Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Quả lắc

của O. Henry

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 9.824 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Phố Tám mươi mốt đây, cho người ta xuống…
  2. 2:35Giôn Pơ-kin biết những chuyện ấy sẽ xảy ra.…
  3. 3:26Tối nay, về tới cửa, Giôn Pơ-kin gặp một…
  4. 5:10Kia, trên lưng một chiếc ghế, chiếc áo choàng…
  5. 7:53Giôn Pơ-kin không quen phân tích cảm xúc của…
  6. 10:30Cửa mở. Ke-ti bước vào, tay xách một chiếc…
  7. 11:21Thế bây giờ anh định đi đâu đấy, tôi…

— Phố Tám mươi mốt đây, cho người ta xuống nào! Người chăn cừu mặc áo xanh gào lên.

Một bầy cừu công dân chen chúc nhau xuống, một bầy khác chen chúc nhau lên. Kính coong! Những toa xe chở súc vật của tuyến đường sắt trên cao Man-hát-tan rầm rập chạy đi, và Giôn Pơ-kin trôi xuống cầu thang nhà ga cùng với bầy cừu vừa được thả.

Giôn chậm rãi đi về căn hộ của mình. Chậm rãi, vì trong từ điển cuộc sống hằng ngày của anh không có chữ "biết đâu". Một người đàn ông đã cưới vợ được hai năm và sống trong một căn hộ chung cư thì chẳng có điều bất ngờ nào đang chờ đợi. Vừa đi, Giôn Pơ-kin vừa tự đoán trước, với vẻ chua chát u ám của kẻ bị đè bẹp, những kết cục đã định sẵn của một ngày đơn điệu.

Ke-ti sẽ đón anh ở cửa bằng một nụ hôn mang vị kem dưỡng da và kẹo bơ. Anh sẽ cởi áo khoác, ngồi lên chiếc ghế dài cứng như mặt đường rải đá, đọc trên tờ báo buổi tối tin lính Nga và lính Nhật bị những cỗ máy sắp chữ chết người tàn sát. Bữa tối sẽ có thịt bò om, một món xa-lát trộn thứ nước sốt được bảo đảm là không làm nứt hay hỏng da giày, đại hoàng hầm, và lọ mứt dâu đỏ mặt trước tấm giấy chứng nhận tinh khiết hoá học dán trên nhãn của nó. Ăn tối xong, Ke-ti sẽ khoe với anh miếng vá mới trên tấm chăn chắp mảnh của cô, miếng vải mà anh chàng giao đá đã cắt từ đuôi chiếc cà vạt của mình đem cho cô. Bảy giờ rưỡi, hai vợ chồng sẽ trải báo phủ lên đồ đạc để hứng những mảng vữa rơi xuống khi ông béo ở căn hộ trên lầu bắt đầu tập thể dục. Đúng tám giờ, cặp Hích-ki và Mu-ni, đôi diễn viên tạp kĩ đang thất nghiệp ở căn hộ bên kia hành lang, sẽ chịu ảnh hưởng dịu dàng của cơn mê sảng vì rượu, bắt đầu xô đổ ghế, vì tưởng tượng ra ông bầu Ham-mơ-xtai đang đuổi theo họ với một bản hợp đồng năm trăm đô-la một tuần. Rồi ông ở cửa sổ bên kia giếng trời sẽ lôi cây sáo ra. Cái chỗ rò ga đêm nào cũng có sẽ lẻn ra nô đùa trên các ngả đường. Cái thang tải đồ ăn sẽ tuột khỏi ròng rọc. Ông gác cổng sẽ lại xua năm đứa con của bà Da-nô-vít-xki vượt sông Áp Lục một lần nữa. Bà đi giày màu sâm banh dắt con chó sục sẽ nhẹ nhàng xuống cầu thang dán cái tên ngày thứ năm của mình lên chuông cửa và hộp thư. Và chương trình buổi tối của khu chung cư Phrốc-mo sẽ bắt đầu vận hành.

Giôn Pơ-kin biết những chuyện ấy sẽ xảy ra. Và anh biết rằng lúc tám giờ mười lăm, anh sẽ lấy hết can đảm với tay lấy mũ, và vợ anh sẽ nói câu này bằng giọng cằn nhằn:

— Thế bây giờ anh định đi đâu đấy, tôi muốn biết đấy, Giôn Pơ-kin?

— Anh định ghé qua quán Mắc-clốt-ki, anh sẽ đáp, đánh một hai ván bi-a với anh em.

Dạo gần đây, đó là thói quen của Giôn Pơ-kin. Mười giờ hay mười một giờ anh mới về. Có hôm Ke-ti đã ngủ. Có hôm cô còn thức chờ, sẵn sàng nấu chảy trong chiếc nồi cơn giận của mình thêm một chút lớp mạ vàng trên sợi xích thép của hôn nhân. Thần Tình yêu sẽ phải chịu trách nhiệm về những chuyện ấy khi ra đứng trước vành móng ngựa cùng với các nạn nhân của mình ở khu chung cư Phrốc-mo.

Tối nay, về tới cửa, Giôn Pơ-kin gặp một cơn địa chấn khủng khiếp làm đảo lộn cái nếp thường ngày. Không có Ke-ti đứng đó với nụ hôn trìu mến ngọt như kẹo. Ba căn phòng có vẻ bừa bãi tới mức đáng ngại. Đồ đạc của cô vương vãi lung tung khắp nơi. Giày nằm giữa sàn nhà. Kẹp uốn tóc, nơ cài tóc, áo ki-mô-nô, hộp phấn lẫn lộn trên bàn trang điểm và trên ghế. Ke-ti đâu có bừa bộn như thế. Lòng chùng xuống, Giôn thấy chiếc lược với một lọn tóc nâu quăn của cô mắc giữa các răng lược. Hẳn có một chuyện vội vã, bối rối khác thường nào đó đã xảy tới với cô, vì cô vẫn luôn cẩn thận nhặt tóc rụng bỏ vào chiếc lọ nhỏ màu xanh trên mặt lò sưởi, để một ngày nào đó độn thành búi tóc giả mà chị em nào cũng thèm muốn.

Treo lủng lẳng trên vòi đèn ga bằng một sợi dây, rất dễ thấy, là một mảnh giấy gấp. Giôn chộp lấy. Đó là mảnh giấy vợ anh để lại, viết thế này:

"Anh Giôn thân yêu. Em vừa nhận được điện báo là mẹ ốm nặng. Em sẽ đi chuyến tàu bốn giờ rưỡi. Anh Xam sẽ đón em ở ga bên ấy. Trong tủ đá có thịt cừu nguội. Em mong là bà không bị viêm họng lại. Anh trả bác giao sữa năm mươi xu nhé. Mùa xuân năm ngoái bà bị nặng lắm. Đừng quên viết thư cho công ti về cái đồng hồ ga, còn tất tốt của anh ở ngăn kéo trên cùng. Mai em sẽ viết thư. Vội vàng, Ke-ti."

Suốt hai năm chung sống, anh và Ke-ti chưa từng xa nhau một đêm nào. Giôn đọc đi đọc lại mảnh giấy, sững sờ. Đây là một kẽ nứt trong cái nếp sống chưa bao giờ thay đổi, và nó khiến anh choáng váng.

Kia, trên lưng một chiếc ghế, chiếc áo choàng mặc nhà màu đỏ chấm đen mà cô vẫn mặc khi nấu ăn treo lủng lẳng, trống rỗng, xẹp lép, đến thảm hại. Quần áo mặc thường ngày của cô bị ném chỗ này chỗ kia trong lúc vội. Một túi giấy nhỏ đựng thứ kẹo bơ cô ưa thích nằm đó, sợi dây buộc còn chưa tháo. Một tờ báo ngày nằm ngổn ngang trên sàn, khoét một lỗ hình chữ nhật ở chỗ bảng giờ tàu đã bị cắt ra. Mọi thứ trong phòng đều nói về một sự mất mát, về một tinh chất đã đi mất, về linh hồn và sự sống của nó đã rời đi. Giôn Pơ-kin đứng giữa những gì còn lại đã chết ấy, trong lòng dâng lên một cảm giác hoang vắng lạ lùng.

Anh bắt đầu dọn dẹp các phòng cho gọn gàng, cố hết sức. Khi chạm vào quần áo của cô, một cơn rùng mình gần như kinh hãi chạy qua người anh. Anh chưa bao giờ nghĩ cuộc sống mà không có Ke-ti sẽ ra sao. Cô đã hoà quyện vào đời anh trọn vẹn tới mức cô như không khí anh thở, cần thiết mà chẳng mấy khi để ý. Giờ đây, chẳng báo trước, cô đã đi, đã biến mất, vắng mặt hoàn toàn như thể cô chưa từng tồn tại. Dĩ nhiên chỉ là vài ngày, hay nhiều lắm là một hai tuần, nhưng anh có cảm giác như chính bàn tay tử thần đã chỉ một ngón tay vào ngôi nhà yên ổn, chẳng có biến cố gì của anh.

Giôn lôi đĩa thịt cừu nguội ra khỏi tủ đá, pha cà phê, rồi ngồi ăn bữa tối cô quạnh, mặt đối mặt với tấm giấy chứng nhận tinh khiết trơ trẽn của lọ mứt dâu. Giờ đây, sáng ngời giữa những phúc lành đã bị lấy đi, hiện ra trước mắt anh bóng ma của những đĩa bò om và món xa-lát trộn nước sốt xi đánh giày. Tổ ấm của anh đã tan hoang. Một bà mẹ vợ bị viêm họng đã đánh văng các vị thần gia đình của anh lên tận trời. Ăn xong bữa tối cô độc, Giôn ra ngồi bên cửa sổ phía trước.

Anh chẳng thấy thèm hút thuốc. Bên ngoài, thành phố gầm vang, mời gọi anh nhập vào vũ điệu của điên rồ và hoan lạc. Đêm nay là của anh. Anh có thể ra đi chẳng ai tra hỏi, gảy lên những dây đàn vui thú, tự do như bất cứ chàng độc thân vui vẻ nào ngoài kia. Anh có thể chè chén, lang thang, chơi bời cho tới sáng nếu muốn, và sẽ chẳng có một Ke-ti giận dữ nào chờ anh, tay bưng chiếc cốc chứa cặn bã niềm vui của anh. Anh có thể đánh bi-a ở quán Mắc-clốt-ki với đám bạn ồn ào của mình cho tới khi nữ thần Rạng Đông làm mờ những bóng đèn điện, nếu anh thích. Những sợi dây hôn nhân xưa nay vẫn kìm anh lại, mỗi khi anh chán ngấy khu chung cư Phrốc-mo, nay đã được nới lỏng. Ke-ti đã đi rồi.

Giôn Pơ-kin không quen phân tích cảm xúc của mình. Nhưng ngồi trong căn phòng khách ba mét nhân bốn mét đã vắng bóng Ke-ti, anh nhận ra không chút sai lệch cái âm chủ của nỗi khó chịu trong lòng. Giờ anh biết rằng Ke-ti cần thiết cho hạnh phúc của anh. Tình cảm của anh dành cho cô, đã bị cái vòng nhàm chán của đời sống gia đình ru cho ngủ quên, nay bị khuấy động dữ dội vì cô vắng mặt. Chẳng phải tục ngữ, bài giảng và truyện ngụ ngôn đã nhắc đi nhắc lại mãi với chúng ta rằng ta chẳng bao giờ biết quý tiếng hót cho tới khi con chim giọng ngọt đã bay đi, hay những câu nói khác cũng hoa mĩ và đúng đắn chẳng kém đó sao?

— Mình đúng là một thằng ngốc chính hiệu, Giôn Pơ-kin ngẫm nghĩ, cái kiểu mình đối xử với Ke-ti. Tối nào cũng đi đánh bi-a, la cà với đám bạn, thay vì ở nhà với cô ấy. Tội nghiệp cô ấy ở nhà một mình chẳng có gì giải trí, mà mình lại cư xử như thế! Giôn Pơ-kin, mày là đồ tồi tệ nhất hạng. Mình sẽ bù đắp cho cô vợ bé nhỏ. Mình sẽ đưa cô ấy đi chơi, cho cô ấy xem những trò vui. Và mình sẽ cắt đứt với cái bọn ở quán Mắc-clốt-ki ngay từ phút này.

Phải, ngoài kia thành phố vẫn gầm vang mời Giôn Pơ-kin tới nhảy múa theo đoàn tuỳ tùng của thần Vui Chơi. Và ở quán Mắc-clốt-ki, đám bạn đang uể oải đánh bóng vào lỗ, chờ tới giờ của ván bi-a hằng đêm. Nhưng chẳng có con đường hoa lạc thú hay tiếng cơ bi-a lách cách nào quyến rũ được tâm hồn đầy hối hận của chàng Pơ-kin vừa mất vợ. Cái vốn là của anh, mà anh đã hờ hững nắm giữ, nửa coi khinh, đã bị lấy đi, và giờ anh muốn có nó. Chàng Pơ-kin đầy hối hận có thể lần ngược gia phả của mình tới tận một người tên là A-đam, người bị các thiên thần tống ra khỏi vườn cây.

Gần bên tay phải Giôn Pơ-kin có một chiếc ghế. Trên lưng ghế vắt chiếc áo cánh xanh của Ke-ti. Nó vẫn còn giữ được phần nào dáng người cô. Ở khoảng giữa hai tay áo có những nếp nhăn nhỏ, riêng biệt, do cánh tay cô cử động khi làm lụng cho anh được thoải mái, vui vẻ. Một mùi hoa chuông xanh thoang thoảng mà quyến rũ toả ra từ chiếc áo. Giôn cầm lấy nó, nhìn rất lâu, rất nghiêm trang, vào lớp vải mỏng chẳng chút đáp lời. Còn Ke-ti thì chưa bao giờ lặng thinh với anh. Nước mắt, phải, nước mắt, trào lên mắt Giôn Pơ-kin. Khi cô về, mọi thứ sẽ khác. Anh sẽ bù đắp cho tất cả những gì anh đã bỏ bê. Đời còn gì khi thiếu cô?

Cửa mở. Ke-ti bước vào, tay xách một chiếc túi nhỏ. Giôn ngây ra nhìn cô.

— Trời ơi! Về được nhà mừng quá, Ke-ti nói. Mẹ ốm chẳng đáng kể gì. Anh Xam ra ga đón, bảo mẹ chỉ bị một cơn nhẹ thôi, họ đánh điện xong một lúc là khỏi. Thế là em đi luôn chuyến tàu sau về. Em đang thèm một cốc cà phê muốn chết đây.

Chẳng ai nghe thấy tiếng bánh răng lách cách, lạch cạch khi căn hộ tầng ba mặt tiền của khu chung cư Phrốc-mo cho bộ máy của nó chạy vù vù trở lại với Trật Tự Muôn Đời. Một sợi dây cua-roa tuột, một chiếc lò xo được chạm vào, bánh răng được chỉnh lại, và các bánh xe lại quay theo quỹ đạo cũ của chúng.

Giôn Pơ-kin nhìn đồng hồ. Tám giờ mười lăm. Anh với lấy mũ, đi ra cửa.

— Thế bây giờ anh định đi đâu đấy, tôi muốn biết đấy, Giôn Pơ-kin? Ke-ti hỏi, giọng cằn nhằn.

— Anh định ghé qua quán Mắc-clốt-ki, Giôn nói, đánh một hai ván bi-a với anh em.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Pendulum, O. Henry, in trong tuyển tập The Trimmed Lamp
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →