Che-rô-ki là cha đẻ của thị trấn Gõ Kiến Vàng. Gõ Kiến Vàng là một thị trấn mỏ mới dựng, chủ yếu bằng vải bạt và gỗ thông chưa bào. Che-rô-ki là dân đi dò vàng. Một hôm, trong khi con lừa của ông đang gặm thạch anh với quả thông, Che-rô-ki dùng cuốc lật lên được một thỏi vàng nặng ba mươi ao-xơ. Ông cắm mốc nhận đất, rồi, vốn là người rộng lượng và hiếu khách, ông gửi lời mời bạn bè ở ba bang tới chia vận may với mình.
Không một vị khách nào từ chối. Họ ùn ùn kéo tới từ vùng sông Hi-la, từ sông Muối, từ sông Pê-cốt, từ An-bu-kơ-kơ, Phê-ních, Xan-ta Phê, và từ các trại nằm giữa những nơi ấy.
Khi một nghìn công dân đã tới và nhận đất, họ đặt tên thị trấn là Gõ Kiến Vàng, lập một uỷ ban trật tự, và tặng Che-rô-ki một sợi dây đồng hồ làm bằng vàng cục.
Ba tiếng sau lễ trao tặng, mỏ của Che-rô-ki cạn. Ông chỉ gặp một túi vàng chứ không phải một mạch vàng. Ông bỏ nó, rồi lần lượt cắm mốc những chỗ khác. Vận may đã hôn gió chào tạm biệt ông. Từ đó về sau, ở Gõ Kiến Vàng, ông không bao giờ đãi được đủ bụi vàng để trả nợ ở quầy rượu. Nhưng phần lớn một nghìn vị khách ông mời tới đều làm ăn phát đạt, và Che-rô-ki mỉm cười chúc mừng họ.
Gõ Kiến Vàng gồm toàn những người biết ngả mũ trước một kẻ thua cuộc mà vẫn mỉm cười, nên họ mời Che-rô-ki nói xem ông muốn gì.
"Tôi ấy à?" Che-rô-ki nói. "Ồ, chu cấp lương thực để đi dò mỏ là được rồi. Tôi đoán tôi sẽ đi dò vàng ngược lên núi Ma-ri-pô-xa. Nếu ở trên ấy tôi trúng thì chắc chắn tôi sẽ báo cho các anh biết. Tôi chưa bao giờ giấu bài với bạn bè."
Tháng năm, Che-rô-ki chất đồ lên lưng lừa, quay cái trán trầm ngâm màu lông chuột của nó về phương bắc. Nhiều công dân tiễn ông ra tới cái ranh giới không rõ ràng của Gõ Kiến Vàng, tặng ông những tiếng hò reo khen ngợi và chào tạm biệt. Họ dúi cho ông năm chai rượu bỏ túi đầy tới mức giữa rượu và nút không còn một bọt khí, và dặn ông hãy coi Gõ Kiến Vàng mãi mãi sẵn sàng lo cho ông giường ngủ, thịt muối với trứng, và nước nóng cạo râu, trong trường hợp vận may không thấy nên tới hơ tay bên đống lửa trại của ông ở Ma-ri-pô-xa.
Cái tên của cha đẻ Gõ Kiến Vàng là do dân đào vàng đặt cho ông, theo cái lối đặt tên phổ biến của họ. Một công dân không cần trình giấy rửa tội mới có được tên gọi. Tên của một người là tài sản riêng của anh ta. Để tiện gọi anh ta tới quầy rượu và phân biệt anh ta giữa những sinh vật hai chân mặc áo sơ-mi xanh khác, công chúng ban cho anh ta một biệt danh, một tước hiệu hay một hỗn danh tạm thời. Những đặc điểm riêng là nguồn gốc của phần lớn những lễ rửa tội không chính thức như thế. Nhiều người dễ dàng được đặt tên theo vùng đất mà họ thú nhận là quê mình. Vài người tự xưng là "Tôm-xơn", là "A-đam" hay đại loại thế, với vẻ trơ tráo và oang oang khiến người ta càng ngờ đó là tên giả. Một số ít khoe khoang, trơ trẽn để lộ tên thật không thể chối cãi của mình. Điều ấy bị coi là quá kiêu ngạo, và không được lòng ai. Một người tự xưng là Chét-xtơ-tơn En Xi Ben-môn, lại còn đưa thư từ ra chứng minh, bị cho thời hạn tới lúc mặt trời lặn phải rời khỏi thị trấn. Những cái tên như "Lùn", "Chân Vòng Kiềng", "Tếch-dát", "Bin Lười", "Rô-giơ Khát", "Rai-li Cà Nhắc", "Ông Toà" và "Ét Ca-li" được ưa chuộng. Che-rô-ki có tên ấy vì ông kể rằng từng sống một thời gian với bộ tộc Che-rô-ki ở Lãnh thổ Người Da Đỏ.
Ngày hai mươi tháng mười hai, Bôn-đi, người đưa thư, mang về Gõ Kiến Vàng một tin.
"Các anh biết tôi thấy gì ở An-bu-kơ-kơ không," Bôn-đi nói với các vị khách quen ở quầy rượu, "Che-rô-ki đấy, diện ngất trời như ông vua xứ Thổ, tiêu tiền như rác. Tôi với ông ấy đi ngắm đủ thứ của lạ trong thành phố, uống thử cái thứ rượu sủi bọt như thuốc nhuận tràng, và Che-rô-ki trả hết mọi hoá đơn, tiền trao cháo múc. Túi ông ấy căng như túi bàn bi-a sau một đường cơ ăn hết mười lăm bi."
"Chắc Che-rô-ki trúng mạch quặng rồi," Ét Ca-li nói. "Chà, ông ấy là người tử tế. Tôi rất mừng cho thành công của ông ấy."
"Lẽ ra Che-rô-ki phải ghé xuống Gõ Kiến Vàng thăm bạn bè chứ," một người khác nói, hơi phật lòng. "Nhưng đời là thế. Giàu sang là liều thuốc hay nhất chữa bệnh đãng trí."
"Khoan đã," Bôn-đi nói, "tôi đang kể tới đó đây. Che-rô-ki đụng phải một mạch quặng dày một mét trên núi Ma-ri-pô-xa, mỗi tấn quặng đáng giá một chuyến đi châu Âu, và ông ấy bán đứt nó cho một tập đoàn lấy một trăm nghìn đô-la tiền mặt, chi gấp. Rồi ông ấy mua cho mình một chiếc áo khoác da hải cẩu con, một chiếc xe trượt tuyết sơn đỏ, và các anh đoán xem tiếp theo ông ấy nảy ra ý định gì?"
"Đánh bạc," Tếch-dát nói, vì với anh ta thú tiêu khiển nào cũng là cờ bạc.
"'Lại đây hôn anh nào, em yêu'," Lùn hát, anh chàng vẫn mang ảnh trong túi và thắt cà-vạt đỏ trong khi làm việc trên mỏ.
"Mua một quán rượu à?" Rô-giơ Khát gợi ý.
"Che-rô-ki dẫn tôi vào một căn phòng," Bôn-đi nói tiếp, "và cho tôi xem. Ông ấy chất kín cả căn phòng, nào trống, nào búp bê, nào giày trượt, nào túi kẹo, nào hình nhân giật dây, cừu đồ chơi, còi thổi, và đủ thứ đồ con nít như thế. Các anh đoán xem ông ấy định làm gì với mấy món đồ lặt vặt vô dụng ấy? Khỏi đoán, Che-rô-ki nói với tôi rồi. Ông ấy sẽ chất tất cả lên chiếc xe trượt tuyết đỏ, rồi, khoan đã, đừng gọi rượu vội, ông ấy sẽ phóng xe xuống đây, xuống Gõ Kiến Vàng, tặng cho lũ trẻ, lũ trẻ của chính thị trấn này, một cây thông Nô-en to nhất, những con búp bê biết khóc to nhất, những hộp đồ nghề thợ mộc Người Khổng Lồ Tí Hon, một bữa tiệc lớn nhất từng thấy ở phía tây mũi Hát-tơ-rát."
Hai phút im lặng tuyệt đối trôi qua sau những lời của Bôn-đi. Rồi chủ quán phá tan nó, vì vui vẻ nghĩ rằng lúc này là lúc thích hợp để mời mọc, bèn cho một tá ly uýt-ki trượt vèo dọc quầy, cái chai đi chậm hơn theo sau cùng.
"Thế anh không bảo ông ấy à?" người thợ mỏ tên Tri-ni-đát hỏi.
"Chà, không," Bôn-đi đáp, trầm ngâm. "Tôi chẳng thấy có cách nào để bảo.
Các anh thấy đấy, Che-rô-ki đã mua và trả tiền xong cả đống đồ Giáng sinh ấy rồi, ông ấy lại đang hãnh diện ra mặt về ý tưởng của mình, mà bọn tôi lại đang kiểu như bay bổng nhờ cái thứ rượu sủi bọt tôi vừa kể, thế nên tôi chẳng hé răng."
"Tôi không thể không ngạc nhiên đôi chút," Ông Toà nói, treo cây ba-toong cán ngà lên quầy, "khi thấy bạn Che-rô-ki của chúng ta lại có một quan niệm sai lầm đến thế về, à, chính cái thị trấn của mình, có thể nói như vậy."
"Ồ, có phải kỳ quan thứ tám của trái đất đâu," Bôn-đi nói. "Che-rô-ki rời Gõ Kiến Vàng hơn bảy tháng rồi. Trong ngần ấy thời gian bao nhiêu chuyện có thể xảy ra. Làm sao ông ấy biết thị trấn này chẳng có lấy một đứa trẻ con nào, mà xét về chuyện di dân thì cũng chẳng thấy đứa nào sắp tới?"
"Nghĩ lại mới thấy," Ét Ca-li nhận xét, "lạ thật, chẳng có đứa nào trôi dạt tới đây. Tôi đoán thị trấn chưa đủ ổn định để mấy đội quân ngậm núm vú cao su kéo tới."
"Để thêm phần hoành tráng cho vụ cây thông Nô-en," Bôn-đi nói tiếp, "Che-rô-ki sẽ đóng giả ông già Nô-en. Ông ấy có bộ tóc giả với bộ râu trắng hoá trang cho ông ấy y hệt hình ông thi sĩ Long-phen-lô trong sách, một bộ đồ đỏ viền lông trông như đồ lót mặc ra ngoài, đôi găng tay to bằng găng đấm bốc, và cái mũ đỏ đan móc vừa dựng được vừa gập được. Một bộ đồ nghề như thế mà không có cơ hội gặp mấy đứa bé quỳ đọc kinh trước giờ ngủ thì có phí không chứ?"
"Che-rô-ki định khi nào mang đồ qua?" Tri-ni-đát hỏi.
"Sáng ngày trước Giáng sinh," Bôn-đi nói. "Ông ấy muốn các anh sửa soạn sẵn một căn phòng, kéo về một cây thông dựng sẵn. Và các bà, các cô nào nhịn thở được đủ lâu để giữ bí mật thì giúp một tay, cho bọn trẻ được bất ngờ."
Tình trạng chẳng được ban phước của Gõ Kiến Vàng đã được tả đúng sự thật. Tiếng trẻ con chưa bao giờ làm rộn rã những căn nhà ọp ẹp của nó. Tiếng bước chân nhỏ bé lon ton chưa bao giờ thánh hoá con đường gồ ghề duy nhất giữa hai dãy lều bạt và nhà cửa thô sơ. Rồi sau này chúng sẽ tới. Nhưng lúc này Gõ Kiến Vàng chỉ là một trại mỏ trên núi, và chẳng nơi nào trong đó có những đôi mắt tinh nghịch, háo hức mở to lúc rạng đông của ngày mê hoặc ấy, những bàn tay nhỏ hăm hở với lấy kho báu làm choáng ngợp của ông già Nô-en, những tiếng reo hân hoan trẻ thơ của niềm vui mùa lễ, như những món quà tốt đẹp sắp tới của Che-rô-ki tốt bụng đáng được đón nhận.
Phụ nữ thì Gõ Kiến Vàng có năm người. Vợ ông thợ thử vàng, bà chủ khách sạn Trúng Mánh, và một bà thợ giặt mà mỗi ngày chậu giặt của bà đãi ra được một ao-xơ bụi vàng. Đó là những người phụ nữ thường trú. Hai người còn lại là chị em nhà Xpan-glơ, cô Phan-sông và cô Ơ-ma, thuộc Đoàn Hài kịch Xuyên lục địa, lúc ấy đang diễn luân phiên các vở ở Nhà hát Đế Chế dựng tạm. Nhưng trẻ con thì không có đứa nào. Đôi khi cô Phan-sông cũng nhập vai một đứa trẻ khoẻ mạnh, nghịch ngợm, rất có hồn và khéo léo, nhưng vai diễn của cô vẫn cách một trời một vực so với những đứa trẻ thật đáng được nhận quà Giáng sinh của Che-rô-ki.
Giáng sinh sẽ rơi vào thứ năm. Sáng thứ ba, thay vì đi làm, Tri-ni-đát tìm tới Ông Toà ở khách sạn Trúng Mánh.
"Gõ Kiến Vàng sẽ nhục nhã lắm," Tri-ni-đát nói, "nếu nó làm hỏng bữa tiệc cây thông Nô-en của Che-rô-ki. Có thể nói chính ông ấy đã làm nên thị trấn này. Riêng tôi, tôi sẽ xem có thể làm được gì để ông già Nô-en được đối xử cho đàng hoàng."
"Tôi sẵn lòng hợp tác," Ông Toà nói. "Tôi chịu ơn Che-rô-ki nhiều lần. Nhưng tôi không thấy... Tới nay tôi vẫn coi việc không có trẻ con là một thứ xa xỉ... nhưng trong trường hợp này... dù vậy, tôi vẫn không thấy..."
"Nhìn tôi đây này," Tri-ni-đát nói, "ông sẽ thấy một ông Tìm Cách Xoay Xở bằng xương bằng thịt. Tôi sẽ thắng một cỗ xe ngựa, đi gom một xe đầy trẻ con về cho màn ông già Nô-en của Che-rô-ki, dù có phải cướp cả một trại trẻ mồ côi."
"Ơ-rê-ca! Tìm ra rồi!" Ông Toà hào hứng kêu lên.
"Không phải ông tìm ra," Tri-ni-đát nói, dứt khoát. "Chính tôi tự nghĩ ra đấy. Cái chữ La-tinh ấy tôi cũng học ở trường rồi."
"Tôi sẽ đi cùng anh," Ông Toà tuyên bố, vung cây ba-toong. "Có lẽ tài hùng biện và khả năng ăn nói mà tôi có sẽ giúp ích cho việc thuyết phục các bạn trẻ của chúng ta tham gia kế hoạch."
Chưa tới một giờ sau, cả Gõ Kiến Vàng đã biết kế hoạch của Tri-ni-đát và Ông Toà, và tán thành. Những công dân biết có gia đình nào có con cái trong bán kính bốn mươi dặm quanh Gõ Kiến Vàng đều đứng ra góp thông tin. Tri-ni-đát ghi chép cẩn thận tất cả, rồi vội đi kiếm một cỗ xe và một cặp la.
Điểm dừng đầu tiên theo lịch là một ngôi nhà gỗ đôi cách Gõ Kiến Vàng mười lăm dặm. Nghe Tri-ni-đát gọi, một người đàn ông mở cửa, rồi đi xuống tựa vào cái cổng ọp ẹp. Ô cửa ra vào chật cứng một đám trẻ con, đứa thì rách rưới, đứa nào cũng tò mò và khoẻ mạnh.
"Chuyện là thế này," Tri-ni-đát giải thích. "Chúng tôi ở Gõ Kiến Vàng, tới đây bắt cóc theo kiểu nhẹ nhàng. Một công dân hàng đầu của chúng tôi bị lên cơn bệnh ông già Nô-en, và mai ông ấy sẽ về thị trấn với cả nửa đống đồ chơi sơn đỏ làm bên Đức. Đứa con nít nhỏ nhất ở Gõ Kiến Vàng đeo súng bốn lăm ly và dùng dao cạo râu an toàn. Thế nên chúng tôi thiếu trầm trọng người kêu 'Ồ' với 'À' khi thắp nến trên cây thông. Giờ thì anh bạn ơi, nếu anh cho chúng tôi mượn vài đứa nhóc, chúng tôi bảo đảm trả về an toàn lành lặn vào ngày Giáng sinh. Mà chúng sẽ về với cả một bụng vui vẻ, cả những cuốn truyện phiêu lưu, những túi kẹo hình sừng, những cái trống đỏ và đủ thứ quà như thế. Anh thấy sao?"
"Nói cách khác," Ông Toà nói, "lần đầu tiên trong lịch sử thành phố nhỏ còn phôi thai mà tiến bộ của chúng tôi, chúng tôi phát hiện ra những bất tiện của việc vắng mặt lứa tuổi thơ. Mùa trong năm đã gần tới, cái mùa mà theo phong tục người ta tặng những món quà vặt vãnh nhưng thường được trân trọng cho những người non trẻ..."
"Tôi hiểu rồi," người cha nói, dùng ngón tay trỏ nhồi thuốc vào tẩu. "Tôi nghĩ tôi chẳng cần giữ các ông lâu. Tôi với bà nhà có bảy đứa con, có thể nói thế. Mà điểm qua cả đám trong đầu, tôi chẳng thấy có đứa nào mình có thể bớt ra cho các ông mang về cuộc vui của các ông. Bà nhà tôi có giấu ít kẹo bỏng ngô với mấy con búp bê vải trong rương quần áo, và chúng tôi định ăn Giáng sinh theo kiểu của mình, cho có lệ thôi. Không, tôi chẳng thể nào hăng hái tán thành cái ý để đứa nào đi được. Cảm ơn các ông nhiều."
Họ đánh xe xuống dốc rồi lên một ngọn đồi khác, tới nhà trại của Oai-li Uyn-xơn. Tri-ni-đát đọc lời thỉnh cầu, Ông Toà ồ ồ phụ hoạ theo. Bà Oai-li kéo hai đứa con má đỏ hây hây nép sát váy mình, và chỉ mỉm cười khi thấy Oai-li cười và lắc đầu. Lại một lời từ chối.
Tri-ni-đát và Ông Toà đi hết hơn nửa danh sách mà vô ích trước khi hoàng hôn buông xuống giữa núi đồi. Họ nghỉ đêm ở một quán trọ bên đường xe khách, sáng sớm hôm sau lại lên đường. Cỗ xe vẫn chưa có lấy một hành khách.
"Tôi bắt đầu ngộ ra," Tri-ni-đát nhận xét, "rằng đi mượn trẻ con vào dịp Giáng sinh cũng giống như định ăn trộm bơ của một người đang chờ bánh kếp nóng."
"Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một sự thật không thể chối cãi," Ông Toà nói, "rằng, à, những sợi dây gia đình dường như gắn bó và quả quyết hơn vào thời điểm ấy trong năm."
Ngày trước Giáng sinh, họ đánh xe ba mươi dặm, dừng lại cầu xin bốn lần không kết quả. Ở đâu "con nít" cũng hiếm như vàng.
Mặt trời đã xuống thấp khi vợ một ông cai đường sắt trên một tuyến đường hẻo lánh kéo lũ con không cho mượn của mình nấp sau lưng, và nói:
"Có một người đàn bà vừa nhận trông cái quán ăn của nhà ga dưới ga Ngã Ba Đá Hoa. Tôi nghe nói chị ta có một thằng con trai. Có khi chị ta cho nó đi đấy."
Năm giờ chiều, Tri-ni-đát ghìm đôi la ở ga Ngã Ba Đá Hoa. Chuyến tàu vừa đi, chở theo những hành khách đã được ăn uống no nê.
Trên bậc thềm quán ăn, họ gặp một thằng bé mười tuổi gầy gò, mặt cau có, đang hút thuốc lá. Phòng ăn bị những cái dạ dày lữ hành bỏ lại trong cảnh hỗn loạn. Một người đàn bà còn khá trẻ ngồi ngả người, kiệt sức, trên một chiếc ghế. Mặt chị hằn những nét lo âu sắc nét. Chị từng có một vẻ đẹp nào đó, vẻ đẹp sẽ không bao giờ rời bỏ chị hẳn mà cũng không bao giờ quay về trọn vẹn. Tri-ni-đát trình bày sứ mệnh của mình.
"Nếu các ông đưa Bốp-bi đi một thời gian thì tôi coi đó là phúc đức," chị mệt mỏi nói. "Tôi tất bật từ sáng tới tối, chẳng có thì giờ trông nom nó. Nó đang học thói xấu của mấy gã đàn ông. Đó sẽ là cơ hội duy nhất để nó có chút Giáng sinh."
Hai người đàn ông ra ngoài bàn bạc với Bốp-bi. Tri-ni-đát vẽ ra bằng những màu sắc sinh động vẻ huy hoàng của cây thông Nô-en và quà cáp.
"Và hơn nữa, anh bạn trẻ của tôi," Ông Toà nói thêm, "chính ông già Nô-en sẽ đích thân phân phát những món quà tượng trưng cho lễ vật mà các mục đồng thành Bê-lem đã dâng lên..."
"Ối dào, thôi đi," thằng bé nói, nheo đôi mắt ti hí. "Tôi có phải con nít đâu. Làm gì có ông già Nô-en. Là bố mẹ mua đồ chơi rồi lén nhét vào lúc mình ngủ. Rồi họ lấy cái kẹp than vạch lên lớp bồ hóng trong ống khói cho giống vết xe trượt tuyết của ông già Nô-en."
"Có thể là thế," Tri-ni-đát cãi, "nhưng cây thông Nô-en thì đâu phải chuyện cổ tích. Cây này sẽ trông y như cửa hàng đồng giá mười xu ở An-bu-kơ-kơ treo hết lên một cây thông đỏ. Có con quay, có trống, có thuyền Nô-ê, có..."
"Ôi, xời!" Bốp-bi nói, chán chường. "Mấy thứ ấy tôi bỏ lâu rồi. Tôi muốn có một khẩu súng trường, không phải loại bắn bia, mà súng thật, để bắn mèo rừng. Nhưng tôi đoán trên cái cây cũ kỹ của các ông chẳng có thứ ấy đâu."
"Chà, tôi không dám chắc," Tri-ni-đát nói, khéo léo, "có thể có đấy. Cứ đi với bọn tôi rồi xem."
Niềm hy vọng được hé ra ấy, dù mong manh, cũng khiến thằng bé ngập ngừng đồng ý đi. Mang theo người duy nhất sẽ được hưởng quà Giáng sinh của Che-rô-ki, hai nhà vận động phóng xe trên đường về.
Ở Gõ Kiến Vàng, căn nhà kho trống đã được biến thành một nơi có thể coi là tổ ấm của một nàng tiên xứ A-ri-dô-na. Các bà các cô đã làm việc rất khéo. Một cây thông cao, phủ kín tới tận cành cao nhất nến, kim tuyến và đồ chơi, đủ cho hơn hai chục đứa trẻ, đứng giữa phòng. Gần lúc mặt trời lặn, những ánh mắt lo âu đã bắt đầu dõi ra đường, trông cỗ xe của những người đi kiếm trẻ con trở về. Trưa hôm ấy, Che-rô-ki đã phóng xe vào thị trấn trên chiếc xe trượt tuyết mới chất đầy những gói, những hộp, những kiện hàng đủ cỡ đủ kiểu. Ông mải mê lo sắp xếp cho kế hoạch vị tha của mình đến mức không để ý chuyện thiếu trẻ con. Không ai để lộ cái tình trạng nhục nhã của Gõ Kiến Vàng, vì ai cũng trông chờ nỗ lực của Tri-ni-đát và Ông Toà sẽ bù vào chỗ thiếu ấy.
Khi mặt trời lặn, Che-rô-ki, với bao cái nháy mắt và nụ cười tinh quái trên gương mặt dày dạn, rút lui vào chỗ kín, mang theo gói đồ hoá trang ông già Nô-en và một bọc đựng những món quà đặc biệt chưa tiết lộ.
"Khi bọn trẻ đã được dồn về đủ," ông dặn uỷ ban tổ chức tình nguyện, "thì thắp nến trên cây, cho chúng chơi trò 'Mèo đòi góc' với trò 'Vua Uy-li-am'. Khi chúng đang chơi say sưa, thì ông già Nô-en sẽ lẻn vào cửa. Tôi đoán quà sẽ thừa đủ để chia."
Các bà các cô bay qua bay lại quanh cây thông, thêm những nét hoàn thiện cuối cùng mà chẳng bao giờ là cuối cùng. Hai chị em Xpan-glơ có mặt, trong trang phục vai tiểu thư Vai-ô-lét đơ Via và cô hầu Ma-ri trong vở kịch mới của họ, "Cô dâu người thợ mỏ". Chín giờ nhà hát mới mở cửa, nên họ là những người giúp việc được hoan nghênh của uỷ ban cây thông Nô-en. Cứ mỗi phút lại có những cái đầu thò ra cửa nhìn ngóng và nghe ngóng tiếng xe của Tri-ni-đát. Giờ đây việc ấy đã thành nỗi lo, vì trời đã tối, sắp phải thắp nến trên cây, mà Che-rô-ki có thể ập vào bất cứ lúc nào trong bộ áo ông già Nô-en.
Rốt cuộc cỗ xe của những người đi lùa trẻ con lọc cọc chạy xuống phố, dừng trước cửa. Các bà các cô kêu ré lên khe khẽ vì phấn khích, bay tới thắp nến. Đàn ông Gõ Kiến Vàng ra vào bồn chồn, hoặc đứng thành từng nhóm lúng túng quanh phòng.
Tri-ni-đát và Ông Toà, người ngợm còn lấm lem bụi đường, bước vào, dẫn ở giữa một thằng bé tinh quái duy nhất, nó nhìn chằm chằm cái cây loè loẹt bằng đôi mắt bi quan, cau có.
"Những đứa trẻ khác đâu?" vợ ông thợ thử vàng hỏi, người được thừa nhận là thủ lĩnh của mọi hoạt động xã hội.
"Thưa bà," Tri-ni-đát nói, thở dài, "đi dò trẻ con vào dịp Giáng sinh cũng như đi tìm bạc trong đá vôi. Cái nghề làm cha làm mẹ này tôi chẳng có cách nào hiểu nổi. Hình như suốt ba trăm sáu mươi tư ngày trong năm, cha mẹ sẵn lòng để con cái mình chết đuối, bị bắt cóc, ăn phải lá độc, bị mèo rừng ăn thịt, vậy mà tới ngày Giáng sinh thì họ khăng khăng đòi được độc quyền chịu khổ vì có chúng bên cạnh. Sinh vật hai chân bé nhỏ này, thưa bà, là tất cả những gì đãi ra được sau hai ngày hành quân của chúng tôi."
"Ôi, cậu bé đáng yêu quá!" cô Ơ-ma thỏ thẻ, kéo lê tà áo tiểu thư đơ Via ra giữa sân khấu.
"Ối, im đi," Bốp-bi nói, cau mày. "Ai là con nít? Chị thì chắc chắn không phải rồi."
"Đồ ranh con láo xược!" cô Ơ-ma thở ra, sau nụ cười tráng men.
"Bọn tôi đã làm hết sức," Tri-ni-đát nói. "Thật là khổ cho Che-rô-ki, nhưng biết làm sao được."
Rồi cánh cửa mở ra, và Che-rô-ki bước vào trong bộ trang phục quen thuộc của ông thánh Ni-cô-la. Một bộ râu trắng gợn sóng và mái tóc dài phủ kín mặt ông gần tới tận đôi mắt đen long lanh. Trên vai ông vác một cái bọc.
Khi ông bước vào, không ai nhúc nhích. Ngay cả chị em Xpan-glơ cũng thôi tạo dáng làm duyên, tò mò nhìn chằm chằm cái dáng người cao lớn. Bốp-bi đứng, tay đút túi quần, rầu rĩ nhìn cái cây ẻo lả con nít. Che-rô-ki đặt bọc xuống, ngạc nhiên nhìn quanh phòng. Có lẽ ông tưởng một bầy trẻ háo hức đang được dồn lại ở đâu đó, chờ ông vào là thả ra. Ông đi tới chỗ Bốp-bi, chìa bàn tay đeo găng đỏ.
"Chúc Giáng sinh vui vẻ, cậu bé," Che-rô-ki nói. "Cháu muốn thứ gì trên cây, người ta sẽ lấy xuống cho cháu. Cháu bắt tay ông già Nô-en chứ?"
"Làm gì có ông già Nô-en," thằng bé rên rỉ. "Ông đeo bộ râu dê giả trên mặt. Tôi đâu phải con nít. Tôi cần búp bê với ngựa sắt tây làm gì? Ông đánh xe kia bảo ông sẽ có súng trường, mà ông chẳng có. Tôi muốn về nhà."
Tri-ni-đát bước ra lấp chỗ trống. Anh bắt tay Che-rô-ki chào hỏi nồng nhiệt.
"Tôi tiếc lắm, Che-rô-ki," anh giải thích. "Gõ Kiến Vàng xưa nay chưa từng có đứa con nít nào. Bọn tôi đã cố đi gom một đám về cho buổi tiệc của ông, nhưng chỉ bắt được mỗi con cá mòi này. Nó là kẻ vô thần, chẳng tin có ông già Nô-en. Tiếc cho ông phải mất toi cả đống đồ này. Nhưng tôi với Ông Toà cứ tưởng chắc chắn gom được cả một xe đầy ứng cử viên cho mấy món đồ chơi của ông."
"Không sao đâu," Che-rô-ki nghiêm trang nói. "Tốn kém chẳng đáng là bao. Ta có thể đổ chúng xuống giếng mỏ hay vứt đi. Tôi chẳng biết mình đã nghĩ gì, nhưng trong đầu tôi chưa bao giờ nảy ra chuyện Gõ Kiến Vàng chẳng có đứa trẻ nào."
Trong lúc ấy, mọi người cố gượng gạo bày ra một buổi vui chơi, trống rỗng nhưng đáng khen.
Bốp-bi đã rút về một chiếc ghế ở xa, lạnh lùng nhìn cảnh tượng, vẻ chán chường trát dày cộp trên mặt. Che-rô-ki, vẫn nấn ná với ý định ban đầu, đi tới ngồi xuống cạnh nó.
"Cháu sống ở đâu, cậu bé?" ông hỏi, giọng đầy tôn trọng.
"Ngã Ba Đá Hoa," Bốp-bi nói, chẳng nhấn nhá gì.
Trong phòng ấm. Che-rô-ki bỏ mũ ra, rồi gỡ cả râu lẫn tóc giả.
"Ơ này!" Bốp-bi kêu lên, tỏ vẻ chú ý. "Tôi biết cái mặt ông."
"Cháu gặp ta bao giờ chưa?" Che-rô-ki hỏi.
"Không biết, nhưng tôi thấy ảnh ông nhiều lần rồi."
"Ở đâu?"
Thằng bé ngập ngừng. "Trên bàn phấn ở nhà," nó đáp.
"Cho ta biết tên cháu được không, anh bạn?"
"Rô-bớt Lăm-đơn. Tấm ảnh là của mẹ tôi. Đêm nào mẹ cũng để nó dưới gối. Có lần tôi còn thấy mẹ hôn nó. Tôi thì chẳng đời nào. Nhưng đàn bà là thế."
Che-rô-ki đứng dậy, vẫy Tri-ni-đát lại.
"Giữ thằng bé này bên anh cho tới khi tôi quay lại," ông nói. "Tôi đi cởi bộ đồ Giáng sinh này, rồi thắng xe trượt tuyết. Tôi sẽ đưa thằng bé về nhà."
"Thế nào, đồ vô thần," Tri-ni-đát nói, ngồi vào chiếc ghế Che-rô-ki vừa bỏ trống, "thì ra mày đã quá già cỗi, quá mệt mỏi để còn khao khát mấy trò giả dối như kẹo với đồ chơi."
"Tôi không ưa ông," Bốp-bi nói, cay cú. "Ông bảo là sẽ có súng trường. Đến hút thuốc cũng không được. Ước gì tôi đang ở nhà."
Che-rô-ki đánh xe trượt tuyết tới cửa, người ta nhấc Bốp-bi lên ngồi cạnh ông. Đôi ngựa đẹp nhảy chồm lên, phi đi trên lớp tuyết cứng. Che-rô-ki mặc chiếc áo khoác da hải cẩu con giá năm trăm đô-la. Tấm chăn đắp chân ông kéo lên phủ cả hai người ấm như nhung.
Bốp-bi lén rút một điếu thuốc lá trong túi ra, đang cố quẹt que diêm.
"Vứt điếu thuốc ấy đi," Che-rô-ki nói, bằng một giọng nhỏ nhẹ nhưng mới lạ.
Bốp-bi ngần ngừ, rồi thả điếu thuốc qua thành xe.
"Vứt cả hộp diêm đi," giọng nói mới ra lệnh.
Thằng bé vâng lời, miễn cưỡng hơn.
"Này," một lúc sau Bốp-bi nói, "tôi thích ông. Không biết tại sao. Trước giờ chưa ai bắt được tôi làm việc gì tôi không muốn."
"Nói ta nghe, nhóc," Che-rô-ki nói, không dùng giọng mới nữa, "cháu có chắc là mẹ cháu đã hôn tấm ảnh trông giống ta ấy không?"
"Chắc như đinh đóng cột. Tôi thấy tận mắt."
"Lúc nãy cháu có nói gì đó về chuyện muốn có một khẩu súng trường phải không?"
"Chắc chắn rồi. Ông mua cho tôi nhé?"
"Ngày mai. Khẩu nạm bạc."
Che-rô-ki lấy đồng hồ ra.
"Chín rưỡi. Ta sẽ tới Ngã Ba đúng lúc ngày Giáng sinh bắt đầu. Cháu có lạnh không? Ngồi sát vào đây, con trai."
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn