Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một câu chuyện dang dở

của O. Henry

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 13.088 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày nay, nghe nhắc tới lửa địa ngục, ta…
  2. 1:43Họ là ai thế? Tôi hỏi lại.
  3. 2:47Này Xết, tớ có hẹn đi ăn tối nay…
  4. 4:29Đơn-xi đi lên phòng mình, căn phòng phía sau…
  5. 6:57Tôi chịu thôi. Tôi có nghe nói về những…
  6. 9:19Có một quý ông dưới nhà muốn gặp cô,…
  7. 11:00Khóc xong, Đơn-xi đứng dậy, cởi chiếc váy đẹp…
  8. 12:40Như tôi đã nói ở trên, tôi mơ thấy…

Ngày nay, nghe nhắc tới lửa địa ngục, ta chẳng còn rên rỉ và rắc tro lên đầu nữa. Bởi lẽ ngay cả các nhà thuyết giáo cũng bắt đầu bảo ta rằng Thượng Đế là chất ra-đi, là ê-te, hay một hợp chất khoa học nào đó, và cái tệ nhất mà bọn tội lỗi chúng ta có thể chờ đợi chỉ là một phản ứng hoá học. Đó là một giả thuyết dễ nghe. Nhưng đâu đó vẫn còn vương lại chút nỗi kinh sợ tốt lành ngày xưa của đức tin chính thống.

Chỉ có hai đề tài mà người ta có thể tha hồ tưởng tượng khi kể, mà không sợ bị ai cãi lại. Bạn có thể kể về giấc mơ của bạn. Và bạn có thể kể lại điều bạn nghe một con vẹt nói. Cả thần Giấc Ngủ lẫn con chim đều là những nhân chứng không đủ tư cách, và người nghe chẳng dám bắt bẻ lời bạn kể. Vậy thì cái dệt nên từ hư không của một giấc mộng sẽ là đề tài của tôi, chọn nó kèm lời xin lỗi và đôi chút tiếc nuối, thay cho cái địa hạt chật hẹp hơn là những câu tán gẫu của cô vẹt xinh xinh.

Tôi có một giấc mơ, cách xa mọi lí luận phê bình cao siêu đến nỗi nó dính dáng tới cái thuyết cổ xưa, đáng kính và đáng tiếc về toà phán xét cuối cùng.

Thiên thần Gáp-ri-en đã thổi kèn lệnh, và những ai trong chúng tôi không theo kịp thì bị đưa ra thẩm vấn. Tôi để ý thấy ở một bên có một đám người chuyên đứng ra bảo lãnh, mặc đồ đen trang nghiêm, cổ áo cài khuy đằng sau. Nhưng hình như giấy tờ nhà đất của họ có vấn đề gì đó, và có vẻ họ chẳng bảo lãnh được cho ai trong chúng tôi ra cả.

Một viên cảnh sát có cánh, một thiên thần cảnh sát, bay tới chỗ tôi và nắm lấy cánh trái của tôi. Gần đó có một nhóm linh hồn trông rất phong lưu đang bị đưa ra chờ phán xét.

— Anh có cùng bọn với đám kia không? Viên cảnh sát hỏi.

— Họ là ai thế? Tôi hỏi lại.

— À, ông ta nói, họ là...

Nhưng mấy chuyện lan man này đang chiếm mất chỗ của câu chuyện.

Đơn-xi làm ở một cửa hàng bách hoá. Cô bán đăng-ten viền, hoặc ớt nhồi thịt, hoặc ô tô, hoặc những món lặt vặt khác mà người ta vẫn bày trong cửa hàng bách hoá. Trong số tiền cô làm ra, Đơn-xi được nhận sáu đô-la mỗi tuần. Phần còn lại được ghi có cho cô, rồi ghi nợ vào tài khoản của một người khác, trong cuốn sổ cái do Thượng... Ồ, ngài bảo là Năng Lượng Nguyên Thuỷ, thưa ngài mục sư tiến sĩ? Thôi được, vậy thì trong Sổ Cái của Năng Lượng Nguyên Thuỷ.

Năm đầu tiên làm ở cửa hàng, Đơn-xi được trả năm đô-la một tuần. Biết được cô sống bằng số tiền ấy ra sao thì bổ ích lắm. Bạn không quan tâm ư? Thôi được, có lẽ bạn chỉ quan tâm tới những khoản lớn hơn. Sáu đô-la là một khoản lớn hơn. Tôi sẽ kể bạn nghe cô sống thế nào với sáu đô-la một tuần.

Một chiều, lúc sáu giờ, trong khi đang cắm cây ghim mũ cách gáy mình chưa tới ba li, Đơn-xi nói với cô bạn thân Xê-đi, cô gái hay đứng nghiêng người bên trái mà phục vụ bạn:

— Này Xết, tớ có hẹn đi ăn tối nay với Pích-gi đấy.

— Không thể nào! Xê-đi trầm trồ kêu lên. Chà, cậu may thế! Pích-gi sang lắm đấy. Lúc nào anh ta cũng đưa con gái tới những chỗ sang trọng. Có lần anh ta đưa Blăng-sơ tới khách sạn Hốp-man, ở đấy có nhạc sang, và gặp toàn người sang. Cậu sẽ có một buổi tối sang trọng lắm đấy, Đơn.

Đơn-xi vội vã về nhà. Mắt cô sáng long lanh, đôi má ửng hồng nhẹ của bình minh cuộc đời, cuộc đời thật sự, đang tới gần. Hôm ấy là thứ Sáu, và cô còn năm mươi xu trong số tiền lương tuần trước.

Phố xá đầy những dòng người giờ tan tầm. Đèn điện đường Brốt-uê rực sáng, gọi lũ thiêu thân từ hàng dặm, hàng dặm, hàng trăm dặm trong bóng tối xung quanh bay tới dự trường học cháy cánh. Những người đàn ông ăn vận chỉn chu, mặt mũi như những khuôn mặt mà các lão thuỷ thủ già trong nhà dưỡng lão chạm trên hột anh đào, quay lại nhìn chằm chằm Đơn-xi khi cô lướt qua họ mà chẳng để ý gì. Man-hát-tan, đoá quỳnh nở về đêm, đang bắt đầu xoè những cánh hoa trắng bệch, ngào ngạt hương nồng.

Đơn-xi ghé vào một cửa hàng đồ rẻ và dùng năm mươi xu mua một chiếc cổ áo ren giả. Số tiền ấy lẽ ra phải tiêu vào việc khác. Mười lăm xu cho bữa tối, mười xu cho bữa sáng, mười xu cho bữa trưa. Một hào nữa sẽ được góp thêm vào món tiền tiết kiệm nhỏ nhoi của cô. Còn năm xu sẽ được phung phí vào kẹo cam thảo, thứ kẹo ngậm vào làm má phồng lên như đau răng, và ngậm lâu như cơn đau răng. Kẹo cam thảo là một sự hoang phí, gần như một cuộc chè chén, nhưng đời mà chẳng có thú vui thì còn ra gì?

Đơn-xi sống trong một căn phòng thuê sẵn đồ đạc. Phòng thuê sẵn đồ khác nhà trọ có cơm ở chỗ này: ở phòng thuê, chẳng ai biết khi bạn nhịn đói.

Đơn-xi đi lên phòng mình, căn phòng phía sau tầng ba trong một ngôi nhà mặt tiền đá nâu ở khu phía Tây. Cô thắp đèn ga. Các nhà khoa học bảo ta rằng kim cương là chất cứng nhất mà người ta biết. Họ nhầm rồi. Các bà chủ nhà trọ biết một hợp chất mà so với nó thì kim cương chỉ như đất sét. Họ nhét nó vào đầu vòi đèn ga, và người ta có thể đứng trên ghế mà moi nó ra vô ích, cho tới khi ngón tay đỏ ửng, bầm tím. Một chiếc kẹp tóc cũng không lấy nó ra được. Vậy ta hãy gọi nó là bất di bất dịch.

Thế là Đơn-xi thắp đèn ga. Dưới ánh sáng chỉ bằng một phần tư ngọn nến của nó, ta hãy quan sát căn phòng.

Một chiếc giường kiêm ghế dài, một bàn trang điểm, một cái bàn, một bệ rửa mặt, một chiếc ghế. Bà chủ nhà chỉ có tội chừng ấy. Phần còn lại là của Đơn-xi. Trên bàn trang điểm là những báu vật của cô. Một chiếc lọ sứ mạ vàng Xê-đi tặng. Một tờ lịch của xưởng làm dưa muối. Một cuốn sách giải mộng. Ít phấn gạo trong một chiếc đĩa thuỷ tinh. Và một chùm anh đào giả buộc nơ hồng.

Dựa vào tấm gương nhăn nheo là những bức ảnh của tướng Kít-sơ-nơ, của nhà vô địch đô vật Uy-li-am Man-đun, của bà công tước xứ Mác-bơ-rơ, và của nhà điêu khắc Ben-ve-nu-tô Che-li-ni. Trên một bức tường treo một tấm phù điêu bằng thạch cao hình một ông nọ đội mũ sắt kiểu La Mã. Gần đó là một bức tranh in màu sặc sỡ, vẽ một đứa bé màu vàng chanh đang tấn công một con bướm màu lửa. Đó là phán quyết cuối cùng của Đơn-xi về nghệ thuật, nhưng chưa ai từng lật ngược nó. Giấc ngủ của cô chưa bao giờ bị khuấy động bởi những lời xì xào về tranh nhái tranh thật. Chưa nhà phê bình nào nhướng mày trước nhà côn trùng học bé con của cô.

Pích-gi sẽ tới đón cô lúc bảy giờ. Trong khi cô nhanh tay sửa soạn, ta hãy kín đáo quay mặt đi chỗ khác mà buôn chuyện.

Tiền phòng, Đơn-xi trả hai đô-la một tuần. Ngày thường bữa sáng của cô tốn mười xu. Cô pha cà phê và luộc một quả trứng trên ngọn đèn ga trong lúc thay quần áo. Sáng Chủ nhật, cô thết mình một bữa linh đình như vua chúa với sườn bê và bánh dứa rán ở tiệm ăn "Bi-li", tốn hai mươi lăm xu, và còn boa cho cô hầu bàn mười xu. New York bày ra biết bao cám dỗ khiến người ta sa vào hoang phí. Bữa trưa cô ăn ở tiệm ăn trong cửa hàng bách hoá, mất sáu mươi xu một tuần. Bữa tối là một đô-la năm xu. Báo buổi chiều, mà bạn cứ chỉ cho tôi một người New York nào nhịn được tờ báo hằng ngày xem, hết sáu xu. Hai tờ báo Chủ nhật, một tờ để đọc mục rao vặt, một tờ để đọc, mất mười xu. Tổng cộng là bốn đô-la bảy mươi sáu xu. Rồi người ta còn phải mua quần áo, và...

Tôi chịu thôi. Tôi có nghe nói về những món hời kì diệu khi mua vải, về những phép màu làm ra được bằng kim chỉ, nhưng tôi vẫn ngờ ngợ. Tôi cầm bút lơ lửng vô ích khi muốn thêm vào đời Đơn-xi đôi chút niềm vui mà người phụ nữ đáng được hưởng, theo tất cả những luật lệ bất thành văn, thiêng liêng, tự nhiên và chẳng ai thi hành của lẽ công bằng trên trời. Hai lần cô đã ra Cô-ni Ai-lân, và đã cưỡi ngựa gỗ quay vòng. Thật là mệt mỏi khi phải đếm niềm vui của mình theo mùa hè chứ không theo giờ.

Về Pích-gi thì chỉ cần nói một lời. Khi các cô gái đặt cho hắn cái tên có nghĩa là "Lợn Con", họ đã bôi một vết nhơ oan uổng lên dòng họ cao quý nhà lợn. Hắn béo. Hắn có tâm hồn của chuột, thói quen của dơi, và lòng độ lượng của mèo. Hắn mặc quần áo đắt tiền, và là một tay sành sỏi về cái đói. Hắn có thể nhìn một cô bán hàng mà nói chính xác tới từng giờ đã bao lâu rồi cô chưa được ăn thứ gì bổ hơn kẹo dẻo và nước trà. Hắn lảng vảng quanh các khu mua sắm, rình rập trong các cửa hàng bách hoá với những lời mời ăn tối. Ngay cả những gã dắt chó dạo phố bằng một sợi dây cũng khinh hắn. Hắn là một kiểu người. Tôi không thể nói thêm về hắn được nữa. Ngòi bút của tôi không phải loại dành cho hắn. Tôi đâu phải thợ mộc.

Bảy giờ kém mười, Đơn-xi đã sẵn sàng. Cô ngắm mình trong tấm gương nhăn nheo. Hình ảnh trong gương thật vừa ý. Chiếc váy xanh sẫm vừa khít không một nếp nhăn, chiếc mũ cắm chiếc lông đen duyên dáng, đôi găng tay chỉ hơi bẩn một chút, tất cả đều là kết quả của sự nhịn nhục, nhịn cả ăn, và tất cả đều hợp với cô vô cùng.

Trong một thoáng, Đơn-xi quên hết mọi thứ, chỉ còn nhớ rằng cô xinh đẹp, và cuộc đời sắp vén lên một góc tấm màn bí ẩn cho cô ngắm nhìn những điều kì diệu của nó. Trước nay chưa từng có quý ông nào mời cô đi chơi. Giờ đây cô sắp được bước vào, dù chỉ trong khoảnh khắc, chốn hào nhoáng và lộng lẫy.

Các cô bảo Pích-gi là tay "chịu chi". Sẽ có một bữa tối thịnh soạn, có nhạc, có những quý bà ăn vận lộng lẫy để ngắm, và những món ăn lạ đến nỗi các cô cứ trẹo cả hàm khi cố kể lại. Chắc chắn cô sẽ còn được mời đi nữa. Có một bộ áo lụa xanh trong một tủ kính mà cô biết, nếu mỗi tuần để dành hai mươi xu thay vì mười xu, thì trong, để xem nào, ôi, phải tới mấy năm! Nhưng có một cửa hàng đồ cũ trên Đại lộ Bảy, ở đó...

Có tiếng gõ cửa. Đơn-xi ra mở. Bà chủ nhà đứng đó, nụ cười giả lả, mũi khịt khịt đánh hơi xem có ai nấu nướng bằng ga ăn cắp không.

— Có một quý ông dưới nhà muốn gặp cô, bà nói. Tên là ông Uýt-ghin.

Đó là cái tên mà những kẻ bất hạnh buộc phải coi trọng hắn vẫn gọi Pích-gi.

Đơn-xi quay lại bàn trang điểm lấy chiếc khăn tay, rồi bỗng đứng sững lại, cắn chặt môi dưới. Trong lúc ngắm mình trong gương, cô đã thấy xứ thần tiên, và thấy chính mình là một nàng công chúa vừa tỉnh dậy sau giấc ngủ dài. Cô đã quên mất một người đang dõi theo cô bằng đôi mắt buồn bã, đẹp đẽ, nghiêm khắc, người duy nhất có quyền khen hay chê những gì cô làm. Thẳng thớm, mảnh dẻ và cao ráo, trên gương mặt đẹp và u sầu một vẻ trách móc đau buồn, tướng Kít-sơ-nơ đang dán đôi mắt tuyệt vời của ông vào cô từ trong chiếc khung ảnh mạ vàng trên bàn trang điểm.

Đơn-xi quay lại phía bà chủ nhà như một con búp bê lên dây cót.

— Bà bảo ông ấy là tôi không đi được, cô nói, giọng thẫn thờ. Bảo là tôi ốm, hay sao đó. Bảo là tôi không ra ngoài đâu.

Cánh cửa đóng lại và khoá chặt rồi, Đơn-xi ngã vật xuống giường, đè bẹp chiếc lông đen trên mũ, và khóc suốt mười phút. Tướng Kít-sơ-nơ là người bạn duy nhất của cô. Ông là hình mẫu hiệp sĩ hào hoa của Đơn-xi. Trông ông như mang một nỗi buồn thầm kín. Bộ ria tuyệt vời của ông là cả một giấc mơ. Và cô hơi sợ cái nhìn nghiêm khắc mà dịu dàng trong mắt ông. Cô vẫn thường mơ mộng vẩn vơ rằng một ngày nào đó ông sẽ tới nhà hỏi thăm cô, thanh gươm va lách cách vào đôi ủng cao. Có lần nghe một thằng bé quất sợi xích lách cách vào cột đèn, cô đã mở cửa sổ ra nhìn. Nhưng vô ích. Cô biết tướng Kít-sơ-nơ đang ở tận bên Nhật Bản xa xôi, chỉ huy quân đội đánh lại bọn Thổ Nhĩ Kì man rợ, và ông sẽ chẳng bao giờ bước ra khỏi chiếc khung mạ vàng vì cô. Vậy mà tối nay, chỉ một cái nhìn của ông đã đánh bại được Pích-gi. Phải, chỉ tối nay thôi.

Khóc xong, Đơn-xi đứng dậy, cởi chiếc váy đẹp nhất ra, khoác chiếc áo ngủ ki-mô-nô xanh cũ vào. Cô chẳng muốn ăn tối nữa. Cô hát hai đoạn của một bài hát đang thịnh hành. Rồi cô hết sức chú tâm vào một chấm đỏ nhỏ bên cánh mũi. Xử lí xong cái chấm ấy, cô kéo ghế lại gần chiếc bàn ọp ẹp, lấy bộ bài cũ ra bói.

— Đồ khốn kiếp trơ tráo! Cô nói to lên. Mà mình có bao giờ nói một câu hay nhìn một cái để hắn nghĩ thế đâu cơ chứ!

Chín giờ, Đơn-xi lấy trong rương ra một hộp bánh quy bằng thiếc và một lọ mứt mâm xôi nhỏ, và mở tiệc. Cô mời tướng Kít-sơ-nơ một miếng bánh quy phết mứt, nhưng ông chỉ nhìn cô như con nhân sư nhìn một con bướm, nếu như ở sa mạc có bướm.

— Không muốn thì đừng ăn, Đơn-xi nói. Mà cũng đừng có làm bộ làm tịch, đừng có lấy mắt mà mắng người ta như thế. Tôi muốn biết ông có còn cao ngạo, còn đanh đá thế không, nếu ông phải sống bằng sáu đô-la một tuần.

Đơn-xi mà hỗn với tướng Kít-sơ-nơ thì không phải là điềm tốt. Rồi cô úp mặt Ben-ve-nu-tô Che-li-ni xuống bàn bằng một cử chỉ nghiêm khắc. Nhưng việc ấy thì không phải là không thể tha thứ, vì xưa nay cô vẫn tưởng đó là vua Hen-ri Đệ Bát, mà cô thì chẳng ưa gì ông vua ấy.

Chín rưỡi, Đơn-xi nhìn những bức ảnh trên bàn trang điểm lần cuối, tắt đèn, rồi nhảy lên giường. Thật là kinh khủng khi phải đi ngủ với một cái nhìn chúc ngủ ngon dành cho tướng Kít-sơ-nơ, cho Uy-li-am Man-đun, cho bà công tước xứ Mác-bơ-rơ và cho Ben-ve-nu-tô Che-li-ni. Câu chuyện này thật ra chẳng đi tới đâu cả. Phần còn lại sẽ tới sau, vào một lúc nào đó, khi Pích-gi lại mời Đơn-xi đi ăn tối, và cô thấy cô đơn hơn mọi khi, và tướng Kít-sơ-nơ lại tình cờ nhìn đi chỗ khác. Và rồi thì...

Như tôi đã nói ở trên, tôi mơ thấy mình đang đứng gần một đám thiên thần trông rất phong lưu, và một viên cảnh sát nắm lấy cánh tôi, hỏi tôi có cùng bọn với họ không.

— Họ là ai thế? Tôi hỏi.

— À, ông ta nói, họ là những kẻ đã thuê các cô gái lao động, và trả cho họ năm sáu đô-la một tuần để sống. Anh có cùng bọn ấy không?

— Thề có sự bất tử của ông, không đời nào! Tôi đáp. Tôi chỉ là thằng đã đốt một trại trẻ mồ côi, và giết một ông lão mù để cướp mấy đồng xu của ông ấy thôi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: An Unfinished Story, O. Henry, in trong tuyển tập The Four Million
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →