Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Hai quán trọ

của Alphonse Daudet

⏱ 6 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 6.618 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Hôm ấy tôi từ Nîm trở về, vào một…
  2. 2:28Ở cuối phòng, trong hốc một khung cửa sổ,…
  3. 2:57Ngồi nghỉ một lát, và uống chút gì đấy.
  4. 3:09Phải... quán trọ thì là quán trọ, nếu ông…
  5. 3:56Sau chừng mười lăm phút loay hoay như thế,…
  6. 4:14Chắc ít khi có khách ghé quán, bà nhỉ?
  7. 5:39Và đè lên tất cả là cái giọng hát…
  8. 6:00Sao cơ? Chồng bà à? Vậy là ông ấy…

Hôm ấy tôi từ Nîm trở về, vào một buổi chiều tháng Bảy. Trời nóng như thiêu. Con đường trắng xoá, rực lửa, cuộn bụi mù giữa những vườn ô liu và những cây sồi thấp, chạy tít tắp tới cuối tầm mắt, dưới một vầng mặt trời bạc đục chiếm trọn cả bầu trời. Không lấy một vệt bóng râm, không một hơi gió. Chỉ có không khí nóng rung rinh và tiếng ve kêu ra rả, một thứ nhạc điên cuồng, inh tai, dồn dập, nghe như chính là âm thanh của cả cái biển ánh sáng đang rung lên ấy. Tôi đã đi giữa chốn hoang mạc hai tiếng đồng hồ, thì bỗng đâu, trước mặt tôi, một cụm nhà trắng hiện ra trong bụi đường. Đó là nơi người ta gọi là trạm Xanh Vanh-xăng: năm sáu cái trại, mấy dãy kho thóc dài mái đỏ, một cái máng uống nước khô cong giữa khóm vả gầy gò, và ở tận cuối xóm, hai quán trọ lớn nằm nhìn nhau, mỗi quán một bên đường.

Hai quán đứng sát nhau như thế có cái gì khiến người ta phải giật mình. Một bên là toà nhà mới, to, đầy sức sống, nhộn nhịp, cửa nẻo mở toang. Chiếc xe ngựa chở khách đỗ ngay trước cửa, người ta đang tháo những con ngựa bốc hơi nghi ngút, khách xuống xe đứng uống vội ngoài đường trong vệt bóng ngắn ngủn của tường nhà. Sân chật ních la và xe bò, mấy bác đánh xe nằm dài dưới mái kho chờ trời dịu nắng. Bên trong thì tiếng la, tiếng chửi thề, tiếng đấm tay xuống bàn, tiếng cốc chạm nhau, tiếng bi a lách cách, tiếng nút chai nước chanh bật lốp bốp. Và trùm lên tất cả mớ ồn ào ấy là một giọng hát vui tươi, vang rền, hát to tới mức kính cửa rung lên:

Nàng Mác-gô xinh đẹp
Dậy từ lúc sớm mai,
Cầm bình bạc trong tay,
Ra suối đi lấy nước...

Quán bên kia đường thì ngược lại, im lìm như bỏ hoang. Cỏ mọc dưới cổng, cánh cửa chớp gãy, trên cửa treo một cành nhựa ruồi khô queo, rủ xuống như một chùm lông mũ cũ, bậc thềm phải kê bằng đá nhặt ngoài đường. Tất cả nghèo nàn, đáng thương đến nỗi ghé vào đấy uống một chén thật chẳng khác gì làm một việc phúc.

Bước vào, tôi gặp một căn phòng dài, vắng tanh và ảm đạm. Ánh nắng chói chang lọt qua ba khung cửa sổ lớn không rèm lại càng làm nó ảm đạm, vắng vẻ hơn. Vài cái bàn khập khiễng, trên bàn còn sót mấy cái cốc mờ bụi, một bàn bi a thủng nát chìa bốn cái túi lưới ra như bốn cái bát ăn mày, một cái tràng kỷ vàng, một cái quầy cũ, tất cả nằm ngủ trong cái nóng hầm hập, nặng nề. Còn ruồi thì ôi thôi, ruồi! Tôi chưa từng thấy nhiều ruồi đến thế: trên trần, dính đầy kính cửa, trong cốc, từng chùm từng chùm. Khi tôi mở cửa, cả căn phòng vo ve, rào rạt tiếng cánh, như thể tôi vừa bước vào một tổ ong.

Ở cuối phòng, trong hốc một khung cửa sổ, có một người đàn bà đứng tựa vào tấm kính, mải mê nhìn ra ngoài. Tôi gọi hai lần:

— Này, bà chủ quán ơi!

Bà ta từ từ quay lại. Tôi thấy một khuôn mặt nông dân tội nghiệp, nhăn nheo, nứt nẻ, màu đất, bó trong hai dải ren dài màu hung như các bà già quê tôi vẫn đội. Vậy mà bà không phải một bà già. Chính nước mắt đã làm bà tàn héo cả đi.

Bà vừa lau mắt vừa hỏi tôi:

— Ông cần gì thế?

— Ngồi nghỉ một lát, và uống chút gì đấy.

Bà nhìn tôi, ngạc nhiên lắm, vẫn đứng nguyên chỗ cũ như thể không hiểu.

Tôi hỏi:

— Thế ở đây không phải là quán trọ à?

Người đàn bà thở dài:

— Phải... quán trọ thì là quán trọ, nếu ông muốn gọi thế... Nhưng sao ông không sang bên kia như mọi người? Bên ấy vui hơn nhiều...

— Vui quá đối với tôi. Tôi thích ngồi ở quán bà hơn.

Rồi chẳng đợi bà trả lời, tôi ngồi luôn xuống một cái bàn.

Đến khi tin chắc là tôi nói thật, bà chủ quán mới bắt đầu đi tới đi lui, bộ dạng tất bật lắm, mở ngăn kéo, xê dịch chai lọ, lau cốc, đuổi ruồi. Nhìn là biết một người khách cần phục vụ đã là cả một sự kiện. Thỉnh thoảng người đàn bà khốn khổ đứng sững lại, ôm lấy đầu, như thể không biết làm sao cho xong.

Rồi bà sang gian buồng phía sau. Tôi nghe tiếng bà lục những chiếc chìa khoá to, loay hoay với ổ khoá, lục lọi trong thùng bánh mì, thổi phù phù, phủi bụi, rửa đĩa. Chốc chốc lại một tiếng thở dài thườn thượt, một tiếng nấc cố nén không được.

Sau chừng mười lăm phút loay hoay như thế, trước mặt tôi đã có một đĩa nho khô, một ổ bánh mì Bô-ke cũ rắn như đá mài, và một chai rượu vang chua loét.

Người đàn bà lạ lùng nói:

— Mời ông dùng.

Rồi bà vội quay về chỗ cũ trước cửa sổ.

Vừa uống, tôi vừa tìm cách gợi chuyện:

— Chắc ít khi có khách ghé quán, bà nhỉ?

— Ôi, không đâu ông, chẳng bao giờ có ai cả... Hồi cả vùng chỉ có mỗi nhà chúng tôi thì khác. Chúng tôi giữ trạm đổi ngựa, mùa săn vịt trời thì có những bữa tiệc của mấy đoàn đi săn, quanh năm xe cộ ra vào. Nhưng từ khi nhà bên kia đến mở quán, chúng tôi mất hết. Thiên hạ thích sang bên ấy hơn. Họ bảo nhà chúng tôi buồn quá... Mà quả là cái nhà này chẳng dễ chịu gì thật. Tôi thì xấu, lại hay lên cơn sốt, hai đứa con gái nhỏ của tôi chết cả rồi... Bên kia thì khác, lúc nào cũng cười nói. Người đứng quán là một cô gái Ác-lơ, đẹp lắm, đồ ren đầy người, cổ đeo ba vòng dây chuyền vàng. Bác đánh xe ngựa là nhân tình của cô ta, cứ đưa cả xe khách về quán cô ta đỗ. Lại thêm một lũ hầu gái toàn những đứa khéo chài khách... Thế nên khách khứa kéo đến nườm nượp! Cả đám trai trẻ ở Bơ-dút, ở Rơ-đét-xăng, ở Giông-ki-e-rơ đều sang bên ấy. Mấy bác đánh xe bò còn đi vòng xa để được qua nhà cô ta. Còn tôi, tôi ở đây suốt ngày, chẳng có ai, cứ thế mà mòn mỏi.

Bà nói những điều ấy bằng một giọng lơ đãng, dửng dưng, trán vẫn tì vào tấm kính. Rõ ràng là ở cái quán bên kia đường có điều gì đang làm bà bận lòng.

Bỗng nhiên, phía bên kia đường náo động hẳn lên. Chiếc xe ngựa chở khách lăn bánh trong bụi. Tiếng roi quất đen đét, tiếng kèn của gã xà ích, tiếng mấy cô gái chạy ra cửa gọi với theo:

— Đi mạnh giỏi nhé! Đi mạnh giỏi nhé!

Và đè lên tất cả là cái giọng hát vang rền lúc nãy, lại cất lên to hơn trước:

Cầm bình bạc trong tay,
Ra suối đi lấy nước,
Từ chỗ ấy nàng thấy
Ba hiệp sĩ đi qua...

Nghe giọng hát ấy, bà chủ quán run lên khắp người. Bà quay về phía tôi, nói khẽ:

— Ông có nghe thấy không? Chồng tôi đấy... Anh ấy hát hay quá, ông nhỉ?

Tôi nhìn bà, sững sờ:

— Sao cơ? Chồng bà à? Vậy là ông ấy cũng sang bên đó à?

Bấy giờ bà mới nói, vẻ đau đớn, nhưng giọng rất dịu dàng:

— Biết làm sao được, ông ơi. Đàn ông họ vẫn thế, họ không thích nhìn thấy người ta khóc. Mà tôi thì từ hồi hai đứa nhỏ mất, lúc nào cũng khóc... Rồi cái nhà to tướng này lại buồn quá, chẳng bao giờ có ai... Cho nên những lúc buồn quá, Giô-dê của tôi lại sang bên kia uống rượu, mà anh ấy có giọng hay, nên cô gái Ác-lơ bắt anh ấy hát. Suỵt! Anh ấy lại hát kìa.

Và bà đứng đó, run rẩy, hai tay chìa ra phía trước, những giọt nước mắt to lăn xuống làm khuôn mặt bà càng thêm xấu xí, đứng trước cửa sổ như người ngây dại, lắng nghe Giô-dê của bà hát cho cô gái Ác-lơ nghe:

Người thứ nhất cất lời:
“Chào nàng, cô em xinh đẹp!”

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1869
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Les Deux Auberges, trong tập Lettres de mon moulin, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →