Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Những người đẹp

của Anton Chekhov

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 17.066 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi nhớ, hồi còn là học sinh lớp năm…
  2. 3:58Tôi sẵn sàng thề rằng Ma-sa, hay như bố…
  3. 5:28Cô gái khá lắm.
  4. 8:01Uống trà xong, ông tôi đi ngủ, còn tôi…
  5. 11:34Và cô cùng vẻ đẹp của mình càng thấp…
  6. 13:17Bóng chiều đã phủ lên khu vườn nhỏ của…
  7. 14:45Nếu theo lệ thường mà tả dung nhan cô…
  8. 17:09Có lẽ anh thấy buồn và không muốn rời…

Tôi nhớ, hồi còn là học sinh lớp năm hay lớp sáu trường trung học, tôi cùng ông nội đi từ làng Bôn-sai-a Kriếp-cai-a, vùng sông Đông, lên Rô-xtốp trên sông Đông. Đó là một ngày tháng Tám nóng nực, buồn tẻ đến mỏi mệt. Vì nóng, và vì cơn gió khô, nóng hầm hập thổi những đám bụi về phía chúng tôi, mắt cứ díp lại, miệng khô khốc. Chẳng muốn nhìn, chẳng muốn nói, chẳng muốn nghĩ gì cả, và khi anh xà ích Các-pô người Ukraina, đang ngủ gật, vung roi định quất ngựa mà lại quất trúng mũ tôi, tôi cũng chẳng phản đối, chẳng kêu lên một tiếng, mà chỉ choàng tỉnh khỏi giấc ngủ chập chờn, buồn bã và nhẫn nhục nhìn ra xa: qua làn bụi kia có thấy làng mạc nào không? Chúng tôi dừng lại cho ngựa ăn ở Ba-khơ-chi Xa-lác, một làng lớn của người Ác-mê-ni, tại nhà một người Ác-mê-ni giàu có quen biết với ông tôi. Cả đời tôi chưa từng thấy ai trông như tranh biếm hoạ hơn người Ác-mê-ni ấy. Các bạn hãy hình dung một cái đầu nhỏ, tóc cắt ngắn, lông mày rậm rủ xuống thấp, mũi khoằm như mỏ chim, bộ ria dài bạc trắng, và cái miệng rộng ngậm một cái tẩu dài bằng gỗ anh đào. Cái đầu ấy được gắn một cách vụng về lên một thân hình gầy gò, gù lưng, mặc một bộ quần áo kỳ quái: chiếc áo cộc màu đỏ và chiếc quần thụng rộng màu xanh lơ rực rỡ. Cái hình người ấy đi dạng chân, lê dép loẹt quẹt, nói mà không bỏ tẩu ra khỏi miệng, và giữ một phong thái đường bệ: không mỉm cười, trợn tròn mắt, và cố để ý đến khách khứa càng ít càng tốt.

Trong nhà người Ác-mê-ni không có gió, cũng chẳng có bụi, nhưng cũng khó chịu, ngột ngạt và buồn tẻ y như ngoài thảo nguyên và trên đường. Tôi nhớ, người đầy bụi bặm và rã rời vì nắng, tôi ngồi trong góc nhà trên một chiếc hòm màu xanh lá. Những bức tường gỗ không sơn, đồ đạc và sàn nhà quét màu đất son toả ra mùi gỗ khô bị nắng hun. Nhìn đâu cũng thấy ruồi, ruồi và ruồi… Ông tôi và người Ác-mê-ni nói chuyện khe khẽ về bãi chăn thả, về đồng cỏ, về đàn cừu… Tôi biết rằng nhóm ấm xa-mô-va sẽ mất cả tiếng đồng hồ, ông tôi sẽ uống trà không dưới một tiếng, rồi sau đó sẽ nằm ngủ hai, ba tiếng nữa, rằng một phần tư ngày của tôi sẽ trôi qua trong chờ đợi, rồi sau đó lại nắng nóng, lại bụi bặm, lại những con đường xóc nảy. Tôi nghe tiếng rì rầm của hai giọng nói, và bắt đầu có cảm giác rằng người Ác-mê-ni, cái tủ bát đĩa, lũ ruồi, những ô cửa sổ có nắng nóng rọi vào, tôi đã nhìn thấy từ lâu lắm rồi, và sẽ chỉ thôi không nhìn thấy chúng nữa trong một tương lai rất xa. Và lòng tôi tràn ngập nỗi căm ghét thảo nguyên, căm ghét mặt trời, căm ghét lũ ruồi…

Một người đàn bà Ukraina trùm khăn mang vào một khay bát đĩa, rồi đến ấm xa-mô-va. Người Ác-mê-ni thong thả bước ra gian ngoài, gọi to:

— Ma-sia! Ra rót trà đi! Con đâu rồi? Ma-sia!

Có tiếng chân vội vã, và một cô gái bước vào phòng, mặc chiếc váy vải hoa giản dị, quàng chiếc khăn trắng nhỏ. Trong lúc rửa chén và rót trà, cô đứng quay lưng về phía tôi, và tôi chỉ nhận thấy rằng cô đi chân đất.

Ông chủ nhà mời tôi uống trà. Ngồi vào bàn, tôi nhìn vào mặt cô gái đang đưa cốc cho tôi, và bỗng thấy như có một làn gió thổi qua tâm hồn tôi, cuốn sạch mọi ấn tượng trong ngày với tất cả nỗi buồn chán và bụi bặm của chúng. Tôi nhìn thấy những nét quyến rũ của gương mặt đẹp nhất mà tôi từng gặp ngoài đời hay mơ thấy trong giấc ngủ. Trước mặt tôi là một người đẹp, và tôi hiểu ra điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên, như người ta hiểu một tia chớp.

Tôi sẵn sàng thề rằng Ma-sa, hay như bố cô gọi là Ma-sia, là một người đẹp thật sự, nhưng tôi không biết chứng minh thế nào. Đôi khi có những đám mây tụ lại lộn xộn ở chân trời, và mặt trời nấp sau chúng, nhuộm chúng và bầu trời thành đủ mọi màu sắc: đỏ thẫm, da cam, vàng óng, tím, hồng úa. Đám mây này giống một ông thầy tu, đám kia giống một con cá, đám nọ giống một người Thổ Nhĩ Kỳ quấn khăn. Ráng chiều bao trùm một phần ba bầu trời, lấp lánh trên cây thánh giá nhà thờ và trên những ô kính của ngôi nhà chủ đất, phản chiếu xuống dòng sông và những vũng nước, run rẩy trên những hàng cây. Xa xa, trên nền ráng chiều, một đàn vịt trời đang bay về đâu đó để nghỉ đêm… Và cậu bé chăn bò đang lùa đàn bò về, và ông đạc điền đang ngồi xe ngựa đi qua con đập, và những ông bà đang dạo chơi, tất cả đều ngắm hoàng hôn, và tất cả không trừ một ai đều thấy nó đẹp vô cùng, nhưng không ai biết và không ai nói được cái đẹp ở đây là ở chỗ nào.

Không chỉ mình tôi thấy cô gái Ác-mê-ni ấy đẹp. Ông tôi, một ông già tám mươi tuổi, tính tình khắc nghiệt, dửng dưng với đàn bà và với vẻ đẹp của thiên nhiên, đã âu yếm nhìn Ma-sa suốt một phút, rồi hỏi:

— Con gái ông đấy à, ông A-vết Na-da-rư-tsơ?

Ông chủ nhà đáp:

— Con gái. Con gái tôi đấy…

Ông tôi khen:

— Cô gái khá lắm.

Một hoạ sĩ hẳn sẽ gọi vẻ đẹp của cô gái Ác-mê-ni là cổ điển và nghiêm trang. Đó đúng là cái vẻ đẹp mà khi ngắm nhìn, chẳng biết từ đâu, ta bỗng tin chắc rằng mình đang thấy những đường nét hoàn hảo, rằng mái tóc, đôi mắt, cái mũi, cái miệng và mọi cử động của cô hoà quyện vào nhau thành một hợp âm trọn vẹn, hài hoà, trong đó tạo hoá không nhầm lẫn dù chỉ một nét nhỏ nhất. Chẳng hiểu sao ta có cảm giác rằng một người con gái đẹp hoàn hảo phải có đúng cái mũi như của Ma-sa, thẳng và hơi gồ lên một chút, đúng đôi mắt to sẫm màu như thế, hàng mi dài như thế, ánh nhìn lim dim như thế, rằng mái tóc đen xoăn và đôi lông mày của cô hợp với màu trắng mịn màng của vầng trán và đôi má như đám lau xanh hợp với dòng sông lặng lẽ. Ma-sa hãy còn là một thiếu nữ non nớt, nhưng ta có cảm giác muốn vẽ lại được vẻ đẹp ấy thì phải có một tài năng sáng tạo lớn lao. Ta cứ nhìn, và dần dần ta muốn nói với Ma-sa một điều gì đó dễ chịu vô cùng, chân thành, đẹp đẽ, cũng đẹp như chính cô vậy.

Thoạt đầu tôi thấy tủi và xấu hổ vì Ma-sa chẳng để ý gì đến tôi, mà cứ nhìn xuống suốt. Tôi có cảm giác như có một bầu không khí riêng, hạnh phúc và kiêu hãnh, ngăn cách cô với tôi và ghen tuông che chắn cô khỏi ánh mắt tôi.

Tôi nghĩ: "Là vì mình người đầy bụi bặm, rám nắng, và vì mình hãy còn là một thằng bé."

Nhưng rồi dần dần tôi quên cả bản thân mình và buông mình hoàn toàn vào cảm giác về cái đẹp. Tôi không còn nhớ đến nỗi buồn chán của thảo nguyên, đến bụi bặm, không nghe thấy tiếng ruồi vo ve, không biết trà có vị gì, mà chỉ cảm thấy rằng bên kia bàn, trước mặt tôi, có một cô gái đẹp đang đứng.

Tôi cảm nhận cái đẹp một cách thật lạ lùng. Ma-sa không khơi dậy trong tôi ham muốn, cũng không phải sự say mê hay khoái cảm, mà là một nỗi buồn nặng nề, tuy dễ chịu. Nỗi buồn ấy mơ hồ, chập chờn như một giấc mơ. Chẳng hiểu sao tôi thấy thương cả bản thân mình, cả ông tôi, cả người Ác-mê-ni, cả chính cô gái, và trong tôi có một cảm giác như thể cả bốn chúng tôi đã đánh mất một điều gì đó quan trọng và cần thiết cho cuộc sống, mà sẽ chẳng bao giờ tìm lại được nữa. Ông tôi cũng buồn đi. Ông không còn nói chuyện đồng cỏ và đàn cừu nữa, mà lặng im, đăm chiêu nhìn Ma-sa.

Uống trà xong, ông tôi đi ngủ, còn tôi ra khỏi nhà, ngồi trên bậc thềm. Ngôi nhà, cũng như mọi ngôi nhà khác ở Ba-khơ-chi Xa-lác, đứng giữa nắng chang chang, chẳng có cây cối, chẳng có mái hiên, chẳng có bóng râm. Cái sân rộng của người Ác-mê-ni mọc đầy cỏ dại, dù nắng gay gắt, vẫn rộn ràng và tràn đầy niềm vui. Sau một trong những hàng rào thấp chia cắt cái sân rộng chỗ này chỗ kia, người ta đang đập lúa. Quanh một cái cột cắm ngay giữa sân đập, mười hai con ngựa thắng thành một hàng, tạo thành một cái bán kính dài, đang chạy vòng tròn. Bên cạnh có một người Ukraina mặc áo gi-lê dài, quần thụng rộng, đi qua đi lại, quất roi đen đét và hét lên bằng cái giọng như muốn trêu chọc lũ ngựa và khoe cái quyền của mình đối với chúng:

— A-a-a, đồ khốn kiếp! A-a-a… dịch tả nó vật chúng mày đi! Sợ chưa?

Những con ngựa màu nâu đỏ, màu trắng và màu khoang không hiểu vì sao người ta bắt chúng chạy vòng quanh một chỗ mà giẫm lên rơm lúa mì, nên chạy một cách miễn cưỡng, như thể quá sức mình, và phẩy đuôi ra chiều phật ý. Gió cuốn lên từ dưới vó chúng cả những đám trấu vàng óng và đưa đi xa qua hàng rào. Bên những đống rơm cao mới chất, những người đàn bà cầm cào lúi húi làm, những chiếc xe bò chuyển động, còn sau những đống rơm, ở một cái sân khác, một tá ngựa khác cũng chạy vòng quanh một cái cột, và một người Ukraina khác cũng quất roi đen đét và chế giễu lũ ngựa.

Những bậc thềm tôi ngồi nóng bỏng. Trên hàng lan can mảnh và trên khung cửa sổ, chỗ này chỗ kia, nhựa gỗ rỉ ra vì nóng. Dưới các bậc thềm và dưới những cánh cửa chớp, trong những vệt bóng râm, lũ bọ đỏ nép vào nhau. Mặt trời thiêu đốt đầu tôi, ngực tôi, lưng tôi, nhưng tôi không để ý, chỉ cảm thấy sau lưng mình, ngoài gian ngoài và trong các phòng, những bàn chân trần gõ lộp cộp trên sàn ván. Dọn chén trà xong, Ma-sia chạy xuống các bậc thềm, làm một làn gió phả vào tôi, và như một con chim, cô bay đến một gian nhà phụ nhỏ ám khói, có lẽ là nhà bếp, từ đó bốc ra mùi thịt cừu nướng và vang ra tiếng nói giận dữ bằng tiếng Ác-mê-ni. Cô biến mất sau khung cửa tối, và thay vào chỗ cô, trên ngưỡng cửa hiện ra một bà già Ác-mê-ni lưng còng, mặt đỏ, mặc quần thụng màu xanh lá. Bà già đang giận dữ và mắng mỏ ai đó. Chẳng mấy chốc, Ma-sia hiện ra ở ngưỡng cửa, mặt đỏ ửng vì hơi nóng nhà bếp, trên vai vác một ổ bánh mì đen to. Uốn mình duyên dáng dưới sức nặng của ổ bánh, cô chạy băng qua sân tới chỗ đập lúa, lách qua hàng rào, rồi chìm vào một đám trấu vàng óng, khuất sau những chiếc xe bò. Người Ukraina đang thúc ngựa hạ roi xuống, im bặt, lặng lẽ nhìn về phía những chiếc xe bò một lúc. Rồi khi cô gái Ác-mê-ni lại thấp thoáng bên lũ ngựa và nhảy qua hàng rào, anh ta đưa mắt nhìn theo cô và quát lũ ngựa bằng cái giọng như đang rất buồn phiền:

— Chà, quỷ tha ma bắt chúng mày đi!

Và suốt thời gian sau đó, tôi không ngớt nghe tiếng bước chân trần của cô và nhìn thấy cô, vẻ mặt nghiêm trang, bận rộn, chạy khắp sân. Cô khi thì chạy qua các bậc thềm, làm gió phả vào tôi, khi thì vào bếp, khi ra sân đập lúa, khi ra ngoài cổng, và tôi quay đầu theo không kịp.

Và cô cùng vẻ đẹp của mình càng thấp thoáng trước mắt tôi nhiều bao nhiêu, nỗi buồn của tôi lại càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Tôi thấy thương cả mình, cả cô, cả người Ukraina kia, người lần nào cũng buồn bã đưa mắt nhìn theo cô mỗi khi cô băng qua đám trấu chạy về phía những chiếc xe bò. Phải chăng tôi ghen tị với vẻ đẹp của cô, hay tôi tiếc rằng cô gái này không phải của tôi và sẽ chẳng bao giờ là của tôi, và tôi chỉ là người xa lạ với cô, hay tôi mơ hồ cảm thấy rằng vẻ đẹp hiếm có của cô chỉ là tình cờ, chẳng để làm gì, và như mọi thứ trên trái đất, không trường tồn, hay có lẽ nỗi buồn của tôi chính là cái cảm xúc đặc biệt mà người ta có khi ngắm nhìn cái đẹp thật sự, có Chúa mới biết!

Ba giờ chờ đợi trôi qua lúc nào không hay. Tôi có cảm giác như tôi chưa kịp ngắm Ma-sa cho thoả thì Các-pô đã ra sông tắm cho ngựa về và bắt đầu thắng xe. Con ngựa ướt sũng khịt mũi khoan khoái và gõ vó vào càng xe. Các-pô quát nó: "Lù-ùi!" Ông tôi thức dậy. Ma-sia mở cổng kẽo kẹt cho chúng tôi, chúng tôi lên xe và ra khỏi sân. Chúng tôi đi trong im lặng, như thể đang giận nhau.

Chừng hai ba giờ sau, khi Rô-xtốp và Na-khi-chê-van hiện ra ở đằng xa, Các-pô, người suốt dọc đường không nói câu nào, bỗng ngoảnh lại nói:

— Cô con gái lão Ác-mê-ni xinh thật!

Rồi anh ta quất ngựa.

Một lần khác, khi đã là sinh viên, tôi đi tàu hoả xuống phương nam. Đó là tháng Năm. Ở một ga nào đó, hình như giữa Ben-gô-rốt và Khác-cốp, tôi xuống tàu đi dạo trên sân ga.

Bóng chiều đã phủ lên khu vườn nhỏ của nhà ga, lên sân ga và cánh đồng. Toà nhà ga che khuất hoàng hôn, nhưng nhìn những cuộn khói trên cùng bốc lên từ đầu máy, nhuộm một màu hồng dịu dàng, thì biết mặt trời vẫn chưa lặn hẳn.

Đi dạo trên sân ga, tôi nhận thấy phần lớn hành khách đang tản bộ đều chỉ đi lại và đứng quanh một toa hạng nhì, với vẻ mặt như thể trong toa ấy có một nhân vật lừng danh nào đó. Trong số những người tò mò mà tôi gặp bên toa ấy, có cả người bạn đồng hành của tôi, một sĩ quan pháo binh, một anh chàng thông minh, ấm áp và dễ mến, như tất cả những người mà ta tình cờ quen trong lúc đi đường, chẳng được bao lâu.

Tôi hỏi:

— Anh xem gì ở đây thế?

Anh không đáp gì, chỉ đưa mắt ra hiệu cho tôi nhìn một bóng dáng phụ nữ. Đó là một cô gái còn trẻ, chừng mười bảy, mười tám tuổi, mặc trang phục kiểu Nga, đầu để trần, khoác hờ một chiếc áo choàng nhỏ trên một bên vai. Cô không phải hành khách, mà có lẽ là con gái hay em gái của ông trưởng ga. Cô đứng bên cửa sổ toa tàu, nói chuyện với một bà hành khách đã có tuổi. Tôi chưa kịp nhận ra mình đang nhìn thấy gì, thì một cảm giác đã xâm chiếm lấy tôi, chính cái cảm giác tôi đã có ngày nào ở ngôi làng Ác-mê-ni.

Cô gái là một người đẹp tuyệt vời, và cả tôi lẫn những người đang cùng tôi ngắm cô đều không hề nghi ngờ điều đó.

Nếu theo lệ thường mà tả dung nhan cô từng phần một, thì thật sự đẹp ở cô chỉ có mái tóc vàng óng, gợn sóng, dày dặn, xoã ra và buộc trên đầu bằng một dải ruy băng đen, còn mọi thứ khác thì hoặc không cân đối, hoặc rất bình thường. Chẳng biết vì một kiểu làm duyên đặc biệt hay vì cận thị, mà đôi mắt cô nheo lại. Cái mũi hếch lên một cách ngập ngừng, miệng nhỏ, đường nét khuôn mặt nhìn nghiêng mờ nhạt, yếu ớt, đôi vai hẹp so với tuổi. Vậy mà cô gái vẫn gây ấn tượng của một người đẹp thật sự, và nhìn cô, tôi tin chắc rằng một gương mặt Nga muốn có vẻ đẹp thì chẳng cần những đường nét chuẩn mực nghiêm ngặt. Hơn thế nữa, giả như thay cái mũi hếch của cô bằng một cái mũi khác, cân đối và hoàn hảo như tượng tạc, như mũi cô gái Ác-mê-ni, thì có lẽ gương mặt cô sẽ mất hết vẻ duyên dáng.

Đứng bên cửa sổ trò chuyện, cô gái co người lại vì hơi ẩm buổi chiều, chốc chốc lại ngoảnh nhìn chúng tôi, khi thì chống nạnh, khi thì đưa tay lên sửa tóc, cô nói, cô cười, nét mặt khi thì làm ra vẻ ngạc nhiên, khi thì kinh hãi, và tôi không nhớ có lúc nào dáng điệu và gương mặt cô được yên. Toàn bộ bí mật và phép màu trong vẻ đẹp của cô chính là ở những cử động nhỏ nhặt, duyên dáng vô cùng ấy, ở nụ cười, ở nét mặt biến đổi, ở những cái liếc nhanh về phía chúng tôi, ở sự hoà quyện giữa vẻ thanh tao của những cử động ấy với tuổi trẻ, sự tươi tắn, sự trong trẻo của tâm hồn vang lên trong tiếng cười và giọng nói, và với cái vẻ mong manh mà chúng ta vẫn yêu biết bao ở trẻ con, ở loài chim, ở những chú hươu non, ở những cây non.

Đó là một vẻ đẹp của cánh bướm, hợp với điệu van-xơ, với những bước chạy chân sáo trong vườn, với tiếng cười, với niềm vui, và chẳng ăn nhập gì với ý nghĩ nghiêm trang, với nỗi buồn và sự tĩnh lặng. Và dường như chỉ cần một cơn gió mạnh thổi qua sân ga hay một trận mưa đổ xuống, là con người mảnh mai ấy sẽ bỗng úa tàn, và vẻ đẹp đỏng đảnh kia sẽ rụng rơi như phấn hoa.

Khi chúng tôi nghe hồi chuông thứ hai mà quay về toa của mình, viên sĩ quan thở dài lẩm bẩm:

— Ra thế…

Còn cái tiếng "ra thế" ấy có nghĩa là gì thì tôi không dám đoán.

Có lẽ anh thấy buồn và không muốn rời người đẹp và buổi chiều xuân mà vào toa tàu ngột ngạt, hoặc có lẽ, cũng như tôi, anh vô cớ thấy thương cả người đẹp, cả bản thân anh, cả tôi, và tất cả những hành khách đang uể oải, miễn cưỡng lê bước về toa của mình. Đi ngang qua cửa sổ nhà ga, nơi có một nhân viên điện báo xanh xao, tóc đỏ quăn cao, khuôn mặt gò má cao bạc phếch, đang ngồi bên máy, viên sĩ quan thở dài nói:

— Tôi dám cá là anh chàng điện báo viên kia đang yêu cô gái xinh xắn ấy. Sống giữa đồng không mông quạnh, chung một mái nhà với sinh vật nhẹ như mây ấy mà không yêu, thì quá sức con người. Mà bạn thân mến ạ, bất hạnh biết bao, trớ trêu biết bao, khi mình lưng còng, tóc tai bờm xờm, xám xịt, tử tế và chẳng ngốc nghếch gì, mà lại đi yêu một cô bé xinh xắn và khờ khạo, người chẳng thèm để ý chút nào đến mình! Hoặc tệ hơn nữa: anh thử hình dung anh chàng điện báo viên này đang yêu, mà đồng thời lại đã có vợ, và vợ anh ta cũng lưng còng, tóc tai bờm xờm và tử tế y như anh ta… Thật là cực hình!

Gần toa của chúng tôi, người soát vé đứng tì khuỷu tay vào lan can bậc lên xuống, nhìn về phía người đẹp đang đứng. Khuôn mặt ông ta, sạm rượu, phị ra, no nê một cách khó ưa, mỏi mệt vì những đêm mất ngủ và những cơn lắc lư của toa tàu, lộ vẻ cảm động và một nỗi buồn sâu thẳm, như thể ở cô gái ông ta nhìn thấy tuổi trẻ của mình, hạnh phúc của mình, sự tỉnh táo, trong sạch của mình, vợ con mình, như thể ông ta đang ăn năn, và cảm thấy bằng cả con người mình rằng cô gái kia không phải của mình, và rằng với tuổi già đến sớm, với sự vụng về và khuôn mặt béo nhẫy của mình, ông ta còn xa thứ hạnh phúc bình thường của con người, của một hành khách, cũng xa như xa bầu trời.

Hồi chuông thứ ba vang lên, những tiếng còi rúc, và đoàn tàu uể oải chuyển bánh. Qua những ô cửa sổ của chúng tôi, thoạt tiên lướt qua người soát vé, ông trưởng ga, rồi đến khu vườn, rồi người đẹp với nụ cười tuyệt diệu, tinh nghịch như trẻ con…

Thò người ra ngoài nhìn lại phía sau, tôi thấy cô đưa mắt nhìn theo đoàn tàu, rồi đi dọc sân ga, ngang qua ô cửa sổ nơi anh điện báo viên đang ngồi, sửa lại mái tóc rồi chạy vào vườn. Nhà ga không còn che khuất phía tây nữa, cánh đồng đã mở ra, nhưng mặt trời đã lặn, và khói bò thành những cuộn đen trên thảm lúa đông xanh mượt như nhung. Nỗi buồn lan khắp không gian mùa xuân, trên bầu trời đang tối dần, và trong toa tàu.

Người soát vé quen thuộc bước vào toa và bắt đầu thắp nến.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1888
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Красавицы, 1888
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →