Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Quỷ sứ và Tôm Oa-cơ

của Washington Irving

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 24.054 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Cách Bô-xtơn, bang Ma-xa-chu-xét vài dặm, có một lạch…
  2. 5:53Hắn cau mày nhìn Tôm một lúc bằng đôi…
  3. 7:55Rốt cuộc tất cả những điều ấy có nghĩa…
  4. 10:03Giờ gã tin chắc rằng mọi điều mình đã…
  5. 14:12Tôm tự an ủi về việc mất của bằng…
  6. 16:10Tao sẽ đẩy chúng xuống tận địa ngục, –…
  7. 18:41Tuy vậy, khi Tôm về già, gã trở nên…
  8. 21:50Tôm, tới lượt mày rồi! – Gã đen nhẻm…

Cách Bô-xtơn, bang Ma-xa-chu-xét vài dặm, có một lạch nước sâu uốn khúc từ vịnh Sác-lơ vào sâu trong đất liền mấy dặm, rồi tận cùng ở một đầm lầy rậm rạp cây cối. Một bên lạch là một khu rừng nhỏ tối sẫm rất đẹp. Bờ bên kia, đất dựng đứng lên từ mép nước thành một dải đồi cao, trên đó lơ thơ mấy cây sồi rất già và rất to. Theo những chuyện xưa, chính dưới gốc một trong những cây khổng lồ ấy, tên cướp biển Kít đã chôn kho báu của hắn. Lạch nước giúp hắn dễ dàng chở tiền bằng thuyền một cách bí mật lúc ban đêm tới tận chân đồi. Chỗ ấy cao, dễ canh chừng xem có ai ở gần không, còn những cây sồi đặc biệt kia là những mốc dễ nhận để sau này tìm lại. Chuyện xưa còn kể thêm rằng chính quỷ sứ đã chủ trì việc chôn tiền và nhận trông giữ nó. Nhưng ai cũng biết, với kho báu chôn giấu, nhất là của phi nghĩa, quỷ sứ bao giờ cũng làm thế. Dù sao chăng nữa, Kít không bao giờ quay lại lấy của cải. Ít lâu sau hắn bị bắt ở Bô-xtơn, giải sang nước Anh, và bị treo cổ ở đó vì tội cướp biển.

Vào khoảng năm một nghìn bảy trăm hai mươi bảy, đúng lúc động đất xảy ra liên miên ở miền Tân Anh, làm nhiều kẻ tội lỗi cao ngạo phải quỳ sụp xuống, có một gã gầy gò, keo kiệt tên là Tôm Oa-cơ sống gần chỗ này. Gã có một mụ vợ cũng keo kiệt như gã. Hai vợ chồng keo đến nỗi còn bày mưu lừa nhau. Bất cứ thứ gì mụ vợ vớ được là mụ giấu đi. Con gà mái vừa cục tác là mụ đã chực sẵn để giữ lấy quả trứng mới đẻ. Còn ông chồng thì lúc nào cũng rình mò lục lọi để tìm ra những chỗ mụ giấu của. Đã nhiều trận xung đột dữ dội nổ ra về những thứ lẽ ra là của chung. Họ sống trong một ngôi nhà trông thảm hại, đứng trơ trọi, mang một vẻ đói khát. Mấy cây bách xù lơ thơ, biểu tượng của sự cằn cỗi, mọc gần đó. Chẳng bao giờ thấy khói bốc lên từ ống khói. Chẳng có khách qua đường nào dừng lại trước cửa. Một con ngựa khốn khổ, xương sườn lộ ra rõ như nan vỉ nướng, lững thững trên một mảnh ruộng có lớp rêu mỏng chỉ vừa phủ những luống đá cuội lởm chởm, cứ trêu ngươi rồi lại làm hụt hẫng cơn đói của nó. Thỉnh thoảng nó lại thò đầu qua hàng rào, nhìn người qua đường thảm thiết, như van xin được cứu khỏi vùng đất đói khát này.

Ngôi nhà và những người sống trong đó mang tiếng xấu. Vợ Tôm là một mụ đàn bà cao lớn, dữ dằn, nóng nảy, to mồm, lại khoẻ tay. Người ta thường nghe giọng mụ trong những trận khẩu chiến với chồng, và mặt gã đôi khi có dấu vết cho thấy những trận xung đột ấy không chỉ dừng ở lời nói. Nhưng chẳng ai dám xen vào giữa họ. Người khách bộ hành cô độc co rúm người lại trước tiếng la hét và cào cấu khủng khiếp, liếc xéo cái ổ bất hoà ấy, rồi vội vã đi tiếp, và nếu còn độc thân thì mừng thầm vì mình chưa vợ.

Một hôm, Tôm Oa-cơ đi tới một chỗ xa trong vùng, rồi đi về theo con đường mà gã cho là đường tắt xuyên qua đầm lầy. Cũng như hầu hết những con đường tắt, đó là một lối chọn dở. Đầm lầy mọc dày những cây thông và cây độc cần to lớn u ám, có cây cao gần ba chục mét, khiến giữa trưa trời cũng tối om, và là chỗ trú ngụ của mọi con cú trong vùng. Nó đầy hố và bãi lầy, một phần bị cỏ và rêu phủ kín, nơi lớp mặt xanh xanh thường đánh lừa khách bộ hành sa xuống một vực bùn đen ngạt thở. Lại có những vũng nước tù đọng tối sẫm, nơi trú ngụ của nòng nọc, ễnh ương và rắn nước. Những thân thông và độc cần nằm nửa chìm nửa mục, trông như những con cá sấu đang ngủ trong bùn.

Tôm đã thận trọng dò đường hồi lâu qua khu rừng nguy hiểm ấy, bước từ bụi cói này sang bụi rễ cây kia, những chỗ đặt chân bấp bênh giữa những vũng lầy sâu, hay bước rón rén như mèo giữa những thân cây đổ, chốc chốc lại giật mình vì tiếng kêu thất thanh đột ngột của một con vạc, hay tiếng quạc quạc của một con vịt trời vụt bay lên từ một vũng nước vắng vẻ nào đó. Cuối cùng gã tới một khoảnh đất chắc, nhô ra như một bán đảo vào giữa lòng đầm. Đó từng là một trong những thành luỹ của người da đỏ trong những cuộc chiến với những người thực dân đầu tiên. Ở đây họ đã đắp một thứ đồn luỹ mà họ coi là gần như không thể công phá, dùng làm nơi trú ẩn cho đàn bà và trẻ con. Đồn luỹ của người da đỏ chẳng còn lại gì ngoài mấy bờ đất đang dần lún ngang mặt đất xung quanh, một phần đã bị sồi và những cây rừng khác mọc phủ, tán lá của chúng tương phản với màu tối của thông và độc cần trong đầm.

Lúc Tôm Oa-cơ tới đồn cũ thì trời đã chạng vạng tối, và gã dừng lại đó nghỉ một lát. Bất cứ ai khác hẳn đều ngại nán lại ở chốn cô quạnh, buồn thảm này, vì dân chúng có ác cảm với nó qua những chuyện truyền lại từ thời chiến tranh với người da đỏ, khi người ta quả quyết rằng ở đây có những cuộc làm phép và cúng tế cho ác thần. Nhưng Tôm Oa-cơ không phải loại người bận tâm vì những nỗi sợ như thế.

Gã ngồi nghỉ một lúc trên thân một cây độc cần đổ, lắng nghe tiếng kêu báo điềm gở của con ếch cây, và lấy gậy chọc chọc vào một đống đất mùn đen dưới chân. Đang vô tình xới đất lên, cây gậy của gã chạm phải một vật gì cứng. Gã cào nó ra khỏi lớp mùn, và kìa! Trước mặt gã là một chiếc sọ người bị bổ đôi, một chiếc rìu chiến của người da đỏ còn cắm sâu trong đó. Lớp gỉ trên vũ khí cho thấy đã bao lâu trôi qua kể từ đòn chí mạng ấy. Đó là một kỷ vật buồn thảm của cuộc chiến đấu khốc liệt đã diễn ra ở chỗ đứng chân cuối cùng của những chiến binh da đỏ.

– Hừm! – Tôm Oa-cơ nói, đá chiếc sọ một cái cho rơi bớt đất.

– Để cái sọ ấy yên! – Một giọng cộc cằn nói.

Tôm ngước mắt lên, thấy một gã đàn ông to lớn đen nhẻm ngồi ngay trước mặt mình trên một gốc cây. Tôm vô cùng ngạc nhiên, vì không hề thấy hay nghe có ai lại gần. Và Tôm còn bối rối hơn khi nhận ra, trong chừng mực bóng tối đang dày lên cho phép, rằng kẻ lạ mặt chẳng phải người da đen cũng chẳng phải người da đỏ. Đúng là hắn ăn mặc thô kệch, nửa giống người da đỏ, quấn quanh người một chiếc thắt lưng hay dải khăn đỏ. Nhưng mặt hắn chẳng đen cũng chẳng màu đồng, mà sạm, cáu bẩn, lấm lem bồ hóng, như thể hắn quen làm việc giữa lửa và lò rèn. Hắn có một mớ tóc đen thô dựng ngược tua tủa khắp đầu, vai vác một chiếc rìu.

Hắn cau mày nhìn Tôm một lúc bằng đôi mắt to đỏ quạch.

– Mày làm gì trên đất của tao? – Gã đen nhẻm hỏi, giọng khàn khàn gầm gừ.

– Đất của mày à? – Tôm cười khẩy. – Đất của mày cũng như đất của tao thôi. Nó là của ông trợ tế Pi-bô-đi.

– Mặc xác lão trợ tế Pi-bô-đi, – kẻ lạ mặt nói, – mà tao dám chắc lão sẽ bị đày xuống địa ngục thật, nếu lão không lo cho tội lỗi của mình nhiều hơn, và bớt lo cho tội lỗi của hàng xóm. Nhìn đằng kia xem lão trợ tế Pi-bô-đi đang ra sao.

Tôm nhìn theo hướng kẻ lạ chỉ, thấy một trong những cây to, bề ngoài đẹp đẽ tươi tốt, nhưng ruột đã mục, và thấy nó đã bị chặt gần đứt, đến nỗi cơn gió lớn đầu tiên chắc sẽ quật đổ nó. Trên vỏ cây khắc tên ông trợ tế Pi-bô-đi. Giờ gã nhìn quanh, thấy hầu hết những cây cao đều khắc tên những nhân vật lớn trong thuộc địa, và đều ít nhiều bị rìu chặt. Cây gã đang ngồi, rõ ràng vừa bị đốn hạ, mang tên Crao-ninh-sin. Gã nhớ ra một người giàu nứt đố đổ vách mang tên ấy, kẻ khoe khoang của cải một cách lố lăng, mà người ta thì thầm rằng hắn kiếm được nhờ nghề cướp biển.

– Nó sắp đem đốt được rồi! – Gã đen nhẻm nói, gầm gừ đắc thắng. – Mày thấy đấy, mùa đông này tao sẽ có cả một kho củi kha khá.

– Nhưng mày có quyền gì, – Tôm hỏi, – mà chặt gỗ của ông trợ tế Pi-bô-đi?

– Quyền của kẻ đến trước, – kẻ kia đáp. – Khu rừng này đã là của tao từ rất lâu trước khi một tên trong cái giống mặt trắng của chúng mày đặt chân lên mảnh đất này.

– Thế xin hỏi mày là ai, nếu tao được phép mạo muội? – Tôm hỏi.

– Ồ, tao có nhiều tên lắm. Ở vài xứ tao là Gã Thợ Săn Hoang Dã. Ở những xứ khác tao là Gã Thợ Mỏ Đen. Ở vùng này người ta biết tao với cái tên Gã Tiều Phu Đen. Tao là kẻ mà người da đỏ đã hiến dâng chốn này, và thỉnh thoảng họ lại nướng một người da trắng làm lễ vật thơm tho dâng tao. Từ khi người da đỏ bị lũ man rợ da trắng chúng mày tiêu diệt, tao tiêu khiển bằng cách chủ trì những vụ khủng bố phái Quây-cơ và phái Tái Tẩy Lễ. Tao là ông bầu lớn và kẻ xúi giục những tên buôn nô lệ, và là trùm của bọn phù thuỷ ở Xê-lem.

– Rốt cuộc tất cả những điều ấy có nghĩa là, nếu tao không nhầm, – Tôm nói giọng cứng cỏi, – mày là kẻ mà người ta vẫn gọi là Lão Quỷ Già.

– Chính tao đây, xin phục vụ mày! – Gã đen nhẻm đáp, gật đầu nửa lịch sự.

Theo chuyện xưa, cuộc gặp gỡ đã mở đầu như thế, dù nghe có vẻ quá thân mật để có thể tin được. Người ta có thể nghĩ rằng gặp một nhân vật kỳ lạ như vậy ở nơi hoang vu cô quạnh này thì ai cũng phải run sợ. Nhưng Tôm là một gã cứng đầu, không dễ khiếp vía, lại sống đã quá lâu với một mụ vợ dữ dằn, đến nỗi gã chẳng sợ cả quỷ.

Người ta kể rằng sau màn mở đầu ấy, hai bên đã nói chuyện với nhau dài và nghiêm túc trong khi Tôm đi về nhà. Gã đen nhẻm kể cho Tôm nghe về những món tiền lớn mà tên cướp biển Kít đã chôn dưới những cây sồi trên dải đồi cao không xa đầm lầy. Tất cả đều dưới quyền hắn, được quyền phép của hắn che chở, nên không ai tìm ra được, trừ những kẻ được hắn đoái thương. Hắn ngỏ ý đặt chỗ của cải ấy trong tầm tay Tôm Oa-cơ, vì hắn đặc biệt có cảm tình với gã. Nhưng muốn có chúng thì phải chịu vài điều kiện. Điều kiện gì thì cũng dễ đoán, dù Tôm không bao giờ nói ra công khai. Hẳn chúng phải rất khắc nghiệt, vì Tôm phải xin thời gian suy nghĩ, mà gã đâu phải loại người chần chừ vì chuyện vặt khi đã thấy tiền trước mắt. Khi họ tới bìa đầm lầy, kẻ lạ dừng lại.

– Lấy gì làm bằng chứng rằng mọi điều mày nói là thật? – Tôm hỏi.

– Chữ ký của tao đây, – gã đen nhẻm nói, ấn ngón tay lên trán Tôm. Nói xong hắn rẽ vào giữa những bụi rậm trong đầm, và như Tôm kể lại, có vẻ như hắn đi xuống, xuống, xuống mãi vào lòng đất, cho tới khi chỉ còn thấy đầu và vai, rồi cứ thế cho tới khi biến mất hẳn.

Khi Tôm về tới nhà, gã thấy trên trán mình có dấu một ngón tay đen như bị đốt cháy in vào, không gì xoá được.

Tin đầu tiên vợ gã báo cho gã là cái chết đột ngột của Áp-xa-lôm Crao-ninh-sin, gã cướp biển giàu có. Báo chí đưa tin với những lời hoa mỹ thường lệ, rằng "một vĩ nhân đã ngã xuống".

Tôm nhớ tới cái cây mà gã bạn đen nhẻm của mình vừa đốn hạ, đã sẵn sàng đem đốt.

– Kệ thằng cướp biển bị nướng, – Tôm nói, – ai mà thèm quan tâm!

Giờ gã tin chắc rằng mọi điều mình đã nghe đã thấy không phải là ảo ảnh.

Gã vốn không hay tâm sự với vợ. Nhưng đây là một bí mật làm gã bứt rứt, nên gã sẵn lòng chia sẻ với mụ. Nghe nhắc tới vàng chôn giấu, tất cả lòng tham của mụ thức dậy, và mụ giục chồng chấp nhận điều kiện của gã đen nhẻm, giữ lấy thứ sẽ làm họ giàu có suốt đời. Nhưng dù Tôm có định bán mình cho quỷ đến đâu, gã cũng quyết không làm thế chỉ để chiều vợ. Thế là gã thẳng thừng từ chối, chỉ vì cái tính thích làm ngược. Hai vợ chồng cãi nhau nhiều trận cay đắng về chuyện ấy. Nhưng mụ càng nói, Tôm càng quyết không chịu xuống địa ngục để làm vừa lòng mụ. Cuối cùng mụ quyết định tự mình đi mặc cả, và nếu thành công thì giữ hết lợi lộc cho riêng mình.

Vốn cũng gan lì như chồng, mụ lên đường tới đồn cũ của người da đỏ vào lúc chiều tàn một ngày hè. Mụ đi vắng nhiều giờ. Lúc về, mụ trả lời dè dặt, cáu kỉnh. Mụ nói gì đó về một gã đen nhẻm mà mụ gặp lúc chạng vạng, đang chặt gốc một cây cao. Nhưng hắn cau có, không chịu thoả thuận. Mụ sẽ phải quay lại, mang theo một món lễ vật để lấy lòng hắn, nhưng món gì thì mụ không chịu nói.

Tối hôm sau mụ lại lên đường ra đầm lầy, chiếc tạp dề nặng trĩu. Tôm chờ mãi, chờ mãi, nhưng vô ích. Nửa đêm tới, mụ vẫn không về. Sáng, trưa, rồi tối lại tới, mụ vẫn không về. Giờ Tôm bắt đầu lo cho mụ, nhất là khi gã phát hiện ra mụ đã gói trong tạp dề mang đi cả ấm trà bạc, thìa bạc và mọi món đồ quý mang đi được. Thêm một đêm nữa trôi qua, thêm một buổi sáng nữa tới, mà vẫn chẳng thấy vợ đâu. Tóm lại, từ đó không ai còn nghe tin tức gì về mụ nữa.

Số phận thật sự của mụ ra sao thì chẳng ai biết, chính vì có quá nhiều người làm như mình biết. Đó là một trong những sự việc đã bị đủ loại sử gia làm cho rối tung. Có người quả quyết mụ lạc đường giữa mê cung rối rắm của đầm lầy, rồi sa xuống một cái hố hay vũng lầy nào đó. Những người khác, kém độ lượng hơn, ám chỉ rằng mụ đã ôm của nả trong nhà trốn đi, chạy sang một tỉnh nào khác. Lại có người quả quyết rằng kẻ cám dỗ đã dụ mụ vào một bãi lầy ảm đạm, trên mặt bãi người ta tìm thấy chiếc mũ của mụ. Để xác nhận điều này, người ta kể rằng ngay tối hôm ấy, rất muộn, có người thấy một gã đen nhẻm to lớn vai vác rìu đi ra khỏi đầm lầy, tay xách một cái bọc gói trong chiếc tạp dề kẻ ô, vẻ đắc thắng cau có.

Tuy vậy, câu chuyện phổ biến nhất và đáng tin nhất kể rằng Tôm Oa-cơ lo lắng cho số phận của vợ và của cải đến nỗi cuối cùng gã lên đường tới đồn cũ của người da đỏ để tìm cả hai. Suốt một buổi chiều hè dài, gã lùng sục khắp chốn u ám ấy, nhưng chẳng thấy vợ đâu. Gã gọi tên mụ mãi, nhưng chẳng nghe tiếng mụ đâu cả. Chỉ có con vạc đáp lại tiếng gã, kêu thất thanh khi bay qua, hay con ễnh ương ộp oạp buồn thảm từ một vũng nước gần đó. Cuối cùng, người ta kể, đúng vào giờ chạng vạng nâu sẫm, khi cú bắt đầu kêu và dơi bắt đầu chao liệng, tiếng quạ ăn xác kêu ầm ĩ, lượn quanh một cây bách, khiến gã chú ý. Gã nhìn lên, thấy một cái bọc gói trong chiếc tạp dề kẻ ô treo trên cành cây, một con kền kền to đậu sát bên như đang canh giữ nó. Gã nhảy cẫng lên vì mừng, vì nhận ra chiếc tạp dề của vợ, và đoán trong đó là đồ quý trong nhà.

"Cứ lấy lại được của cải đã," gã tự an ủi, "còn mụ đàn bà thì mình sẽ cố mà sống thiếu."

Khi gã trèo lên cây, con kền kền dang đôi cánh rộng, kêu thất thanh bay vút vào bóng tối sâu thẳm của khu rừng. Tôm chộp lấy chiếc tạp dề kẻ ô, nhưng trời ơi, cảnh tượng mới thảm làm sao! Trong đó chẳng có gì ngoài một quả tim và một lá gan gói lại.

Theo câu chuyện xưa đáng tin nhất, đó là tất cả những gì còn tìm thấy của vợ Tôm. Có lẽ mụ đã định đối xử với gã đen nhẻm như mụ vẫn quen đối xử với chồng. Mà dù người ta thường cho rằng một mụ đàn bà lắm điều cũng ngang cơ với quỷ, thì lần này có vẻ mụ đã thua. Tuy vậy, hẳn mụ đã chết một cách gan góc, căn cứ vào chính những phần còn lại chưa bị khuất phục. Quả thật, người ta kể rằng quanh gốc cây Tôm thấy nhiều dấu chân móng chẻ in sâu, và vài nắm tóc trông như bị nhổ từ cái mớ tóc đen thô của gã tiều phu. Tôm đã biết qua kinh nghiệm sức mạnh của vợ mình. Gã nhún vai khi nhìn những dấu vết của một trận cào cấu dữ dội.

"Chà," gã tự nhủ, "Lão Quỷ Già hẳn đã phải vất vả lắm đây!"

Tôm tự an ủi về việc mất của bằng việc mất vợ, vì gã cũng có chút gì của một triết gia. Gã còn cảm thấy một cái gì như biết ơn gã tiều phu đen nhẻm, kẻ mà gã cho là đã làm ơn cho mình. Vì vậy gã tìm cách làm quen thêm với hắn, nhưng một thời gian chẳng được. Lão quỷ đen làm bộ e lệ, vì dù người ta nghĩ gì đi nữa, không phải cứ gọi là lão tới. Lão biết cách chơi bài khi đã khá chắc ván thắng.

Cuối cùng, người ta kể, khi sự chần chừ đã mài sắc lòng háo hức của Tôm tới tột độ, khiến gã sẵn sàng chấp nhận bất cứ điều gì miễn là có được kho báu đã hứa, thì một buổi tối Tôm gặp gã đen nhẻm trong bộ đồ tiều phu thường lệ, rìu trên vai, đang thong thả đi dọc bìa đầm, miệng ngâm nga một điệu hát. Hắn làm ra vẻ hết sức thờ ơ khi Tôm tới gần, trả lời cụt lủn, rồi lại ngâm nga tiếp.

Tuy vậy, dần dần Tôm cũng kéo được hắn vào chuyện chính, và họ bắt đầu mặc cả về những điều kiện để Tôm có được kho báu của tên cướp biển. Có một điều kiện không cần nhắc tới, vì ai cũng hiểu trong mọi trường hợp quỷ ban ơn cho người. Nhưng còn những điều kiện khác, tuy kém quan trọng hơn, hắn lại ương ngạnh không chịu nhượng bộ. Hắn khăng khăng rằng tiền tìm được nhờ hắn phải dùng vào việc phục vụ hắn. Vì vậy hắn đề nghị Tôm dùng nó vào việc buôn bán đen tối, tức là sắm một con tàu buôn nô lệ. Nhưng Tôm cương quyết từ chối. Gã đã đủ tồi tệ, trời biết thế, nhưng chính quỷ sứ cũng không cám dỗ nổi gã làm kẻ buôn người.

Thấy Tôm khó tính ở điểm này, hắn không ép nữa, mà đề nghị gã làm nghề cho vay nặng lãi, vì quỷ sứ vô cùng mong cho bọn cho vay nặng lãi đông thêm, coi chúng là dân riêng của mình.

Điều này thì Tôm chẳng phản đối gì, vì nó hợp ngay khẩu vị gã.

– Tháng sau mày sẽ mở một hiệu cầm đồ ở Bô-xtơn, – gã đen nhẻm nói.

– Nếu mày muốn, mai tao mở ngay, – Tôm Oa-cơ nói.

– Mày sẽ cho vay lãi hai phần trăm một tháng.

– Chà, tao sẽ lấy bốn! – Tôm Oa-cơ đáp.

– Mày sẽ ép người ta ký giấy nợ, siết nhà cửa cầm cố, đẩy các nhà buôn tới chỗ phá sản…

– Tao sẽ đẩy chúng xuống tận địa ngục, – Tôm Oa-cơ hăm hở kêu lên.

– Mày đúng là tay cho vay hợp với tiền của tao! – Lão quỷ đen nói, khoái chí. – Bao giờ mày cần tiền?

– Ngay đêm nay.

– Xong! – Quỷ sứ nói.

– Xong! – Tôm Oa-cơ nói.

Thế là họ bắt tay, chốt giao kèo.

Vài ngày sau, người ta thấy Tôm Oa-cơ ngồi sau bàn giấy trong một phòng kế toán ở Bô-xtơn. Tiếng tăm của gã như một người có sẵn tiền mặt, sẵn lòng cho vay nếu được trả công xứng đáng, chẳng mấy chốc lan rộng. Ai cũng nhớ những ngày thống đốc Ben-sơ cầm quyền, khi tiền bạc đặc biệt khan hiếm. Đó là thời của tín dụng giấy. Đất nước ngập tràn giấy bạc của chính quyền. Ngân hàng Đất Đai nổi tiếng đã được lập. Người ta đổ xô vào đầu cơ. Dân chúng phát cuồng với những kế hoạch lập khu định cư mới, xây thành phố giữa chốn hoang vu. Bọn buôn đất đi khắp nơi với những tấm bản đồ đất được cấp, những thị trấn, những xứ vàng nằm ở đâu chẳng ai biết, nhưng ai cũng sẵn sàng mua. Tóm lại, cơn sốt đầu cơ lớn thỉnh thoảng lại bùng phát trong nước đã lên tới mức đáng sợ, và ai cũng mơ bỗng nhiên giàu to từ hai bàn tay trắng. Như thường lệ, cơn sốt đã hạ, giấc mơ đã tan, những gia tài tưởng tượng cũng tan theo. Những người bệnh bị bỏ lại trong tình cảnh thảm hại, và khắp nước vang lên tiếng than "thời buổi khó khăn".

Chính vào lúc dân tình khốn đốn, một thời cơ thuận lợi như thế, Tôm Oa-cơ ra làm nghề cho vay nặng lãi ở Bô-xtơn. Chẳng mấy chốc cửa nhà gã đã chật ních khách. Kẻ túng thiếu và kẻ liều lĩnh, tay đầu cơ cờ bạc, gã buôn đất mơ mộng, người buôn bán hoang phí, nhà buôn mất tín nhiệm, tóm lại là bất cứ ai bị dồn tới chỗ phải kiếm tiền bằng những cách liều lĩnh và những hy sinh tuyệt vọng, đều vội vã tìm tới Tôm Oa-cơ.

Thế là Tôm thành người bạn chung của mọi kẻ túng thiếu, và gã cư xử đúng như một người bạn lúc hoạn nạn, nghĩa là gã luôn đòi trả công hậu và thế chấp chắc chắn. Người vay càng khốn đốn thì điều kiện của gã càng khắt khe. Gã chất đống giấy nợ và văn tự cầm cố, dần dần siết khách hàng mỗi lúc một chặt, rồi cuối cùng tống họ ra khỏi cửa khô kiệt như miếng bọt biển vắt cạn.

Cứ thế gã kiếm tiền như nước, trở thành một người giàu có, quyền thế, nghênh ngang chiếc mũ ba góc ở sở giao dịch. Như thường lệ, gã xây cho mình một ngôi nhà đồ sộ để khoe khoang, nhưng vì bủn xỉn, gã để phần lớn bỏ dở, chẳng có đồ đạc. Trong lúc vênh vang tột độ, gã còn sắm cả một cỗ xe ngựa, dù gần như bỏ đói những con ngựa kéo nó. Và khi những bánh xe không tra dầu rên rỉ, rít lên trên trục, người ta tưởng như nghe thấy linh hồn những con nợ nghèo đang bị gã vắt kiệt.

Tuy vậy, khi Tôm về già, gã trở nên trầm ngâm. Đã nắm chắc những của ngon vật lạ của thế gian này, gã bắt đầu lo lắng về những thứ ở thế giới bên kia. Gã nghĩ với nỗi ân hận về giao kèo đã ký với gã bạn đen nhẻm, và vắt óc tìm cách lừa hắn để khỏi phải giữ điều kiện. Vì thế, bỗng nhiên gã trở thành một con chiên đi lễ nhà thờ hăng hái kịch liệt. Gã cầu nguyện to tiếng và hùng hổ, như thể có thể chiếm thiên đường bằng sức phổi. Quả thật, nghe tiếng ồn ào trong buổi cầu nguyện ngày chủ nhật của gã, người ta có thể đoán tuần ấy gã phạm tội nhiều nhất vào lúc nào. Những con chiên hiền lành, vốn khiêm tốn và kiên định đi trên đường về nước Chúa, sững sờ tự trách khi thấy mình bỗng bị kẻ mới nhập đạo này vượt mặt. Tôm khắt khe trong chuyện đạo cũng như trong chuyện tiền. Gã là kẻ giám sát và chỉ trích hàng xóm nghiêm khắc, và có vẻ cho rằng mỗi tội ghi vào sổ của họ lại thành một khoản có lợi bên trang sổ của mình. Gã còn nói tới chuyện nên khôi phục lại việc khủng bố phái Quây-cơ và phái Tái Tẩy Lễ. Tóm lại, lòng nhiệt thành của Tôm cũng nổi tiếng như sự giàu có của gã.

Thế nhưng, dù hăng hái giữ đạo bề ngoài đến thế, trong lòng Tôm vẫn ngấm ngầm sợ rằng rốt cuộc quỷ sứ sẽ đòi đúng phần của mình. Vì vậy, để khỏi bị bắt bất ngờ, người ta kể rằng gã luôn mang một cuốn Kinh Thánh nhỏ trong túi áo. Trên bàn giấy trong phòng làm việc, gã cũng để một cuốn Kinh Thánh khổ lớn, và người ta thường thấy gã đang đọc nó mỗi khi có ai tới bàn chuyện làm ăn. Những lúc ấy, gã đặt cặp kính xanh lên trang sách để đánh dấu chỗ đang đọc, rồi quay sang ép một vụ cho vay cắt cổ nào đó.

Có người bảo về già Tôm hơi lẩn thẩn, rằng vì tưởng ngày chết đã gần, gã cho đóng móng mới cho ngựa, thắng yên cương đầy đủ, rồi đem chôn nó, chân chổng lên trời. Vì gã cho rằng vào ngày tận thế, thế gian sẽ đảo lộn trên dưới, khi ấy gã sẽ thấy ngựa đứng sẵn sàng để cưỡi, và gã quyết nếu tệ nhất thì cũng chạy đua một phen với ông bạn cũ. Nhưng có lẽ đó chỉ là chuyện bịa của các bà già. Nếu gã có đề phòng như thế thật, thì cũng hoàn toàn thừa. Ít ra là theo truyền thuyết xưa đáng tin cậy, kết thúc câu chuyện của gã như sau.

Vào một buổi chiều nóng nực giữa những ngày oi bức nhất mùa hè, đúng lúc một cơn giông sấm sét đen kịt khủng khiếp đang kéo tới, Tôm ngồi trong phòng làm việc, đầu đội chiếc mũ vải lanh trắng, mình mặc chiếc áo choàng mặc nhà bằng lụa Ấn Độ. Gã đang sắp siết một món nợ cầm cố, nhờ đó sẽ làm cho một tay đầu cơ đất xấu số, kẻ mà gã từng tỏ ra vô cùng thân thiết, phá sản hoàn toàn. Gã buôn đất tội nghiệp van xin Tôm khoan cho vài tháng. Tôm đã trở nên cáu kỉnh, bực bội, không chịu gia thêm một ngày.

– Gia đình tôi sẽ khánh kiệt, phải sống nhờ của bố thí mất, – gã buôn đất nói.

– Làm phúc thì phải bắt đầu từ nhà mình, – Tôm đáp. – Thời buổi khó khăn thế này, tôi phải lo cho thân tôi.

– Ông đã kiếm của tôi bao nhiêu tiền rồi, – tay đầu cơ nói.

Tôm mất hết kiên nhẫn lẫn lòng sùng đạo.

– Cho quỷ bắt tôi đi, – gã nói, – nếu tôi kiếm được của anh lấy một đồng xu!

Ngay lúc ấy có ba tiếng gõ mạnh vào cửa trông ra phố. Tôm bước ra xem ai. Một gã đàn ông đen nhẻm đang giữ một con ngựa đen, nó hí vang và giậm chân sốt ruột.

– Tôm, tới lượt mày rồi! – Gã đen nhẻm nói cộc lốc.

Tôm co rúm người lại, nhưng đã muộn. Gã để quên cuốn Kinh Thánh nhỏ dưới đáy túi áo, còn cuốn Kinh Thánh lớn trên bàn thì bị vùi dưới tờ văn tự cầm cố gã sắp siết. Chưa từng có kẻ tội lỗi nào bị bắt bất ngờ hơn thế. Gã đen nhẻm nhấc bổng Tôm lên như nhấc một đứa trẻ, đặt ngồi lên lưng ngựa, rồi phi nước đại đi giữa cơn giông sấm sét. Đám thư ký giắt bút lên tai, nhìn theo qua cửa sổ. Tôm Oa-cơ lao vút đi dọc phố, chiếc mũ trắng nhấp nhô, chiếc áo choàng phần phật trong gió, con ngựa mỗi bước nhảy lại làm toé lửa trên mặt đường lát đá. Khi đám thư ký quay lại tìm gã đen nhẻm thì hắn đã biến mất.

Tôm Oa-cơ không bao giờ trở về để siết món nợ cầm cố. Một người nhà quê sống ở bìa đầm lầy kể lại rằng giữa lúc cơn giông dữ dội nhất, ông nghe thấy tiếng vó ngựa lộp cộp ầm ĩ và tiếng tru dọc con đường. Ông chạy ra cửa sổ, vừa kịp thấy một bóng người như tôi đã tả, trên một con ngựa phi như điên băng qua đồng, vượt qua đồi, lao xuống đầm độc cần tối đen, về phía đồn cũ của người da đỏ. Ngay sau đó, một tiếng sét đánh xuống phía ấy, như làm cả khu rừng bốc cháy.

Những người tử tế ở Bô-xtơn lắc đầu, nhún vai. Nhưng từ thuở mới lập thuộc địa, họ đã quá quen với phù thuỷ, yêu tinh và những trò ma mãnh của quỷ sứ dưới đủ mọi hình dạng, nên không kinh hoàng như người ta có thể tưởng. Người ta cử những người được uỷ thác trông coi tài sản của Tôm. Nhưng chẳng có gì để mà trông coi. Lục tìm trong két, người ta thấy mọi giấy nợ và văn tự cầm cố đều đã cháy thành tro. Thay cho vàng bạc, chiếc hòm sắt của gã chứa đầy vỏ bào và dăm gỗ. Trong chuồng ngựa có hai bộ xương thay cho hai con ngựa đói lả. Và ngay hôm sau, ngôi nhà đồ sộ của gã bốc cháy, thiêu rụi tới tận nền.

Đó là kết cục của Tôm Oa-cơ và của cải phi nghĩa của gã. Mong rằng mọi kẻ cho vay tham lam hãy ghi lòng tạc dạ câu chuyện này. Sự thật của nó không thể nghi ngờ. Cái hố dưới gốc sồi, nơi gã đào được tiền của Kít, đến nay vẫn còn đó. Và vào những đêm giông bão, đầm lầy gần đó cùng đồn cũ của người da đỏ vẫn thường có bóng một người cưỡi ngựa, mặc áo choàng mặc nhà, đội mũ trắng, hẳn là linh hồn không yên của tên cho vay nặng lãi. Thật vậy, câu chuyện đã thành một câu ngạn ngữ, và là nguồn gốc của câu nói quen thuộc khắp miền Tân Anh: "Quỷ sứ và Tôm Oa-cơ".

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảWashington Irving (1783 – 1859)
Năm mất1859
Xuất bản lần đầu1824
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Devil and Tom Walker, Washington Irving, 1824; bản in trong tập Tales of a Traveller (Project Gutenberg số 13514)
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →