Tám tiếng đồng hồ đi tàu khiến người này buồn ngủ, người kia mất ngủ. Còn tôi, chuyến đi nào cũng làm tôi không ngủ được vào đêm hôm sau.
Tôi tới nhà những người bạn của tôi, gia đình Muy-rê đác-tuy, vào khoảng năm giờ chiều, để ở ba tuần trong trang viên đẹp đẽ của họ ở A-ben. Đó là một ngôi nhà xinh xắn do một ông tổ của họ xây cuối thế kỷ trước, và vẫn thuộc về dòng họ. Vì thế nó có cái vẻ thân mật của những ngôi nhà lúc nào cũng có người ở, có đồ đạc, có hơi người, được chính những con người ấy gìn giữ. Không có gì đổi thay. Không có gì bay hơi khỏi linh hồn của ngôi nhà chưa bao giờ bị dọn trống, với những tấm thảm treo chưa bao giờ bị gỡ đinh, đã sờn đi, phai đi, bạc màu đi trên cùng những bức tường ấy. Không có gì mất đi khỏi những món đồ đạc cổ, chỉ thỉnh thoảng được xê dịch để nhường chỗ cho một món đồ mới, món đồ bước vào đó như một đứa trẻ sơ sinh giữa bầy anh chị em.
Ngôi nhà nằm trên một sườn đồi, giữa một khu vườn dốc xuống tận dòng sông có cây cầu đá hình lưng lừa bắc ngang. Bên kia sông trải ra những đồng cỏ, nơi những con bò béo tốt nhờ cỏ ướt thong thả bước, đôi mắt ươn ướt của chúng như chứa đầy sương sớm, sương mù và vẻ mát lành của đồng cỏ. Tôi yêu ngôi nhà ấy như người ta yêu thứ mình tha thiết mong có được. Năm nào tôi cũng trở lại, vào mùa thu, với một niềm vui vô hạn, và rời nó trong luyến tiếc.
Sau bữa tối với gia đình bạn bè êm đềm ấy, nơi tôi được đón tiếp như người thân, tôi hỏi Pôn Muy-rê, bạn tôi:
— Năm nay cậu cho tớ ở phòng nào?
— Phòng của dì Rô-dơ.
Một giờ sau, bà Muy-rê đác-tuy cùng ba đứa con, hai cô con gái đã lớn và một cậu con trai nghịch ngợm, đưa tôi lên căn phòng của dì Rô-dơ, nơi tôi chưa từng ngủ.
Khi chỉ còn một mình, tôi ngắm nhìn tường vách, đồ đạc, toàn bộ dáng vẻ căn phòng, để tâm hồn mình quen dần với nó. Tôi có biết căn phòng, nhưng chỉ sơ sơ, chỉ vì đã vào đó vài lần và đã liếc nhìn một cách hờ hững bức chân dung vẽ phấn màu của dì Rô-dơ, người đã cho căn phòng cái tên của mình.
Bà dì Rô-dơ già với những lọn tóc cuộn giấy, mờ nhạt sau tấm kính ấy, chẳng nói lên điều gì với tôi cả. Trông bà như một người đàn bà tốt bụng thời xưa, một người đàn bà nguyên tắc và khuôn phép, giỏi giang về châm ngôn đạo đức cũng như về công thức nấu nướng, một trong những bà dì già làm cho tiếng cười phải sợ hãi, những thiên thần ủ dột và nhăn nheo của các gia đình tỉnh lẻ.
Mà tôi cũng chưa từng nghe ai nói về bà. Tôi chẳng biết gì về cuộc đời bà hay cái chết của bà. Bà thuộc thế kỷ này hay thế kỷ trước? Bà rời cõi đời sau một cuộc sống phẳng lặng hay sóng gió? Bà đã trả về trời một tâm hồn trong trắng của gái già, một tâm hồn bình lặng của người vợ, một tâm hồn dịu dàng của người mẹ, hay một tâm hồn từng xao động vì tình yêu? Có can hệ gì tới tôi? Chỉ riêng cái tên "dì Rô-dơ" thôi tôi đã thấy buồn cười, tầm thường, xấu xí.
Tôi cầm một cây đèn nến lên soi gương mặt nghiêm khắc của bà, treo cao trong một khung gỗ thếp vàng cổ. Rồi thấy nó vô nghĩa, khó ưa, thậm chí đáng ghét, tôi chuyển sang xem xét đồ đạc. Tất cả đều có từ cuối thời vua Lu-i thứ mười sáu, thời Cách mạng và thời Chấp chính.
Không có gì, không một chiếc ghế, không một tấm rèm nào lọt vào căn phòng này từ ấy tới nay. Căn phòng phảng phất mùi kỷ niệm, một mùi tinh tế, mùi gỗ, mùi vải, mùi ghế, mùi thảm treo, ở những ngôi nhà nơi những trái tim đã sống, đã yêu, đã đau khổ.
Rồi tôi đi nằm, nhưng không ngủ được. Sau một hai tiếng bồn chồn, tôi quyết định trở dậy viết thư.
Tôi mở một chiếc bàn giấy nhỏ bằng gỗ gụ nẹp đồng, đặt giữa hai cửa sổ, mong tìm được giấy và mực. Nhưng tôi chẳng thấy gì ngoài một cán bút đã mòn vẹt, làm bằng một chiếc lông nhím, hơi bị cắn ở đầu. Tôi sắp đóng chiếc bàn lại thì một điểm sáng lấp lánh thu hút ánh mắt tôi. Đó là một thứ đầu đinh màu vàng, nhô lên một chút tròn tròn ở góc một ngăn kệ.
Lấy ngón tay cạo cạo, tôi có cảm giác nó cựa quậy. Tôi kẹp nó giữa hai móng tay, kéo hết sức. Nó từ từ nhô ra. Đó là một chiếc kim gài dài bằng vàng, được luồn và giấu trong một lỗ trên gỗ.
Để làm gì thế nhỉ? Tôi lập tức nghĩ hẳn nó dùng để mở một cái lò xo giấu một ngăn bí mật, và tôi bắt đầu tìm. Tìm mãi. Sau ít nhất hai giờ lục lọi, tôi phát hiện một lỗ nữa gần như đối diện lỗ thứ nhất, nhưng nằm sâu trong một đường rãnh. Tôi đút chiếc kim vào. Một tấm ván nhỏ bật ra, đập vào mặt tôi, và tôi thấy hai bó thư, những lá thư ố vàng, buộc bằng một dải ruy-băng xanh.
Tôi đã đọc chúng. Và tôi chép lại đây hai lá.
"Vậy là em muốn anh trả lại thư của em, em thân yêu nhất của anh. Đây, nhưng điều đó làm anh đau lòng lắm. Em sợ gì cơ chứ? Sợ anh làm mất ư? Nhưng chúng được khoá kỹ. Sợ có người lấy cắp ư? Nhưng anh canh giữ chúng, vì chúng là báu vật quý nhất của anh.
Phải, điều đó làm anh đau đớn vô cùng. Anh tự hỏi phải chăng tận đáy lòng em có điều gì hối tiếc? Không phải hối tiếc vì đã yêu anh, vì anh biết em vẫn yêu anh, mà là hối tiếc vì đã bày tỏ lên tờ giấy trắng mối tình nồng nàn ấy, trong những giờ phút trái tim em không tâm sự với anh mà với cây bút em cầm trong tay. Khi yêu, ta có nhu cầu tâm sự, nhu cầu tha thiết được nói hay được viết, và ta nói, và ta viết. Lời nói thì bay đi, những lời êm ái làm bằng âm nhạc, bằng không khí và bằng dịu dàng, nồng ấm, nhẹ tênh, bay hơi ngay khi vừa nói ra, chỉ còn lại trong ký ức. Ta không thể nhìn, không thể chạm, không thể hôn chúng, như ta vẫn làm với những con chữ bàn tay em đã viết. Thư của em ư? Phải, anh trả lại em! Nhưng buồn biết bao!
Hẳn là sau đó em đã ngượng ngùng một cách tế nhị trước những lời lẽ không thể xoá đi. Trong tâm hồn nhạy cảm và rụt rè của em, tâm hồn mà một sắc thái mong manh nhất cũng làm tổn thương, em đã hối tiếc vì đã viết cho một người đàn ông rằng em yêu người ấy. Em đã nhớ lại những câu chữ làm xao xuyến ký ức em, và em đã tự nhủ: 'Ta sẽ đốt những lời này thành tro.'
Em hãy vui lên, hãy yên lòng. Thư của em đây. Anh yêu em."
"Anh thân yêu,
Không, anh chưa hiểu, anh chưa đoán ra. Em không hối tiếc, em sẽ không bao giờ hối tiếc vì đã nói với anh tấm lòng của em. Em sẽ còn viết cho anh mãi, nhưng anh phải trả lại em mọi lá thư của em, ngay khi nhận được.
Em sẽ làm anh phật lòng lắm, anh ạ, nếu em nói cho anh lý do của đòi hỏi ấy. Nó không thơ mộng như anh nghĩ, mà rất thực tế. Em sợ, chắc chắn không phải sợ anh, mà sợ sự tình cờ. Em là người có lỗi. Em không muốn lỗi lầm của em liên luỵ tới ai khác ngoài em.
Anh hãy hiểu cho em. Chúng ta có thể chết, anh hay em. Anh có thể chết vì ngã ngựa, vì ngày nào anh cũng cưỡi ngựa. Anh có thể chết vì đột quỵ, vì một cuộc đấu súng, vì đau tim, vì tai nạn xe ngựa, vì hàng nghìn cách, vì nếu cái chết chỉ có một, thì cách để đón nhận nó còn nhiều hơn số ngày chúng ta được sống.
Thế thì chị gái anh, anh trai anh và chị dâu anh sẽ tìm thấy thư của em ư?
Anh có tin là họ yêu quý em không? Em thì chẳng tin lắm. Mà kể cả họ có quý em đến mấy, liệu có thể nào hai người đàn bà và một người đàn ông, đã biết một bí mật, một bí mật như thế, lại không kể ra không?
Em có vẻ đang nói một điều thật xấu xa khi nói về cái chết của anh trước, rồi lại nghi ngờ sự kín đáo của người nhà anh.
Nhưng một ngày nào đó chúng ta đều sẽ chết, phải không anh? Và gần như chắc chắn một trong hai chúng ta sẽ xuống mồ trước người kia. Vậy phải lường trước mọi nguy hiểm, kể cả nguy hiểm ấy.
Còn em, em sẽ giữ thư của anh bên cạnh thư của em, trong ngăn bí mật của chiếc bàn giấy nhỏ của em. Em sẽ chỉ cho anh thấy chúng ở đó, trong chỗ giấu bọc lụa, nằm ngủ cạnh nhau, đầy ắp tình yêu của chúng ta, như những người yêu nhau trong một nấm mồ.
Anh sẽ bảo em: 'Nhưng em yêu, nếu em chết trước thì chồng em sẽ tìm thấy những lá thư ấy.'
Ồ, em thì em chẳng sợ gì. Trước hết, ông ấy không biết ngăn bí mật trong bàn của em, và ông ấy cũng sẽ không tìm. Mà kể cả ông ấy có tìm thấy sau khi em chết, em cũng chẳng sợ gì.
Anh có bao giờ nghĩ tới tất cả những lá thư tình người ta tìm thấy trong ngăn kéo của những người đàn bà đã khuất không? Em thì đã nghĩ tới từ lâu, và chính những suy nghĩ dài lâu ấy đã khiến em quyết định đòi lại thư của mình.
Anh hãy nghĩ xem, chưa bao giờ, anh nghe rõ chứ, chưa bao giờ một người đàn bà đốt, xé, huỷ những lá thư nói rằng mình được yêu. Cả cuộc đời chúng em nằm ở đó, cả niềm hy vọng, cả sự chờ đợi, cả giấc mơ của chúng em. Những mẩu giấy nhỏ mang tên chúng em và vuốt ve chúng em bằng những lời êm ái ấy là những thánh tích, và chúng em tôn thờ những điện thờ, nhất là những điện thờ mà chính chúng em là các vị thánh. Những lá thư tình của chúng em là bằng chứng nhan sắc của chúng em, bằng chứng duyên dáng và quyến rũ của chúng em, niềm kiêu hãnh thầm kín của người đàn bà, là kho báu của trái tim chúng em. Không, không, chẳng bao giờ một người đàn bà huỷ đi những văn khố bí mật và ngọt ngào của đời mình.
Nhưng chúng em cũng chết như mọi người, và khi ấy... khi ấy người ta tìm thấy những lá thư ấy chăng? Ai tìm thấy? Người chồng? Thế rồi ông ấy làm gì? Chẳng làm gì cả. Ông ấy đốt chúng đi.
Ồ, em đã nghĩ nhiều về chuyện ấy, nhiều lắm. Anh hãy nghĩ xem, ngày nào cũng có những người đàn bà từng được yêu qua đời, ngày nào những dấu vết, những bằng chứng về lỗi lầm của họ cũng rơi vào tay người chồng, thế mà chưa bao giờ có một vụ tai tiếng nổ ra, chưa bao giờ có một cuộc đấu súng diễn ra.
Anh hãy nghĩ xem đàn ông là thế nào, trái tim đàn ông là thế nào. Người ta trả thù một người đàn bà còn sống. Người ta đấu với kẻ làm mình mất danh dự, người ta giết hắn chừng nào người đàn bà còn sống, bởi vì... phải, vì sao nhỉ? Em không biết rõ. Nhưng nếu sau khi nàng chết, người ta tìm thấy những bằng chứng như thế, thì người ta đốt chúng đi, rồi coi như không biết gì, rồi vẫn tiếp tục chìa tay bắt tay người bạn của người đã khuất, và còn mừng vì những lá thư ấy không lọt vào tay người ngoài, mừng vì biết chúng đã bị huỷ.
Ồ, trong đám bạn bè em, em biết biết bao người đàn ông hẳn đã phải đốt những bằng chứng như thế, rồi làm như không biết gì, trong khi hẳn họ đã đấu súng điên cuồng nếu tìm thấy chúng lúc nàng còn sống. Nhưng nàng đã chết rồi. Danh dự đã đổi khác. Nấm mồ khiến lỗi lầm ngoại tình hết hạn truy cứu.
Vậy nên em có thể giữ những lá thư của chúng ta, những lá thư mà ở trong tay anh là mối đe doạ cho cả hai ta.
Anh dám bảo là em không có lý không?
Em yêu anh và hôn lên tóc anh.
Rô-dơ."
Tôi ngước mắt nhìn bức chân dung dì Rô-dơ, nhìn gương mặt nghiêm khắc, nhăn nheo, hơi độc ác của bà, và tôi nghĩ tới tất cả những tâm hồn đàn bà mà chúng ta không hề biết, mà chúng ta tưởng khác hẳn con người thật của họ, mà chúng ta chẳng bao giờ thấu được cái mưu mẹo bẩm sinh và giản dị, cái hai mặt điềm tĩnh của họ. Và câu thơ của Vi-nhi trở lại trong trí nhớ tôi:
"Mãi là người bạn đường mà trái tim khó lòng tin chắc."
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn