Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ổ bánh mì phù thuỷ

của O. Henry

⏱ 6 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 6.838 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Cô Mác-ta Mi-cham có một hiệu bánh nhỏ ở…
  2. 1:22Để thử xem mình đoán đúng nghề của ông…
  3. 2:02Cô ngừng lại. Không, chưa nên nói "và các…
  4. 2:46Giờ mỗi lần tới, ông thường đứng nói chuyện…
  5. 4:00Khi người khách quay lại, cô đang buộc giấy…
  6. 4:45Chuông cửa trước kêu leng keng dữ dội. Có…
  7. 5:22Bà làm hỏng hết của tôi rồi, ông gào…
  8. 6:26Cô Mác-ta đi vào phòng sau. Cô cởi chiếc…

Cô Mác-ta Mi-cham có một hiệu bánh nhỏ ở góc phố, cái hiệu mà bạn phải bước lên ba bậc thềm, và đẩy cửa thì chuông kêu leng keng.

Cô Mác-ta bốn mươi tuổi, sổ tiết kiệm ngân hàng ghi có hai nghìn đô-la, cô có hai chiếc răng giả và một trái tim giàu lòng trắc ẩn. Biết bao người đã lấy được chồng mà cơ may còn kém xa cô Mác-ta.

Mỗi tuần hai ba lần, có một người khách tới mua bánh, và cô bắt đầu để ý tới người ấy. Đó là một người đàn ông trung niên, đeo kính, bộ râu màu nâu được tỉa cẩn thận thành một chòm nhọn.

Ông nói tiếng Anh, giọng nặng trịch kiểu người Đức. Quần áo ông đã sờn, có chỗ phải mạng, có chỗ nhàu nhĩ, thùng thình. Nhưng trông ông vẫn gọn gàng, và cử chỉ rất lịch sự.

Lần nào ông cũng mua hai ổ bánh mì cũ. Bánh mì mới thì năm xu một ổ. Bánh mì cũ năm xu được hai ổ. Chưa bao giờ ông hỏi mua thứ gì khác ngoài bánh mì cũ.

Có lần cô Mác-ta thấy trên ngón tay ông có một vết bẩn màu đỏ và nâu. Từ đó cô tin chắc ông là một hoạ sĩ, và rất nghèo. Hẳn ông sống trên một căn gác xép, ở đó ông vẽ tranh, ăn bánh mì cũ, và nghĩ tới những món ngon trong hiệu bánh của cô Mác-ta.

Nhiều khi ngồi vào bàn trước đĩa sườn, những chiếc bánh mì xốp, mứt và trà, cô Mác-ta lại thở dài, ước gì người hoạ sĩ lịch thiệp kia được cùng cô chia sẻ bữa ăn ngon lành, thay vì gặm mẩu bánh khô trên căn gác lộng gió. Trái tim cô Mác-ta, như đã nói, là một trái tim giàu lòng trắc ẩn.

Để thử xem mình đoán đúng nghề của ông không, một hôm cô mang từ phòng mình ra một bức tranh cô đã mua trong một buổi bán đấu giá, dựng vào giá kệ phía sau quầy bánh mì.

Đó là một bức tranh phong cảnh thành Vơ-ni-dơ. Một toà lâu đài lộng lẫy bằng đá cẩm thạch sừng sững ở tiền cảnh, hay đúng hơn là ở tiền thuỷ. Phần còn lại là những con thuyền gôn-đô-la, có một quý bà thả tay xuống nước, rồi mây, trời, và vô số mảng sáng tối. Hoạ sĩ nào nhìn thấy cũng phải để ý.

Hai hôm sau, người khách tới.

— Cho tôi hai ổ bánh mì cũ, làm ơn.

Trong lúc cô đang gói bánh, ông nói:

— Bà có một bức tranh đẹp đấy, thưa bà.

— Thế ạ? Cô Mác-ta nói, khoái chí với mưu mẹo của mình. Tôi rất yêu nghệ thuật, và...

Cô ngừng lại. Không, chưa nên nói "và các nghệ sĩ" sớm như thế.

— Và tranh vẽ, cô chữa lại. Ông thấy bức tranh có đẹp không?

— Bố cục, người khách nói, vẽ chưa cân. Luật xa gần thì không đúng. Chào bà.

Ông cầm bánh, cúi chào rồi vội vã đi ra.

Phải rồi, ông ấy hẳn là hoạ sĩ. Cô Mác-ta mang bức tranh về phòng.

Đôi mắt ông sau cặp kính sáng lên mới dịu dàng, hiền hậu làm sao! Vầng trán ông mới rộng làm sao! Chỉ liếc qua mà nhận ra ngay luật xa gần, vậy mà phải sống bằng bánh mì cũ! Nhưng thiên tài thường phải vật lộn trước khi được thừa nhận.

Nghệ thuật và luật xa gần sẽ được lợi biết bao nếu thiên tài có hai nghìn đô-la trong ngân hàng, một hiệu bánh và một trái tim giàu lòng trắc ẩn chống lưng cho, để... Nhưng đó chỉ là những giấc mơ giữa ban ngày thôi, cô Mác-ta ạ.

Giờ mỗi lần tới, ông thường đứng nói chuyện một lúc qua tủ kính bày bánh. Ông có vẻ khao khát những lời vui vẻ của cô Mác-ta.

Ông vẫn tiếp tục mua bánh mì cũ. Chẳng bao giờ mua một chiếc bánh ngọt, một chiếc bánh nướng, hay một chiếc bánh Xa-li Lân thơm ngon của cô.

Cô thấy hình như ông bắt đầu gầy đi, trông chán nản. Lòng cô nhói lên, muốn thêm một chút gì ngon ngon vào món hàng đạm bạc của ông, nhưng tới lúc làm thì cô lại không đủ can đảm. Cô không dám xúc phạm ông. Cô biết lòng tự trọng của giới nghệ sĩ.

Cô Mác-ta bắt đầu mặc chiếc áo lụa chấm bi xanh khi đứng bán hàng. Trong phòng sau, cô nấu một thứ hỗn hợp bí ẩn gồm hạt mộc qua và hàn the. Khối người dùng thứ đó để làm đẹp da mặt.

Một hôm, người khách lại tới như thường lệ, đặt đồng năm xu lên tủ kính, hỏi mua hai ổ bánh mì cũ. Trong lúc cô Mác-ta đang với lấy bánh, bỗng có tiếng còi tu tu, tiếng chuông leng keng inh ỏi, và một chiếc xe cứu hoả ầm ầm chạy qua.

Người khách vội chạy ra cửa xem, ai mà chẳng thế. Bỗng nảy ra một ý, cô Mác-ta chộp ngay lấy cơ hội.

Trên ngăn dưới cùng sau quầy có nửa cân bơ tươi mà người giao sữa vừa để lại mười phút trước. Cô Mác-ta lấy con dao cắt bánh mì rạch một đường sâu vào mỗi ổ bánh mì cũ, nhét vào đó thật nhiều bơ, rồi ấn hai mép bánh khép chặt lại.

Khi người khách quay lại, cô đang buộc giấy gói bánh.

Sau một cuộc trò chuyện ngắn vui vẻ khác thường, ông ra về. Cô Mác-ta mỉm cười một mình, nhưng tim vẫn hơi run run.

Có phải cô đã quá bạo dạn không? Liệu ông có phật ý không? Nhưng chắc chắn là không. Đồ ăn đâu có biết nói. Bơ đâu phải là biểu tượng của sự lả lơi thiếu đoan trang của gái chưa chồng.

Suốt ngày hôm ấy, cô cứ nghĩ mãi về chuyện ấy. Cô hình dung cảnh ông phát hiện ra cái mánh nhỏ của cô.

Ông sẽ đặt bút vẽ và bảng màu xuống. Giá vẽ của ông đứng đó, với bức tranh ông đang vẽ, trong đó luật xa gần chẳng chê vào đâu được.

Ông sẽ sửa soạn bữa trưa gồm bánh mì khô và nước lã. Ông sẽ cắt một ổ bánh mì, và, ôi chao!

Cô Mác-ta đỏ mặt. Liệu khi ăn, ông có nghĩ tới bàn tay đã đặt nó vào đó không? Liệu ông có...

Chuông cửa trước kêu leng keng dữ dội. Có ai đó đang đi vào, làm ồn ào ghê gớm.

Cô Mác-ta vội vã chạy ra phía trước. Có hai người đàn ông. Một người là một chàng trai trẻ đang hút tẩu, người cô chưa gặp bao giờ. Người kia là ông hoạ sĩ của cô.

Mặt ông đỏ gay, mũ đẩy ra tận sau gáy, tóc rối bù. Ông nắm chặt hai nắm đấm, vung lên dữ tợn về phía cô Mác-ta. Về phía cô Mác-ta đấy.

— Đồ ngu! Ông quát to hết cỡ. Rồi thêm một câu gì đó bằng tiếng Đức, nghe như "Quỷ tha ma bắt!".

Chàng trai cố kéo ông đi.

— Tôi không đi, ông giận dữ nói, chưa nói cho mụ ta biết thì chưa đi.

Ông đập lên quầy của cô Mác-ta như đánh trống cái.

— Bà làm hỏng hết của tôi rồi, ông gào lên, đôi mắt xanh rực lửa sau cặp kính. Tôi nói cho bà biết. Bà là một mụ mèo già lắm chuyện!

Cô Mác-ta yếu ớt tựa vào giá kệ, một tay đặt lên chiếc áo lụa chấm bi xanh. Chàng trai túm cổ áo người kia.

— Thôi đi, anh nói, ông nói thế đủ rồi.

Anh lôi ông khách đang giận dữ ra khỏi cửa, ra tận vỉa hè, rồi quay lại.

— Tôi nghĩ bà nên được biết, thưa bà, anh nói, vì sao lại có chuyện ầm ĩ thế này. Đó là ông Blum-béc-gơ. Ông ấy là hoạ viên vẽ thiết kế kiến trúc. Tôi làm cùng văn phòng với ông ấy.

Ba tháng nay ông ấy làm việc cật lực, vẽ bản thiết kế cho một toà thị chính mới. Đó là một cuộc thi có giải. Hôm qua ông ấy vừa đồ mực xong các nét vẽ. Bà biết đấy, hoạ viên bao giờ cũng vẽ bằng bút chì trước. Vẽ xong, người ta lấy từng nắm ruột bánh mì cũ để tẩy các nét bút chì đi. Thứ ấy tẩy còn tốt hơn cục tẩy cao su.

Ông Blum-béc-gơ vẫn mua bánh mì ở đây. Thế mà hôm nay, ồ, bà biết đấy, thưa bà, bơ thì đâu có tẩy được, ồ, bản thiết kế của ông Blum-béc-gơ giờ chẳng dùng được vào việc gì nữa, ngoài việc cắt ra làm giấy gói bánh kẹp bán ở ga xe lửa.

Cô Mác-ta đi vào phòng sau. Cô cởi chiếc áo lụa chấm bi xanh, mặc lại chiếc áo len nâu cũ cô vẫn mặc trước kia. Rồi cô đổ cái hỗn hợp hạt mộc qua và hàn the qua cửa sổ, xuống thùng rác.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Witches’ Loaves, O. Henry, in trong tuyển tập Sixes and Sevens
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →