúng. Những vệt màu nằm ngang xoay tròn, đó là tất cả những gì anh thấy. Anh đã bị cuốn vào một xoáy nước, quay cuồng đi với tốc độ vừa tiến vừa xoay khiến anh chóng mặt, buồn nôn. Một lát sau, anh bị hất lên bãi sỏi dưới chân bờ trái của dòng suối, bờ phía nam, sau một mỏm đất nhô ra che anh khỏi tầm mắt kẻ thù. Việc dừng lại đột ngột, một bàn tay bị trầy trên sỏi, làm anh tỉnh lại, và anh khóc vì sung sướng. Anh cắm ngón tay vào cát, vốc từng nắm tung lên người, và lẩm bẩm chúc phúc cho nó thành tiếng. Trông nó như kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo. Anh không nghĩ ra được thứ gì đẹp mà nó không giống. Cây cối trên bờ là những cây vườn khổng lồ. Anh nhận thấy chúng được sắp xếp theo một trật tự rõ ràng, hít hương thơm từ hoa của chúng. Một thứ ánh sáng hồng kỳ lạ rọi qua những khoảng trống giữa các thân cây, và gió làm nên trong cành lá tiếng nhạc của những cây đàn gió. Anh chẳng muốn trốn cho xong, chỉ muốn ở lại chốn mê hồn này cho tới khi bị bắt lại.

Một tiếng rít và tiếng lách cách của đạn chùm giữa những cành cây trên cao đánh thức anh khỏi giấc mơ. Gã pháo thủ bị hụt đã bắn một phát chào từ biệt bừa bãi. Anh bật dậy, lao lên bờ dốc, chạy vào rừng.

Suốt ngày hôm ấy anh đi, định hướng theo đường đi của mặt trời. Khu rừng có vẻ dài vô tận. Không ở đâu anh thấy một khoảng trống, ngay cả một lối mòn của người đốn củi cũng không. Anh chưa từng biết mình sống ở một vùng hoang vu đến thế. Có điều gì đó rờn rợn trong điều mới nhận ra ấy.

Khi đêm xuống, anh mệt rã rời, đau chân, đói lả. Ý nghĩ về vợ con thúc anh đi tiếp. Cuối cùng anh tìm thấy một con đường dẫn đúng hướng anh biết là phải đi. Nó rộng và thẳng như một con phố trong thành phố, vậy mà có vẻ chẳng có ai đi. Không có ruộng đồng nào hai bên, không có nhà cửa ở đâu cả. Chẳng có lấy một tiếng chó sủa gợi ra có người ở. Những thân cây đen kịt tạo thành hai bức tường thẳng hai bên, gặp nhau thành một điểm ở chân trời, như một hình vẽ trong bài học về luật xa gần. Trên đầu, khi anh nhìn lên qua khe hở giữa rừng ấy, những ngôi sao vàng lớn sáng rực, trông lạ lẫm, hợp thành những chòm sao kỳ lạ. Anh tin chắc chúng được sắp xếp theo một trật tự nào đó mang ý nghĩa bí mật và hiểm độc. Rừng hai bên đầy những tiếng động lạ, trong đó một lần, hai lần, rồi lần nữa, anh nghe rõ những tiếng thì thầm bằng một thứ tiếng không ai biết.

Cổ anh đau nhức, và đưa tay lên sờ, anh thấy nó sưng vù khủng khiếp. Anh biết có một vòng đen ở chỗ sợi thừng đã làm bầm tím. Mắt anh căng tức, anh không nhắm lại được nữa. Lưỡi anh sưng lên vì khát. Anh làm dịu cơn sốt của nó bằng cách thè nó ra giữa hai hàm răng, vào không khí lạnh. Cỏ mới êm ái làm sao, trải thảm trên con đường không người đi ấy. Anh không còn cảm thấy mặt đường dưới chân nữa!

Hẳn là dù đau đớn, anh đã ngủ thiếp đi trong khi đang bước, vì giờ đây anh thấy một cảnh khác. Có lẽ anh vừa tỉnh khỏi một cơn mê sảng. Anh đứng trước cổng nhà mình. Mọi thứ vẫn y như lúc anh ra đi, tất cả rực rỡ và tươi đẹp dưới nắng mai. Hẳn anh đã đi suốt đêm. Khi anh đẩy cổng bước lên lối đi rộng trắng phau, anh thấy một tà áo phụ nữ phấp phới. Vợ anh, tươi tắn, mát mẻ và dịu dàng, bước xuống khỏi hiên nhà để đón anh. Tới chân bậc thềm, chị đứng chờ, với một nụ cười vui sướng khôn tả, một dáng điệu duyên dáng và đoan trang không ai sánh kịp. Ôi, chị mới đẹp làm sao! Anh lao tới, dang rộng hai tay. Ngay lúc sắp ôm lấy chị, anh cảm thấy một cú đánh choáng váng vào gáy. Một ánh sáng trắng loá mắt bùng lên khắp xung quanh anh, kèm một tiếng như tiếng đại bác nổ. Rồi tất cả là bóng tối và im lặng!

Pây-tơn Pha-quơ đã chết. Thi thể anh, cổ gãy gập, khẽ đung đưa qua lại bên dưới những thanh xà của cầu Suối Cú.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAmbrose Bierce (1842 – 1914)
Năm mất1914
Xuất bản lần đầu1890
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: An Occurrence at Owl Creek Bridge, Ambrose Bierce, 1890; bản in trong The Collected Works of Ambrose Bierce, tập 2, In the Midst of Life (Project Gutenberg số 13334)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →