Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Kỵ sĩ trên trời

của Ambrose Bierce

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 12.792 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Một buổi chiều nắng đẹp mùa thu năm một…
  2. 3:03Thưa cha, một trung đoàn quân Liên bang đã…
  3. 4:36Cảm giác đầu tiên của anh là một niềm…
  4. 8:00Đru-xơ rời mắt khỏi thung lũng, lại dán mắt…
  5. 10:42Viên sĩ quan này là một người khôn ngoan.…
  6. 11:18Vâng.
  7. 11:44Có.

Một buổi chiều nắng đẹp mùa thu năm một nghìn tám trăm sáu mươi mốt, có một người lính nằm trong bụi nguyệt quế bên đường, ở miền tây bang Vơ-gi-ni-a. Anh nằm sấp duỗi thẳng người, mũi chân chống đất, đầu gối lên cẳng tay trái. Bàn tay phải duỗi ra hờ hững nắm khẩu súng trường. Nếu không có cái tư thế chân tay sắp xếp có phần ngăn nắp, và cái hộp đạn ở sau thắt lưng khẽ nhấp nhô theo nhịp, hẳn người ta đã tưởng anh chết rồi. Anh đang ngủ trong lúc làm nhiệm vụ canh gác. Mà nếu bị phát hiện, chẳng bao lâu sau anh sẽ chết thật, vì cái chết là hình phạt công bằng và đúng luật cho tội của anh.

Bụi nguyệt quế nơi kẻ phạm tội nằm ở chỗ con đường gấp khúc. Con đường leo dốc đứng lên phía nam tới đó thì ngoặt gắt sang phía tây, chạy dọc theo đỉnh núi chừng trăm mét. Tới đó nó lại ngoặt về phía nam, rồi ngoằn ngoèo đi xuống xuyên qua rừng. Ở mỏm nhô ra của khúc ngoặt thứ hai có một tảng đá lớn bằng phẳng, chìa ra phía bắc, nhìn xuống thung lũng sâu mà con đường từ đó leo lên. Tảng đá ấy là đỉnh của một vách núi cao. Một hòn đá thả từ mép ngoài sẽ rơi thẳng xuống gần ba trăm mét mới chạm ngọn những cây thông. Chỗ người lính nằm là một mỏm khác của cùng vách núi ấy. Nếu thức, anh sẽ bao quát được không chỉ đoạn đường ngắn và tảng đá chìa ra, mà cả toàn bộ mặt vách núi bên dưới. Nhìn xuống đó hẳn cũng đủ làm anh chóng mặt.

Khắp vùng toàn rừng, trừ dưới đáy thung lũng ở phía bắc, nơi có một bãi cỏ tự nhiên nhỏ, một dòng suối chảy qua mà đứng trên mép thung lũng khó nhìn thấy. Khoảng đất trống ấy trông chẳng lớn hơn một cái sân trước nhà thường, nhưng thật ra rộng mấy mẫu. Màu xanh của nó tươi hơn màu rừng bao quanh. Xa hơn nữa sừng sững một dãy vách núi khổng lồ, giống như dãy vách mà ta đang tưởng mình đứng trên đó để quan sát cảnh hoang dã này, và con đường chẳng hiểu bằng cách nào đã leo qua dãy vách ấy lên tới đỉnh. Quả thật, hình thế của thung lũng khiến từ chỗ quan sát này, nó trông như hoàn toàn bị vây kín, và người ta chỉ còn biết tự hỏi con đường đã tìm được lối ra khỏi thung lũng thì làm sao đã tìm được lối vào, và dòng suối chia đôi bãi cỏ dưới sâu hơn ba trăm mét kia từ đâu tới và chảy đi đâu.

Không có vùng đất nào hoang vu và hiểm trở đến mức con người không biến nó thành sân khấu chiến tranh. Ẩn trong rừng dưới đáy cái bẫy chuột quân sự ấy, nơi chỉ cần năm chục người giữ các lối ra là có thể bỏ đói cả một đạo quân tới khi phải đầu hàng, có năm trung đoàn bộ binh của quân Liên bang. Họ đã hành quân suốt ngày hôm trước và cả đêm, giờ đang nghỉ. Khi đêm xuống, họ sẽ lại lên đường, leo tới chỗ người lính gác bất trung đang ngủ, rồi đi xuống sườn bên kia của dãy núi, tấn công một doanh trại quân địch vào khoảng nửa đêm. Họ hy vọng đánh úp được nó, vì con đường dẫn tới phía sau doanh trại. Nếu thất bại, vị trí của họ sẽ cực kỳ nguy hiểm. Và chắc chắn họ sẽ thất bại nếu vì tình cờ hay vì cảnh giác mà quân địch biết được cuộc hành quân.

Người lính gác đang ngủ trong bụi nguyệt quế là một chàng trai trẻ người Vơ-gi-ni-a tên Các-tơ Đru-xơ. Anh là con một của một gia đình giàu có, và đã được hưởng mọi sự nhàn hạ, học vấn và cuộc sống sang trọng mà tiền bạc và óc thẩm mỹ có thể mua được ở vùng núi miền tây Vơ-gi-ni-a. Nhà anh chỉ cách chỗ anh đang nằm vài dặm. Một buổi sáng, anh đứng dậy khỏi bàn ăn sáng, nói nhỏ nhẹ nhưng nghiêm trang:

– Thưa cha, một trung đoàn quân Liên bang đã tới Gráp-tơn. Con sẽ đi gia nhập.

Người cha ngẩng cái đầu như đầu sư tử lên, im lặng nhìn con một lúc, rồi đáp:

– Được, đi đi, và dù có chuyện gì xảy ra, hãy làm điều con cho là bổn phận của mình. Vơ-gi-ni-a, mảnh đất mà con phản bội, sẽ phải tự xoay xở khi không có con. Nếu cả hai ta còn sống tới khi hết chiến tranh, chúng ta sẽ nói thêm về chuyện này. Mẹ con, như bác sĩ đã nói với con, đang trong tình trạng rất nguy kịch. Tốt lắm thì bà cũng chỉ còn ở với chúng ta được vài tuần nữa, nhưng quãng thời gian ấy quý giá lắm. Tốt hơn là đừng làm bà xao động.

Thế là Các-tơ Đru-xơ cung kính cúi chào cha, người đáp lễ bằng một vẻ lịch sự đường bệ che giấu trái tim đang tan nát, rồi rời ngôi nhà thơ ấu đi lính. Nhờ lương tâm và lòng can đảm, nhờ những việc làm tận tuỵ và táo bạo, anh sớm được đồng đội và cấp trên quý mến. Chính nhờ những phẩm chất ấy, cùng với việc thông thạo địa hình, mà anh được chọn làm nhiệm vụ nguy hiểm hiện giờ ở tiền đồn xa nhất. Thế nhưng, sự mệt mỏi đã mạnh hơn quyết tâm, và anh đã ngủ thiếp đi.

Ai mà nói được thiên thần tốt hay thiên thần xấu nào đã tới trong giấc mơ để đánh thức anh khỏi tình trạng tội lỗi ấy? Không một cử động, không một tiếng động, giữa sự im lặng sâu thẳm và vẻ uể oải của buổi chiều muộn, một sứ giả vô hình nào đó của số phận đã chạm ngón tay mở khoá vào đôi mắt ý thức của anh, thì thầm vào tai tâm hồn anh cái tiếng thức tỉnh bí ẩn mà chưa môi người nào từng nói, chưa trí nhớ người nào từng gợi lại. Anh lặng lẽ nhấc trán khỏi cánh tay, nhìn qua những thân nguyệt quế đang che chắn cho mình, bàn tay phải bất giác nắm chặt báng súng.

Cảm giác đầu tiên của anh là một niềm thích thú nghệ thuật mãnh liệt. Trên một cái bệ khổng lồ, chính là vách núi, bất động ở tận mép ngoài của tảng đá đỉnh, in rõ nét trên nền trời, là một bức tượng người cưỡi ngựa uy nghi. Hình người ngồi trên hình ngựa, thẳng lưng như một người lính, nhưng với vẻ thư thái của một vị thần Hy Lạp tạc bằng cẩm thạch, thứ đá không gợi ra được nhiều chuyển động. Bộ quân phục màu xám hài hoà với nền trời phía sau. Kim loại trên quân trang và yên cương dịu đi, mờ đi trong bóng râm. Lông ngựa không có điểm nào loá sáng. Một khẩu các-bin, nhìn thấy ngắn đi vì góc nhìn, nằm ngang trên núm yên, bàn tay phải nắm chặt ở chỗ tay cầm để giữ nó. Bàn tay trái cầm dây cương thì khuất. In bóng lên nền trời, dáng con ngựa sắc nét như hình chạm trên đá quý. Nó nhìn qua khoảng không bao la tới dãy vách núi đối diện. Gương mặt người kỵ sĩ hơi quay đi, chỉ thấy đường nét thái dương và bộ râu. Ông đang nhìn xuống đáy thung lũng. Được phóng to vì đứng cao trên nền trời, và vì người lính ý thức rõ một kẻ địch ở gần đáng sợ tới mức nào, cả khối người ngựa trông như của bậc anh hùng, gần như khổng lồ.

Trong một thoáng, Đru-xơ có một cảm giác lạ lùng, mơ hồ, rằng mình đã ngủ tới khi hết chiến tranh, và đang ngắm một tác phẩm nghệ thuật cao quý dựng trên mỏm cao kia để tưởng niệm những chiến công của một quá khứ anh hùng mà anh đã góp một phần chẳng vẻ vang gì. Cảm giác ấy tan đi khi khối tượng khẽ cử động. Con ngựa, không nhấc chân, hơi lùi thân về phía sau khỏi mép vực. Người vẫn bất động như trước. Giờ đã tỉnh hẳn, và ý thức sắc bén về ý nghĩa của tình thế, Đru-xơ thận trọng đẩy nòng súng qua bụi cây, áp báng súng vào má, lên cò, ngắm qua thước ngắm vào một chỗ hiểm trên ngực người kỵ sĩ. Chỉ cần chạm vào cò súng là mọi chuyện sẽ ổn với Các-tơ Đru-xơ. Đúng lúc ấy, người kỵ sĩ quay đầu nhìn về phía kẻ thù đang ẩn nấp của mình, như nhìn thẳng vào mặt anh, vào mắt anh, vào trái tim dũng cảm và giàu lòng trắc ẩn của anh.

Vậy giết một kẻ thù trong chiến tranh lại khủng khiếp đến thế sao? Một kẻ thù đã bất ngờ biết được một bí mật sống còn với sự an toàn của chính mình và đồng đội, một kẻ thù đáng sợ vì điều hắn biết hơn cả đạo quân của hắn đáng sợ vì quân số? Các-tơ Đru-xơ tái mặt. Anh run khắp chân tay, choáng váng, và thấy khối tượng trước mặt thành những hình đen nhô lên, sụp xuống, chao đảo theo những vòng cung trên một bầu trời rực lửa. Tay anh rời khỏi khẩu súng, đầu anh từ từ gục xuống cho tới khi mặt anh chạm vào lớp lá nơi anh nằm. Con người lịch thiệp, can đảm và dạn dày trận mạc ấy gần như ngất đi vì xúc động quá mạnh.

Nhưng không lâu. Một lát sau, mặt anh đã ngẩng lên khỏi mặt đất, hai tay lại về chỗ trên khẩu súng, ngón trỏ tìm cò. Đầu óc, trái tim và đôi mắt đều sáng suốt, lương tâm và lý trí đều vững vàng. Anh không thể mong bắt sống kẻ địch kia. Làm hắn hoảng sợ chỉ khiến hắn phi ngựa về doanh trại với cái tin chết người. Bổn phận của người lính đã rõ ràng: phải bắn chết người ấy từ chỗ phục kích, không báo trước, không cho một khắc chuẩn bị tinh thần, không cả một lời cầu nguyện thầm, phải đưa ông ta đi gặp Chúa. Nhưng không, vẫn còn hy vọng. Có lẽ ông ta chưa phát hiện ra gì. Có lẽ ông ta chỉ đang ngắm vẻ hùng vĩ của cảnh vật. Nếu được để yên, có thể ông ta sẽ quay ngựa thong thả trở về hướng cũ. Chắc chắn đúng lúc ông ta lui đi, có thể đoán được ông ta có biết gì không. Có thể là sự chăm chú của ông ta…

Đru-xơ quay đầu nhìn xuống qua khoảng không sâu thẳm, như từ mặt biển nhìn xuống đáy một vùng biển trong vắt. Anh thấy bò ngang qua bãi cỏ xanh một hàng uốn khúc những bóng người và ngựa. Một viên chỉ huy ngu ngốc nào đó đang để lính hộ tống cho ngựa uống nước ở chỗ trống, ngay trong tầm mắt của cả chục đỉnh núi!

Đru-xơ rời mắt khỏi thung lũng, lại dán mắt vào khối người ngựa trên trời, và lần này cũng qua thước ngắm của khẩu súng. Nhưng lần này anh nhắm vào con ngựa. Trong trí nhớ anh, như một mệnh lệnh thiêng liêng, vang lên lời cha nói lúc chia tay: "Dù có chuyện gì xảy ra, hãy làm điều con cho là bổn phận của mình." Giờ anh đã bình tĩnh. Răng anh cắn chặt nhưng không cứng đờ. Thần kinh anh yên ả như đứa trẻ đang ngủ, không một cơ bắp nào trên người run rẩy. Hơi thở anh đều và chậm, cho tới khi anh nín thở để ngắm. Bổn phận đã chiến thắng. Tinh thần đã nói với thể xác: "Hãy yên lặng." Anh bóp cò.

Một sĩ quan quân Liên bang, vì máu phiêu lưu hay vì muốn tìm hiểu, đã rời khu đóng quân ẩn trong thung lũng, đi lang thang không mục đích tới mép dưới một khoảng đất trống nhỏ gần chân vách núi, đang cân nhắc xem nếu khám phá xa hơn thì được lợi gì. Cách ông chừng bốn trăm mét, nhưng tưởng như chỉ một tầm ném đá, sừng sững từ viền thông bao quanh là mặt đá khổng lồ, cao vút trên đầu ông đến nỗi ngước lên nhìn tới chỗ mép của nó vạch một đường lởm chởm sắc nét trên nền trời cũng đủ làm ông chóng mặt. Nó hiện ra thành một đường thẳng đứng gọn gàng, nửa trên in trên nền trời xanh, nửa dưới in trên nền những ngọn đồi xa cũng xanh chẳng kém, xuống tới ngọn cây dưới chân nó. Ngước mắt lên đỉnh cao chóng mặt ấy, viên sĩ quan thấy một cảnh tượng kinh ngạc: một người cưỡi ngựa đang phi xuống thung lũng xuyên qua không trung!

Người kỵ sĩ ngồi thẳng lưng theo kiểu nhà binh, ngồi chắc trên yên, ghì chặt dây cương để giữ con chiến mã khỏi lao xuống quá đà. Từ cái đầu để trần, mái tóc dài của ông bay ngược lên, phất phơ như chùm lông. Hai bàn tay ông khuất trong đám bờm ngựa tung lên như mây. Thân con ngựa nằm ngang bằng như thể mỗi cú vó đều chạm vào mặt đất vững chãi. Nó chuyển động như đang phi nước đại hoang dại, nhưng ngay khi viên sĩ quan đang nhìn, những chuyển động ấy ngưng lại, cả bốn chân vươn mạnh ra phía trước như lúc sắp đáp xuống sau một cú nhảy. Nhưng đây là một cú bay!

Tràn ngập kinh ngạc và khiếp sợ trước cảnh tượng một kỵ sĩ trên trời, nửa tin rằng mình là người được chọn để ghi chép một ngày tận thế mới, viên sĩ quan bị cảm xúc quá mạnh đánh gục. Chân ông khuỵu xuống và ông ngã. Gần như cùng lúc ấy, ông nghe một tiếng đổ ầm trong đám cây, một tiếng động tắt lịm không vang lại, rồi tất cả im bặt.

Viên sĩ quan run rẩy đứng dậy. Cảm giác quen thuộc của một ống chân bị trầy gọi những giác quan đang choáng váng của ông trở lại. Định thần xong, ông chạy nhanh chếch ra xa vách núi, tới một chỗ cách xa chân vách. Ông đinh ninh sẽ tìm thấy người kia quanh đó, và dĩ nhiên quanh đó ông chẳng tìm thấy gì. Trong khoảnh khắc thoáng qua của cảnh tượng, trí tưởng tượng của ông đã bị vẻ duyên dáng, thong dong và có chủ đích của màn biểu diễn kỳ diệu kia tác động mạnh đến nỗi ông không nghĩ ra rằng kỵ binh trên không thì chỉ hành quân thẳng xuống dưới, và ông có thể tìm thấy thứ mình đang tìm ở ngay chân vách núi. Nửa giờ sau, ông trở về doanh trại.

Viên sĩ quan này là một người khôn ngoan. Ông biết không nên kể một sự thật khó tin. Ông không nói gì về điều mình đã thấy. Nhưng khi viên chỉ huy hỏi ông trong lúc đi trinh sát có biết được điều gì có lợi cho cuộc hành quân không, ông đáp:

– Thưa có. Không có con đường nào từ phía nam dẫn xuống thung lũng này cả.

Viên chỉ huy, vốn biết rõ hơn, mỉm cười.

Bắn xong, binh nhì Các-tơ Đru-xơ nạp lại đạn, tiếp tục canh gác. Chưa đầy mười phút sau, một viên trung sĩ quân Liên bang thận trọng bò tới chỗ anh. Đru-xơ không quay đầu, cũng không nhìn ông ta, mà cứ nằm bất động, không tỏ dấu gì là đã nhận ra.

– Cậu bắn à? – Viên trung sĩ thì thầm.

– Vâng.

– Bắn cái gì?

– Một con ngựa. Nó đứng trên tảng đá đằng kia, khá xa ra ngoài. Anh thấy đấy, nó không còn ở đó nữa. Nó đã rơi xuống vực.

Mặt anh trắng bệch, nhưng anh không để lộ cảm xúc nào khác. Trả lời xong, anh quay mắt đi, không nói gì thêm. Viên trung sĩ không hiểu.

– Này, Đru-xơ, – ông ta nói sau một lúc im lặng, – làm ra vẻ bí mật chẳng ích gì. Tôi ra lệnh cho cậu báo cáo. Trên lưng ngựa có ai không?

– Có.

– Thế thì sao?

– Cha tôi.

Viên trung sĩ đứng dậy, bỏ đi.

– Lạy Chúa! – Ông ta nói.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAmbrose Bierce (1842 – 1914)
Năm mất1914
Xuất bản lần đầu1889
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Horseman in the Sky, Ambrose Bierce, 1889; bản in trong The Collected Works of Ambrose Bierce, tập 2, In the Midst of Life (Project Gutenberg số 13334)
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →