Chuyện này do ông Mác-uy-li-am, một quý ông dễ mến người Niu Oóc, kể lại cho tác giả cuốn sách này, khi hai người tình cờ gặp nhau trên một chuyến đi.
Thôi, quay lại chỗ tôi đang kể trước khi lan man sang giải thích với anh rằng căn bệnh khủng khiếp không thuốc chữa là bạch hầu thanh quản đang hoành hành khắp thị trấn ra sao, làm các bà mẹ sợ phát điên lên thế nào. Tôi chỉ cho bà Mác-uy-li-am nhà tôi thấy bé Pê-nê-lốp, và nói:
“Em yêu, nếu anh là em thì anh không để con bé nhai cái que gỗ thông ấy đâu.”
“Anh quý hoá ơi, thế thì có hại gì?” Bà ấy nói vậy, nhưng đồng thời cũng chuẩn bị giằng cái que đi. Vì đàn bà không thể nhận một lời khuyên, dù sáng suốt rõ rành rành, mà không cãi lại. Tôi nói đàn bà có chồng.
Tôi đáp:
“Em yêu, ai cũng biết gỗ thông là thứ gỗ ít chất bổ nhất mà trẻ con có thể ăn.”
Bàn tay vợ tôi đang định giằng cái que bỗng dừng lại, rồi trở về đặt trên lòng. Bà ấy vênh mặt lên thấy rõ, và nói:
“Anh xã, anh biết thừa là không phải thế. Anh biết mà. Bác sĩ nào cũng bảo nhựa thông trong gỗ thông tốt cho người yếu lưng và yếu thận.”
“À, thế thì anh hiểu lầm. Anh không biết là thận với xương sống của con có vấn đề, và ông bác sĩ gia đình đã khuyên...”
“Ai bảo xương sống với thận của con có vấn đề?”
“Em yêu, em vừa ngụ ý thế.”
“Lại còn thế! Em chẳng bao giờ ngụ ý gì như thế cả.”
“Ơ kìa, em yêu, chưa tới hai phút trước em vừa bảo...”
“Mặc kệ em vừa bảo gì! Em không quan tâm em đã bảo gì. Con nó muốn nhai một mẩu que gỗ thông thì có hại gì đâu, và anh biết rõ thế. Mà nó sẽ nhai, đấy, thế đấy!”
“Thôi, em đừng nói nữa. Giờ thì anh đã thấy cái lý lẽ đanh thép của em rồi, và ngay hôm nay anh sẽ đi đặt mua dăm ba xe gỗ thông loại tốt nhất. Chừng nào anh còn sống thì con anh không phải thiếu...”
“Ôi, anh làm ơn đi tới văn phòng đi cho em được yên. Người ta chẳng nói được câu nào đơn giản nhất mà anh không vin vào, rồi cãi, cãi, cãi mãi cho tới khi anh chẳng còn biết mình đang nói gì, mà xưa nay anh có bao giờ biết đâu.”
“Được rồi, cứ như em nói. Nhưng câu em vừa nói có chỗ thiếu logic, ấy là...”
Thế nhưng tôi chưa nói xong thì bà ấy đã vung tay bỏ đi, mang theo cả con bé. Tối hôm ấy, lúc ăn tối, bà ấy nhìn thẳng vào tôi, mặt trắng bệch như tờ giấy:
“Ôi, Moóc-ti-mơ ơi, lại thêm một đứa nữa! Bé Gióoc-gi Goóc-đơn mắc rồi.”
“Bạch hầu thanh quản à?”
“Bạch hầu thanh quản.”
“Liệu thằng bé còn hy vọng gì không?”
“Chẳng còn tí nào trên đời này. Ôi, rồi chúng mình sẽ ra sao đây!”
Một lúc sau, chị vú bế bé Pê-nê-lốp vào chào bố mẹ đi ngủ, và đọc bài kinh tối quen thuộc bên gối mẹ. Đang đọc dở câu “Giờ con nằm xuống ngủ”, con bé khẽ ho một tiếng! Vợ tôi ngã vật ra như bị tử thần giáng trúng. Nhưng ngay giây sau bà ấy đã đứng bật dậy, tràn trề cái năng nổ mà nỗi kinh hoàng thổi vào người.
Bà ra lệnh chuyển cái nôi của con bé từ phòng trẻ sang phòng ngủ của chúng tôi, rồi đi theo xem lệnh có được thi hành không. Dĩ nhiên bà ấy kéo tôi đi theo. Chúng tôi thu xếp mọi thứ rất nhanh. Một cái giường gấp được kê trong phòng thay đồ của vợ tôi cho chị vú. Nhưng giờ bà Mác-uy-li-am lại bảo chúng tôi ở xa thằng cu quá, nhỡ đêm nay nó cũng lên cơn thì sao. Rồi bà lại tái mặt đi, tội nghiệp.
Thế là chúng tôi lại đưa cái nôi và chị vú trở về phòng trẻ, rồi kê một cái giường cho hai vợ chồng ở phòng bên cạnh.
Nhưng chẳng mấy chốc bà Mác-uy-li-am lại bảo, nhỡ thằng cu lây bệnh của Pê-nê-lốp thì sao? Ý nghĩ ấy gieo vào tim bà ấy một cơn hoảng loạn mới. Cả lũ chúng tôi khiêng cái nôi ra khỏi phòng trẻ nhanh tới đâu cũng chẳng đủ nhanh để vợ tôi vừa lòng, mặc dù chính tay bà ấy cũng xông vào khiêng, vội vã điên cuồng tới mức suýt nữa thì giật tung cái nôi ra từng mảnh.
Chúng tôi dọn xuống tầng dưới. Nhưng dưới ấy không có chỗ nào cho chị vú ngủ, mà bà Mác-uy-li-am bảo kinh nghiệm của chị vú sẽ giúp ích vô cùng. Thế là chúng tôi lại khuân cả bao lẫn bị trở về phòng ngủ của mình một lần nữa, và thấy vui mừng khôn xiết, như những con chim bị bão quăng quật nay tìm lại được tổ.
Bà Mác-uy-li-am chạy vội sang phòng trẻ xem tình hình bên ấy ra sao. Chỉ một lát bà đã quay về với một nỗi sợ mới. Bà nói:
“Có cái gì làm thằng cu ngủ say như thế nhỉ?”
Tôi nói:
“Ơ kìa, em yêu, thằng cu xưa nay vẫn ngủ say như tượng mà.”
“Em biết, em biết chứ. Nhưng giấc ngủ của nó bây giờ có gì đó lạ lắm. Nó có vẻ, có vẻ thở đều quá. Ôi, kinh khủng quá.”
“Nhưng em yêu, xưa nay nó vẫn thở đều mà.”
“Ôi, em biết, nhưng bây giờ nó có gì đó đáng sợ lắm. Chị vú của nó trẻ quá, thiếu kinh nghiệm quá. Phải để bà Ma-ri-a ở bên ấy với chị ta, có chuyện gì còn kịp xoay xở.”
“Ý ấy hay đấy, nhưng ai sẽ giúp em?”
“Anh giúp em là đủ rồi. Mà dù sao lúc như thế này em cũng chẳng để ai làm gì ngoài em.”
Tôi bảo tôi sẽ thấy mình hèn lắm nếu nằm trên giường ngủ, để mặc bà ấy thức trắng cả đêm dài mệt mỏi chăm nom bệnh nhân bé bỏng của chúng tôi. Nhưng bà ấy làm tôi xuôi lòng. Thế là bà già Ma-ri-a đi sang, chiếm lại chỗ ở cũ của mình trong phòng trẻ.
Pê-nê-lốp ho hai tiếng trong giấc ngủ.
“Ôi, sao ông bác sĩ mãi chưa tới! Moóc-ti-mơ, phòng này nóng quá. Phòng này chắc chắn là nóng quá. Tắt lò sưởi đi, nhanh lên!”
Tôi tắt lò, tiện liếc nhìn cái nhiệt kế, và thầm tự hỏi không biết hai mươi mốt độ thì có nóng quá với một đứa trẻ đang ốm không.
Lúc ấy anh đánh xe từ phố về, mang theo tin ông bác sĩ của chúng tôi bị ốm, đang nằm liệt giường. Bà Mác-uy-li-am đưa cặp mắt chết lặng nhìn tôi, rồi nói bằng giọng chết lặng:
“Đấy là ý Trời. Số đã định thế. Xưa nay ông ấy chưa ốm bao giờ. Chưa bao giờ. Chúng mình đã sống không ra sống, Moóc-ti-mơ ạ. Em đã nói với anh bao nhiêu lần rồi. Giờ thì anh thấy hậu quả chưa. Con mình sẽ không bao giờ khỏi được. Anh mà tự tha thứ được cho mình thì cứ việc tạ ơn Trời. Còn em, em không bao giờ tha thứ được cho mình.”
Tôi nói, không có ý làm bà ấy đau lòng, chỉ là chọn chữ không cẩn thận, rằng tôi không thấy chúng tôi đã sống một cuộc đời trác táng đến thế.
“Moóc-ti-mơ! Anh muốn để trời phạt cả thằng cu nữa à!”
Rồi bà bắt đầu khóc, nhưng bỗng kêu lên:
“Chắc ông bác sĩ có gửi thuốc tới chứ!”
Tôi nói:
“Có chứ. Thuốc đây. Anh chỉ chờ em cho anh cơ hội đưa thôi.”
“Thế thì đưa đây! Anh không biết giờ từng giây từng phút đều quý giá à? Mà gửi thuốc thì được ích gì, khi ông ấy biết bệnh này vô phương cứu chữa?”
Tôi bảo còn sống là còn hy vọng.
“Hy vọng! Moóc-ti-mơ, anh chẳng biết mình đang nói gì, chẳng hơn gì đứa trẻ chưa đẻ. Giá mà anh... Trời ơi, hướng dẫn ghi là mỗi giờ cho uống một thìa cà phê! Mỗi giờ! Cứ như chúng mình có cả năm trời để cứu con ấy! Moóc-ti-mơ, làm ơn nhanh lên. Cho cái đứa tội nghiệp đang hấp hối này uống một thìa canh, và cố nhanh lên!”
“Ơ kìa, em yêu, một thìa canh thì có thể...”
“Đừng làm em phát điên!”
Rồi bà quay sang con: “Nào, nào, nào, cục cưng của mẹ, con của mẹ. Thuốc đắng ghê, nhưng tốt cho Nen-li, tốt cho cục vàng của mẹ, uống vào sẽ khỏi. Nào, nào, nào, ngả cái đầu bé bỏng lên ngực mẹ mà ngủ đi, chẳng mấy chốc... Ôi, em biết con không sống nổi tới sáng mất! Moóc-ti-mơ, cứ nửa giờ một thìa canh thì... Ôi, con cần cả thuốc bê-la-đôn nữa, em biết mà, cả thuốc ô đầu nữa. Đi lấy đi, Moóc-ti-mơ. Lần này làm ơn để em làm theo ý em. Anh chẳng biết gì về mấy chuyện này cả.”
Rồi chúng tôi đi ngủ, kê cái nôi sát gối vợ tôi. Cả cái cảnh náo loạn ấy đã làm tôi rã rời, chưa đầy hai phút sau tôi đã ngủ được hơn nửa giấc. Bà Mác-uy-li-am đánh thức tôi dậy:
“Anh yêu, lò sưởi bật chưa đấy?”
“Chưa.”
“Em cũng nghĩ thế. Làm ơn bật lên ngay đi. Phòng lạnh quá.”
Tôi bật lò lên, rồi lại ngủ thiếp đi. Tôi lại bị đánh thức:
“Anh yêu, anh có phiền chuyển cái nôi sang phía giường bên anh không? Bên ấy gần lò sưởi hơn.”
Tôi chuyển, nhưng vấp phải tấm thảm, làm con bé thức giấc. Tôi lại thiu thiu ngủ, trong khi vợ tôi dỗ dành bệnh nhân. Nhưng một lát sau, những lời này lại thì thầm vọng tới, xa xăm, qua màn sương ngái ngủ của tôi:
“Moóc-ti-mơ, giá mà có chút mỡ ngỗng. Anh rung chuông gọi người hộ em được không?”
Tôi mơ màng bò ra khỏi giường, giẫm phải con mèo. Nó kêu lên phản đối, và đáng lẽ đã ăn một cú đá ra trò, nếu cái ghế không lãnh thay.
“Kìa, Moóc-ti-mơ, sao anh lại vặn đèn khí lên cho con nó thức dậy nữa?”
“Vì anh muốn xem anh bị đau tới đâu, Ca-rô-lin ạ.”
“Thế thì xem cả cái ghế nữa, em chắc là nó hỏng rồi. Con mèo tội nghiệp, giả sử anh mà...”
“Thôi, anh chẳng giả sử cái gì về con mèo hết. Chuyện này đã chẳng bao giờ xảy ra nếu cứ để bà Ma-ri-a ở đây làm mấy việc này, vốn là việc của bà ấy chứ có phải việc của anh đâu.”
“Kìa, Moóc-ti-mơ, em nghĩ anh phải thấy xấu hổ khi nói câu ấy. Thật đáng tiếc nếu anh không làm nổi mấy việc nhỏ em nhờ, vào lúc khủng khiếp như thế này, khi con chúng mình...”
“Thôi, thôi, em muốn gì anh cũng làm. Nhưng rung cái chuông này chẳng gọi được ai cả. Đi ngủ hết rồi. Mỡ ngỗng để đâu?”
“Trên bệ lò sưởi trong phòng trẻ. Anh sang bên ấy rồi bảo bà Ma-ri-a...”
Tôi đi lấy mỡ ngỗng về, rồi lại ngủ. Một lần nữa tôi bị gọi dậy:
“Moóc-ti-mơ, em ngại làm phiền anh quá, nhưng phòng vẫn lạnh quá, em không bôi cái này cho con được. Anh nhóm lửa giùm em được không? Củi xếp sẵn cả rồi, chỉ cần quẹt que diêm.”
Tôi lết ra khỏi giường, nhóm lửa, rồi ngồi xuống, buồn thiu.
“Moóc-ti-mơ, đừng ngồi đấy mà cảm lạnh chết bây giờ. Lên giường đi.”
Tôi vừa bước lên giường thì bà ấy nói:
“Nhưng khoan đã. Anh cho con uống thêm ít thuốc nữa đi.”
Tôi cho uống. Đó là thứ thuốc làm trẻ con tỉnh táo ra ít nhiều. Thế là vợ tôi tận dụng lúc con bé thức để lột hết quần áo nó ra, bôi mỡ ngỗng khắp người. Chẳng mấy chốc tôi lại ngủ, nhưng lại một lần nữa phải dậy.
“Moóc-ti-mơ, em thấy có gió lùa. Em thấy rõ ràng. Chẳng gì hại cho bệnh này bằng gió lùa. Anh làm ơn chuyển cái nôi ra trước lò sưởi đi.”
Tôi làm theo, và lại vấp phải tấm thảm. Tôi ném luôn tấm thảm vào lửa. Bà Mác-uy-li-am nhảy khỏi giường cứu nó ra, và chúng tôi có đôi lời qua lại. Tôi lại được chợp mắt một tí, rồi theo yêu cầu, trở dậy làm một miếng thuốc đắp bằng hạt lanh. Miếng thuốc được đặt lên ngực con bé, để yên đó cho nó làm nhiệm vụ chữa lành.
Lửa củi đâu có cháy mãi. Cứ hai mươi phút tôi lại dậy thêm củi một lần. Việc này cho bà Mác-uy-li-am cơ hội rút ngắn khoảng cách giữa các lần uống thuốc xuống mười phút, khiến bà rất hài lòng. Thỉnh thoảng, giữa những lần ấy, tôi lại sắp xếp lại mấy miếng thuốc đắp hạt lanh, rồi dán cao mù tạt và đủ thứ cao dán làm phồng da khác lên bất cứ chỗ nào còn trống trên người con bé.
Rồi gần sáng thì hết củi, vợ tôi muốn tôi xuống hầm lấy thêm. Tôi nói:
“Em yêu, việc ấy vất vả lắm, mà con nó mặc thêm bao nhiêu quần áo thế chắc cũng gần đủ ấm rồi. Hay là mình đắp thêm một lớp thuốc nữa rồi...”
Tôi không nói hết câu, vì bị ngắt lời. Tôi khuân củi từ dưới hầm lên một hồi, rồi lăn ra ngủ, ngáy như chỉ có người đàn ông kiệt hết sức lực, mòn hết tâm hồn mới ngáy được.
Trời vừa sáng rõ, tôi cảm thấy có một bàn tay bấu chặt vai mình, khiến tôi bừng tỉnh. Vợ tôi đang trừng trừng nhìn xuống tôi, thở hổn hển. Vừa nói được thành lời, bà ấy nói:
“Hết rồi! Hết thật rồi! Con nó đổ mồ hôi! Mình phải làm sao đây?”
“Trời đất, em làm anh sợ quá! Anh không biết mình nên làm gì. Hay là cạo mồ hôi cho con rồi đặt lại vào chỗ gió lùa...”
“Ôi, đồ ngốc! Không còn một giây nào để phí nữa! Đi gọi bác sĩ ngay. Tự anh đi. Bảo ông ấy dù sống hay chết cũng phải tới.”
Tôi lôi ông bác sĩ ốm đau tội nghiệp ra khỏi giường mà đưa tới. Ông xem con bé, rồi bảo nó không phải sắp chết. Với tôi, đó là niềm vui không tả xiết, nhưng nó làm vợ tôi tức điên lên như thể ông vừa xúc phạm bà vậy. Rồi ông bảo con bé ho chỉ là do một chút ngứa ngáy vặt vãnh nào đó trong cổ họng. Nghe tới đây, tôi nghĩ vợ tôi đã muốn chỉ cho ông lối ra cửa. Rồi ông bác sĩ bảo ông sẽ làm cho con bé ho mạnh hơn để tống cái vướng ra. Thế là ông cho nó uống một thứ gì đó, làm nó ho một tràng sặc sụa, và chẳng mấy chốc bật ra một mẩu dằm gỗ nho nhỏ.
Ông nói: “Con bé này không bị bạch hầu thanh quản. Nó nhai một mẩu ván gỗ thông hay thứ gì đó đại loại thế, bị mấy mẩu dằm nhỏ dính trong cổ họng. Chẳng hại gì đâu.”
Tôi nói: “Phải, tôi tin là thế lắm. Thật ra, nhựa thông trong mấy mẩu dằm ấy còn rất tốt cho một số bệnh đặc biệt của trẻ con kia đấy. Vợ tôi sẽ nói cho ông biết.”
Nhưng bà ấy không nói. Bà ấy quay đi đầy khinh miệt, rời khỏi phòng. Và từ đó tới nay, có một đoạn trong đời chúng tôi mà hai vợ chồng không bao giờ nhắc tới. Nhờ vậy, dòng đời của chúng tôi cứ thế trôi đi trong sự êm đềm sâu lắng, không chút gợn sóng.
Rất ít người đàn ông có vợ được trải qua một chuyện như của ông Mác-uy-li-am, vì thế tác giả cuốn sách này nghĩ rằng có lẽ cái mới lạ của nó sẽ khiến bạn đọc thấy thú vị đôi chút.
— Hết —
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian