Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phép lạ đêm Giáng sinh

của Guy de Maupassant

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 10.293 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Bác sĩ Bô-năng-phăng lục tìm trong trí nhớ, khẽ…
  2. 1:23Những trang trại nằm lẻ loi trong khoảng sân…
  3. 3:14Lò rèn của bác Va-ti-nen nằm ở cuối xóm…
  4. 4:24Hai vợ chồng ngồi vào bàn, ăn súp trước.…
  5. 5:14Và bà gào không ngớt, bằng một giọng không…
  6. 6:16Tôi hoàn toàn tán thành, thưa cha. Nếu tâm…
  7. 7:25Tôi chọn khoảnh khắc ngay sau phần rước lễ.…
  8. 8:46Và cứ thế lâu thêm nữa.

Bác sĩ Bô-năng-phăng lục tìm trong trí nhớ, khẽ nhắc đi nhắc lại:

— Một kỷ niệm Giáng sinh ư? Một kỷ niệm Giáng sinh ư?

Rồi bỗng ông reo lên:

— Có chứ, tôi có một kỷ niệm, mà còn là một kỷ niệm rất lạ lùng nữa. Đó là một câu chuyện hoang đường. Tôi đã thấy một phép lạ! Vâng, thưa các bà, một phép lạ, vào đêm Giáng sinh.

Các bà ngạc nhiên khi nghe tôi nói vậy, tôi, người chẳng mấy khi tin vào điều gì. Thế mà tôi đã thấy một phép lạ! Tôi nói thật, tôi thấy, tận mắt tôi thấy, thấy rõ ràng đàng hoàng.

Tôi có ngạc nhiên lắm không? Không đâu. Vì tuy tôi không tin những điều các bà tin, nhưng tôi tin vào đức tin, và tôi biết đức tin dời được núi. Tôi có thể kể ra rất nhiều ví dụ, nhưng như thế sẽ làm các bà phật ý, mà tôi cũng sợ làm giảm sức hấp dẫn của câu chuyện.

Trước hết tôi xin thú thật rằng, những gì tôi thấy tuy không thuyết phục được tôi, không làm tôi cải đạo, nhưng ít ra cũng khiến tôi rất xúc động. Và tôi sẽ cố kể lại chuyện ấy một cách ngây thơ, như thể tôi cũng cả tin như một bác nhà quê.

Hồi đó tôi là bác sĩ nông thôn, sống ở thị trấn Rôn-vin, giữa lòng vùng Noóc-măng-đi.

Mùa đông năm ấy thật khủng khiếp. Mới cuối tháng Mười một, sau một tuần băng giá, tuyết đã kéo tới. Từ xa đã thấy những đám mây lớn từ phương bắc ùn ùn kéo về, rồi những bông tuyết trắng bắt đầu rơi.

Chỉ trong một đêm, cả vùng đồng bằng bị chôn vùi.

Những trang trại nằm lẻ loi trong khoảng sân vuông vức, sau hàng cây cao rắc đầy sương muối, như đang thiếp ngủ dưới lớp bông dày mà nhẹ bẫng cứ chồng chất mãi lên.

Không một âm thanh nào vang qua vùng quê bất động nữa. Chỉ có lũ quạ từng bầy lượn thành những vòng hoa dài trên trời, kiếm ăn vô vọng, cả bầy cùng sà xuống những cánh đồng tái nhợt, cắm những cái mỏ to vào tuyết.

Không còn nghe thấy gì ngoài tiếng trượt mơ hồ và liên miên của thứ bụi đóng băng cứ rơi mãi ấy.

Tuyết rơi suốt trọn tám ngày rồi mới ngớt. Mặt đất khoác trên lưng một tấm áo choàng dày cả mét rưỡi.

Rồi suốt ba tuần lễ sau đó, trên tấm khăn tuyết phẳng phiu, rắn câng và bóng loáng là một bầu trời ban ngày trong vắt như pha lê xanh, ban đêm lấm tấm những vì sao mà người ta tưởng như kết bằng sương giá, vì khoảng không bao la lạnh buốt đến thế.

Đồng bằng, hàng rào, những cây du bên bờ giậu, tất cả như đã chết, bị cái lạnh giết chết. Cả người lẫn vật không ai ra khỏi nhà. Chỉ có những ống khói trên những mái tranh trùm áo trắng là để lộ sự sống ẩn giấu, qua những sợi khói mảnh bốc thẳng lên trong không khí giá buốt.

Thỉnh thoảng lại nghe cây cối răng rắc, như thể những cánh tay gỗ của chúng gãy vụn dưới lớp vỏ. Và đôi khi một cành to rời ra rơi xuống, vì cái giá rét không gì cưỡng nổi đã làm nhựa cây hoá đá và bẻ gãy thớ gỗ.

Những ngôi nhà rải rác đây đó giữa đồng như cách xa nhau cả trăm dặm. Người ta sống được ngày nào hay ngày ấy. Chỉ có tôi là cố đi thăm những bệnh nhân gần nhất, lúc nào cũng có thể bị vùi trong một hố sâu nào đó.

Chẳng bao lâu tôi nhận ra có một nỗi kinh hoàng bí ẩn đang lởn vởn trên khắp vùng. Người ta cho rằng một tai hoạ như thế không thể là chuyện tự nhiên. Người ta bảo ban đêm nghe thấy những tiếng nói, những tiếng huýt sắc lẻm, những tiếng kêu bay ngang qua.

Những tiếng kêu và tiếng huýt ấy chắc chắn là của lũ chim di trú bay lúc chập choạng, đang ồ ạt trốn về phương nam. Nhưng làm sao mà giảng giải cho những con người đang hoảng loạn hiểu được. Nỗi khiếp sợ xâm chiếm đầu óc mọi người, và ai cũng chờ một chuyện phi thường sắp xảy ra.

Lò rèn của bác Va-ti-nen nằm ở cuối xóm Ê-pi-văng, bên con đường cái nay đã vùi mất và vắng tanh. Vì nhà hết bánh mì, bác thợ rèn quyết định đi lên làng. Bác ở lại mấy tiếng đồng hồ chuyện trò trong sáu nóc nhà làm thành trung tâm của làng, mua bánh, nghe tin tức, và mang về cả một ít nỗi sợ đang lan khắp vùng quê.

Rồi bác lên đường về trước khi trời tối.

Bỗng, khi đang men theo một bờ rào, bác tưởng như thấy một quả trứng trên tuyết. Đúng vậy, một quả trứng, nằm đó, trắng toát như mọi thứ khác trên đời. Bác cúi xuống, quả là một quả trứng thật. Nó từ đâu tới? Con gà mái nào lại ra khỏi chuồng tới đẻ ở chỗ này? Bác thợ rèn ngạc nhiên, không hiểu nổi, nhưng vẫn nhặt quả trứng mang về cho vợ.

— Này bà nó, đây, một quả trứng tôi nhặt được ngoài đường!

Người vợ lắc đầu:

— Một quả trứng ngoài đường à? Trời thế này ấy à? Ông say rồi, chắc chắn thế.

— Đâu có, bà nó. Mà nó nằm ngay dưới chân bờ rào, lại còn ấm, chẳng đông đá gì cả. Đây này, tôi để nó trên bụng cho khỏi nguội. Tối nay bà ăn nó nhé.

Quả trứng được thả vào nồi súp đang liu riu, rồi bác thợ rèn bắt đầu kể những điều người ta đồn khắp vùng.

Người vợ nghe, mặt tái nhợt.

— Chắc chắn là tôi có nghe thấy tiếng huýt, đêm hôm nọ ấy, mà hình như nó từ ống khói vọng xuống.

Hai vợ chồng ngồi vào bàn, ăn súp trước. Rồi trong khi ông chồng phết bơ lên bánh, người vợ cầm quả trứng lên, nhìn ngắm bằng con mắt ngờ vực.

— Nhỡ trong quả trứng này có cái gì thì sao?

— Bà muốn trong ấy có cái gì?

— Tôi biết đâu được.

— Thôi, ăn đi, đừng có ngớ ngẩn.

Bà đập quả trứng. Nó cũng như mọi quả trứng khác, lại còn rất tươi.

Bà bắt đầu ăn một cách ngập ngừng, nếm thử, bỏ xuống, rồi lại cầm lên. Ông chồng hỏi:

— Thế nào? Quả trứng ấy vị ra sao?

Bà không trả lời, ăn cho hết. Rồi bỗng bà trừng trừng nhìn chồng bằng đôi mắt đờ đẫn, dại đi, hoảng loạn. Bà giơ hai tay lên, vặn vẹo, rồi co giật từ đầu tới chân, lăn ra đất, gào lên những tiếng khủng khiếp.

Suốt đêm bà quằn quại trong những cơn co giật kinh hoàng, run lên bần bật đến phát sợ, méo mó đi vì những cơn kinh phong gớm ghiếc. Bác thợ rèn không giữ nổi, đành phải trói vợ lại.

Và bà gào không ngớt, bằng một giọng không biết mệt:

— Nó ở trong người tôi! Nó ở trong người tôi!

Hôm sau người ta gọi tôi tới. Tôi kê đủ mọi thứ thuốc an thần mà tôi biết, chẳng được chút kết quả nào. Bà đã điên.

Thế là, nhanh không thể tin nổi, bất chấp tuyết dày, cái tin ấy, một cái tin kỳ quái, chạy từ trang trại này sang trang trại khác: "Vợ bác thợ rèn bị quỷ ám rồi!" Và người ta kéo tới từ khắp nơi, nhưng không dám bước vào nhà. Họ đứng xa nghe những tiếng gào ghê rợn của bà, to tới mức không ai ngờ đó là tiếng của một con người.

Cha xứ trong làng được báo tin. Đó là một vị linh mục già chất phác. Ông vội vã tới, mặc áo lễ trắng như đi làm phép cho người hấp hối, giơ hai tay ra đọc những câu trừ tà, trong khi bốn người đàn ông giữ chặt trên giường người đàn bà sùi bọt mép, quằn quại.

Nhưng con quỷ không chịu ra.

Rồi lễ Giáng sinh tới mà thời tiết vẫn không đổi.

Sáng hôm trước ngày lễ, cha xứ tới tìm tôi:

— Tôi muốn đưa người đàn bà khốn khổ ấy tới dự lễ đêm nay. Biết đâu Chúa sẽ làm phép lạ cho bà, đúng vào giờ chính Người được một người đàn bà sinh ra.

Tôi đáp:

— Tôi hoàn toàn tán thành, thưa cha. Nếu tâm trí bà ấy bị nghi lễ thiêng liêng ấy tác động, mà chẳng có gì dễ làm bà ấy xúc động hơn thế, thì bà ấy có thể khỏi mà không cần thuốc men gì khác.

Vị linh mục già khẽ nói:

— Ông không có đạo, thưa ông bác sĩ, nhưng ông sẽ giúp tôi chứ? Ông lo đưa bà ấy tới nhé?

Và tôi hứa sẽ giúp ông.

Chiều xuống, rồi đêm tới. Chuông nhà thờ bắt đầu đổ, ném tiếng than thở của nó qua khoảng không ảm đạm, trên miền tuyết trắng mênh mông giá buốt.

Những bóng đen lần lượt kéo tới chậm rãi, từng nhóm một, ngoan ngoãn nghe theo tiếng gọi bằng đồng của tháp chuông. Trăng tròn rọi một thứ ánh sáng chói và nhợt nhạt xuống khắp chân trời, khiến cảnh hoang tàn trắng bệch của cánh đồng càng hiện rõ.

Tôi dẫn bốn người đàn ông lực lưỡng tới lò rèn.

Người đàn bà bị quỷ ám vẫn gào thét, bị trói vào giường. Người ta mặc cho bà quần áo tươm tất, dù bà vùng vẫy điên cuồng, rồi khiêng bà đi.

Nhà thờ giờ đã chật ních người, đèn nến sáng trưng mà lạnh lẽo. Các ca viên cất những nốt nhạc đều đều. Cây kèn xéc-păng rền rĩ. Cái chuông nhỏ của chú bé giúp lễ leng keng, điều khiển những động tác của giáo dân.

Tôi nhốt người đàn bà cùng mấy người canh giữ trong bếp nhà xứ, rồi chờ đợi thời điểm mà tôi cho là thuận lợi.

Tôi chọn khoảnh khắc ngay sau phần rước lễ. Mọi người nông dân, cả đàn ông lẫn đàn bà, đều đã rước Chúa của họ vào lòng để mong Người nguôi bớt cơn nghiêm khắc. Một sự im lặng lớn bao trùm, trong khi vị linh mục hoàn tất mầu nhiệm thánh.

Theo lệnh tôi, cánh cửa mở ra, và bốn người phụ việc khiêng người đàn bà điên vào.

Vừa thấy ánh đèn, đám đông đang quỳ, gian cung thánh rực lửa và nhà tạm thếp vàng, bà vùng vẫy dữ dội tới mức suýt thoát khỏi tay chúng tôi, và gào lên những tiếng thét chói lói đến nỗi một cơn rùng mình khiếp đảm lướt qua cả nhà thờ. Mọi cái đầu đều ngẩng lên. Có người bỏ chạy.

Bà không còn hình dạng một người đàn bà nữa, co quắp, vặn vẹo trong tay chúng tôi, mặt méo xệch, mắt dại đi.

Người ta lôi bà tới bậc cung thánh, rồi giữ chặt bà ngồi thụp dưới đất.

Vị linh mục đã đứng dậy. Ông chờ. Thấy bà đã bị giữ yên, ông đưa hai tay nâng mặt nhật toả hào quang vàng, ở giữa là tấm bánh thánh trắng, tiến lên mấy bước, giơ cao nó lên quá đầu bằng hai cánh tay duỗi thẳng, đưa ra trước đôi mắt lạc thần của người đàn bà bị quỷ ám.

Bà vẫn gào, mắt dán chặt, căng ra nhìn vật sáng chói ấy.

Còn vị linh mục đứng bất động tới mức người ta tưởng ông là một pho tượng.

Và cứ thế rất lâu, rất lâu.

Người đàn bà dường như bị nỗi sợ chụp lấy, bị mê hoặc. Bà nhìn trân trân vào mặt nhật, vẫn còn run lên những cơn khủng khiếp nhưng thoáng qua, vẫn còn kêu, nhưng giọng đã bớt xé ruột.

Và cứ thế lâu thêm nữa.

Tưởng như bà không còn cụp mắt xuống được nữa, như mắt bà đã bị đóng đinh vào tấm bánh thánh. Bà chỉ còn rên rỉ. Và thân thể cứng đơ của bà mềm dần ra, sụp xuống.

Cả đám đông phủ phục, trán chạm đất.

Người đàn bà bị quỷ ám giờ chớp mắt rất nhanh, rồi lại mở ra ngay, như không chịu nổi việc nhìn thấy Chúa của mình. Bà đã im bặt. Rồi đột nhiên tôi nhận ra mắt bà cứ nhắm nghiền. Bà ngủ giấc ngủ của những người mộng du, bị thôi miên, à xin lỗi, bị khuất phục bởi việc chăm chăm nhìn mãi vào mặt nhật toả hào quang vàng, bị Chúa Ki-tô chiến thắng quật ngã.

Người ta khiêng bà đi, mềm oặt, trong khi vị linh mục quay lên bàn thờ.

Cả giáo đoàn bàng hoàng cất lên bài ca tạ ơn.

Và vợ bác thợ rèn ngủ liền bốn mươi tiếng đồng hồ, rồi tỉnh dậy, chẳng nhớ gì về chuyện bị quỷ ám lẫn chuyện được giải thoát.

Thưa các bà, đó là phép lạ mà tôi đã thấy.

Bác sĩ Bô-năng-phăng im lặng, rồi nói thêm bằng một giọng bực bội:

— Tôi đã không thể từ chối ký giấy chứng nhận chuyện ấy.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Conte de Noël, in trên báo Le Gaulois năm 1882, tập Clair de lune, Monnier 1884
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →