Tôi chưa bao giờ ưa chuyện thù truyền kiếp giữa các dòng họ. Tôi cho rằng đó là thứ sản vật của nước ta được tâng bốc quá đáng, còn hơn cả bưởi chùm, món dồi xay hay tuần trăng mật. Dù vậy, nếu được phép, tôi sẽ kể các anh nghe về một mối thù ở Lãnh thổ Da Đỏ mà tôi vừa là người đưa tin, vừa là kẻ đi theo, vừa là người chứng kiến không dính tay.
Hồi ấy tôi tới chơi trại của Xam Đơ-ki. Ở đó tôi được một phen thoả thích ngã lộn nhào khỏi những con ngựa con chưa thuần, và giơ tay không ra doạ những cái hàm sói cách xa chừng hai dặm. Xam là một tay rắn rỏi chừng hai mươi lăm tuổi, nổi tiếng là đi đêm về nhà mà chẳng chút nao núng, tuy thường là chẳng thiết về.
Bên vùng đất của người Crích có một gia đình họ Ta-tâm. Người ta bảo tôi rằng nhà Đơ-ki với nhà Ta-tâm đã thù nhau nhiều năm. Mỗi bên đã có mấy người gục xuống cỏ, và ai cũng đoán rồi sẽ còn nhiều người gục nữa. Lớp con cháu của hai nhà đang lớn lên, và cỏ cũng mọc theo kịp. Nhưng theo tôi hiểu thì họ đánh nhau sòng phẳng. Họ không nằm phục trong ruộng ngô mà nhắm vào chỗ hai dây đeo quần bắt chéo sau lưng kẻ thù. Có lẽ một phần vì ở đây không có ruộng ngô, và chẳng ai đeo quá một dây. Chưa từng có người đàn bà hay đứa trẻ nào của hai nhà bị hại. Thời ấy, mà cho tới giờ các anh vẫn sẽ thấy vậy, đàn bà ở đây được an toàn.
Xam Đơ-ki có người yêu. Tên cô là En-la Bên. Hai người có vẻ hết lòng với nhau, tin nhau tuyệt đối, như mọi cặp tình nhân khác. Cô khá xinh, có một mái tóc nâu dày dặn giúp cô xinh thêm. Xam giới thiệu tôi với cô, mà điều đó có vẻ chẳng làm giảm lòng cô ưu ái anh chút nào, nên tôi đoán chắc họ đúng là tri kỷ của nhau.
Cô Bên sống ở King-phi-sơ, cách trại hai mươi dặm. Xam thì sống trên lưng ngựa phi qua lại giữa hai nơi.
Một hôm, tới King-phi-sơ có một chàng trai trẻ gan dạ, người hơi nhỏ, mặt nhẵn nhụi, đường nét cân đối. Anh ta hỏi han rất nhiều về công việc làm ăn trong thị trấn, nhất là về tên tuổi dân cư ở đó. Anh ta bảo mình từ Mớt-xcô-ghi tới, mà trông cũng ra dáng thật, giày vàng, cà vạt đan móc. Tôi gặp anh ta một lần khi cưỡi ngựa ra thị trấn lấy thư. Anh ta xưng tên là Be-vơ-li Tra-vơ, cái tên nghe có vẻ khó tin.
Dạo ấy trong trại đang bận rộn, Xam chẳng mấy khi rảnh mà ra thị trấn. Là một vị khách vụng về, nói chung là vô tích sự, tôi được giao việc cưỡi ngựa ra mua những thứ lặt vặt như bưu thiếp, thùng bột mì, bột nở, thuốc lá hút, và thư của En-la.
Một hôm, khi được sai đi mua sáu chục xấp giấy cuốn thuốc và một đôi vành sắt bánh xe, tôi thấy cái anh chàng xưng là Be-vơ-li Tra-vơ ngồi trên chiếc xe ngựa bánh vàng cùng En-la Bên, đánh xe đi khắp thị trấn, phô trương hết mức mà lớp bùn đen nhớp nháp cho phép. Tôi biết tin này chẳng làm lòng Xam dễ chịu gì, nên khi về, kể tin tức thành phố, tôi lờ nó đi.
Nhưng chiều hôm sau, một cựu chăn bò người dài ngoẵng tên là Xim-mơn, bạn cũ của Xam, chủ một cửa hàng bán thức ăn gia súc ở King-phi-sơ, cưỡi ngựa ra trại. Anh ta cuốn và đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác rồi mới chịu mở miệng. Khi đã mở miệng, anh ta nói thế này:
— Này Xam, hai tuần nay có một thằng cha tự xưng là Be-vơ-li Tra-vơ gì đấy làm ô nhiễm bầu không khí ở King-phi-sơ. Cậu biết nó là ai không? Nó chẳng phải ai khác ngoài thằng Ben Ta-tâm bên đất Crích, con lão Gô-phơ Ta-tâm mà chú Niu của cậu bắn hồi tháng Hai năm ngoái ấy. Cậu biết sáng nay nó làm gì không? Nó giết em trai cậu, thằng Lét-xtơ. Bắn chết ngay ngoài sân toà án.
Tôi tự hỏi không biết Xam có nghe thấy không. Anh bẻ một cành mét-xơ-kít, nghiêm trang nhai, rồi nói:
— Thế à? Nó giết Lét-xtơ à?
— Chính thế, — Xim-mơn nói. — Mà nó còn làm hơn thế nữa. Nó bỏ trốn với người yêu của cậu, tức là cô En-la Bên. Tớ nghĩ chắc cậu muốn biết, nên cưỡi ngựa ra báo tin.
— Cảm ơn cậu nhiều, Gim, — Xam nói, rút cành cây đã nhai khỏi miệng. — Ừ, tớ mừng là cậu ra đây. Ừ, tớ mừng lắm.
— Thôi, chắc tớ phải về đây. Thằng nhóc tớ để lại trông cửa hàng chẳng phân biệt nổi cỏ khô với yến mạch. Nó bắn Lét-xtơ sau lưng.
— Bắn sau lưng à?
— Ừ, lúc Lét-xtơ đang buộc ngựa.
— Cảm ơn cậu nhiều, Gim.
— Tớ cứ nghĩ cậu muốn biết càng sớm càng tốt.
— Vào uống cà phê đã rồi hẵng về, Gim?
— Thôi, chắc không đâu. Tớ phải về cửa hàng.
— Thế cậu bảo...
— Ừ, Xam. Ai cũng thấy hai đứa nó đi cùng nhau trên một cái xe ngựa nhẹ, đằng sau buộc một bọc to như bọc quần áo. Nó đánh cặp ngựa nó mang từ Mớt-xcô-ghi sang. Khó mà đuổi kịp ngay được.
— Thế đi đường nào...
— Tớ đang định nói đây. Chúng đi theo đường Gớt-thơ-ri, nhưng tới mấy ngã ba thì chẳng biết chúng rẽ lối nào, cậu biết đấy.
— Được rồi, Gim, cảm ơn cậu nhiều.
— Có gì đâu, Xam.
Xim-mơn cuốn một điếu thuốc, thúc cả hai gót vào bụng con ngựa. Đi được chừng hai chục mét, anh ta ghìm cương, ngoái lại gọi:
— Cậu không cần... giúp một tay gì à?
— Không, cảm ơn.
— Tớ cũng đoán thế. Thôi, chào nhé!
Xam lấy ra con dao nhíp cán xương, mở ra, cạo một mảng bùn khô trên chiếc ủng bên trái. Thoạt đầu tôi tưởng anh sắp đặt tay lên lưỡi dao thề báo thù, hay đọc một lời nguyền rủa nào đó. Vài mối thù truyền kiếp tôi từng thấy hay từng đọc thường mở màn như thế. Còn mối thù này có vẻ được dàn dựng theo lối mới. Nếu đưa lên sân khấu thế này, hẳn khán giả sẽ huýt sáo đuổi xuống, và đòi diễn một vở bi kịch gay cấn thay vào.
— Không biết, — Xam nói, vẻ trầm ngâm hết sức, — ông đầu bếp còn ít đậu nguội nào không nhỉ!
Anh gọi Oát, ông đầu bếp, và biết còn đậu, liền bảo ông hâm nóng cái nồi lên, pha một ấm cà phê thật đặc. Rồi chúng tôi vào căn phòng riêng của Xam, nơi anh ngủ, cất súng ống, nuôi chó, và cất yên cương của những con ngựa anh ưa cưỡi nhất. Anh lấy ba bốn khẩu súng lục trong tủ sách ra, bắt đầu xem xét, miệng huýt sáo lơ đãng bài "Lời than của chàng chăn bò". Sau đó anh ra lệnh thắng yên hai con ngựa tốt nhất trại, buộc sẵn vào cọc.
Tôi để ý thấy rằng trong chuyện thù truyền kiếp, ở mọi miền đất nước, có một điểm lễ nghi tế nhị mà nghiêm ngặt. Anh không được nhắc tới chữ ấy, hay đả động tới chuyện ấy, trước mặt người đang mang thù. Làm thế còn đáng trách hơn là bình phẩm về cái nốt ruồi trên cằm bà dì giàu có của anh. Về sau tôi mới biết còn một luật bất thành văn nữa, nhưng tôi nghĩ luật ấy chỉ có ở miền Tây.
Còn hai tiếng nữa mới tới bữa tối, nhưng chỉ hai mươi phút sau Xam và tôi đã cắm cúi ăn đậu hâm, cà phê nóng và thịt bò nguội.
— Trước một chuyến đi dài thì chẳng gì bằng một bữa no, — Xam nói. — Ăn cho thật no vào.
Tôi chợt nghi ngờ.
— Sao anh lại cho thắng yên hai con ngựa? — Tôi hỏi.
— Một, hai. Một, hai, — Xam nói. — Anh biết đếm chứ hả?
Phép toán của anh làm tôi chột dạ một thoáng, và cho tôi một bài học. Trong đầu anh chưa từng nảy ra ý nghĩ rằng trong đầu tôi có thể nảy ra ý nghĩ không cưỡi ngựa bên anh trên con đường máu dẫn tới báo thù và công lý. Đó là thứ toán cao cấp. Tôi đã được ghi tên vào chuyến đi. Tôi bắt đầu ăn thêm đậu.
Một tiếng sau chúng tôi lên đường, phi đều về hướng đông. Ngựa của chúng tôi là giống Ken-tắc-ki, được cỏ mét-xơ-kít miền Tây nuôi cho thêm dẻo dai. Ngựa của Ben Ta-tâm có thể nhanh hơn, và hắn đã đi trước một quãng xa. Nhưng nếu hắn nghe được tiếng vó đều đặn của hai con ngựa đuổi theo, những con ngựa sinh ra ngay giữa đất thù truyền kiếp, hẳn hắn sẽ cảm thấy sự trừng phạt đang bò dần tới trên vết móng của cặp ngựa bảnh bao của hắn.
Tôi biết quân bài Ben Ta-tâm phải đánh là chạy trốn, chạy cho tới khi vào được vùng đất an toàn hơn của bè đảng và người ủng hộ hắn. Hắn biết người đang đuổi theo hắn sẽ bám theo dấu vết tới tận cùng, dù nó dẫn tới đâu.
Suốt chuyến đi, Xam nói chuyện về khả năng trời mưa, về giá thịt bò, về đủ thứ chuyện vu vơ. Ai nghe cũng tưởng anh chưa từng có em trai, có người yêu hay có kẻ thù nào trên đời. Có những chuyện quá lớn, đến cuốn từ điển dày nhất cũng không đủ chữ mà nói. Biết khía cạnh ấy của luật thù truyền kiếp nhưng chưa quen thực hành, tôi làm hơi quá tay, kể vài chuyện hơi buồn cười. Xam cười đúng chỗ, cười bằng miệng. Khi tôi nhìn thấy cái miệng ấy, tôi ước gì trời cho tôi đủ khiếu hài hước để nín những câu chuyện kia lại.
Lần đầu chúng tôi thấy bọn họ là ở Gớt-thơ-ri. Mệt mỏi, đói lả, chúng tôi lảo đảo bước vào một khách sạn nhỏ bằng gỗ thông vàng, chưa kịp rửa ráy, ngồi xuống một chiếc bàn. Ở góc đối diện, chúng tôi thấy hai kẻ chạy trốn. Họ đang cúi đầu ăn, nhưng thỉnh thoảng lại ngó quanh vẻ bồn chồn.
Cô gái mặc đồ nâu, một thứ vải trơn, bóng bóng, trông như lụa, cổ và cổ tay viền đăng-ten, váy xếp nếp như ống đàn xếp. Cô đeo một tấm mạng nâu dày trùm xuống tận mũi, đội chiếc mũ rơm rộng vành cắm lông chim. Người đàn ông mặc bộ quần áo sẫm màu giản dị, tóc cắt rất ngắn. Hắn là kiểu người anh có thể gặp ở bất cứ đâu.
Họ ở đó, kẻ giết người và người đàn bà hắn đã cướp đi. Chúng tôi ở đây, người báo thù chính đáng theo luật lệ, và kẻ đứng ngoài đang viết những dòng này.
Ít nhất là một lần, trong lòng kẻ đứng ngoài trỗi dậy bản năng giết chóc. Trong một khoảnh khắc, hắn nhập hàng ngũ những người chiến đấu, bằng mồm.
— Anh còn chờ gì nữa, Xam? — Tôi thì thầm. — Cho nó một phát ngay đi!
Xam thở dài u sầu.
— Anh không hiểu đâu, nhưng nó thì hiểu, — anh nói. — Nó biết. Này anh người thành phố, ở cái vùng này có một luật lệ giữa người da trắng với nhau là không được bắn một người đàn ông khi hắn đang đi với một người đàn bà. Tôi chưa từng biết có ai phạm luật ấy. Không được làm thế. Phải gặp hắn giữa một đám đàn ông, hoặc lúc hắn đi một mình. Lý do là thế. Nó cũng biết. Ai cũng biết. Thế ra đấy là ông Ben Ta-tâm! Một trong những thằng điệu đà! Tôi sẽ tách nó ra khỏi bầy trước khi chúng rời khách sạn, rồi tính sổ với nó!
Ăn tối xong, cặp bỏ trốn biến mất rất nhanh. Dù Xam lảng vảng ở sảnh, cầu thang và hành lang tới nửa đêm, chẳng hiểu bằng cách bí ẩn nào mà hai kẻ chạy trốn vẫn lọt khỏi tay anh. Sáng ra, người đàn bà che mạng mặc váy nâu xếp nếp, chàng trai bảnh bao tóc cắt ngắn, cùng chiếc xe nhẹ và cặp ngựa hay nhảy chồm, đều đã đi mất.
Chuyện chuyến đi thì đơn điệu lắm, nên tôi xin kể gọn. Có một lần nữa chúng tôi đuổi kịp họ trên đường. Chúng tôi chỉ cách họ chừng năm chục mét. Họ quay lại trên xe nhìn chúng tôi, rồi đánh xe đi tiếp, không quất ngựa. Sự an toàn của họ không còn nằm ở tốc độ nữa. Ben Ta-tâm biết thế. Hắn biết hòn đá chở che duy nhất còn lại là luật lệ kia. Chắc chắn nếu hắn đi một mình thì chuyện đã được giải quyết nhanh gọn với Xam Đơ-ki theo cách thông thường. Nhưng bên cạnh hắn có một thứ giữ yên ngón tay trên cò súng của cả hai người. Có vẻ hắn không phải kẻ hèn nhát.
Thế đấy, các anh thấy không, người đàn bà đôi khi làm trì hoãn chứ không làm bùng nổ cuộc xung đột giữa hai người đàn ông. Nhưng không phải do họ muốn hay biết. Họ chẳng hề để ý tới luật lệ gì.
Đi thêm năm dặm, chúng tôi tới Chen-đlơ, một nơi sau này hẳn sẽ thành một thành phố lớn của miền Tây. Ngựa của kẻ đuổi lẫn người chạy đều đói lả và mệt nhoài. Ở đó có một khách sạn duy nhất, nguy hiểm cho người và tiếp đãi tử tế cho ngựa. Thế là bốn chúng tôi lại gặp nhau trong phòng ăn khi một cái chuông vang lên, cái chuông to và rền tới mức chắc đã làm nứt cả bầu trời từ lâu. Phòng ăn này không rộng bằng phòng ăn ở Gớt-thơ-ri.
Đúng lúc chúng tôi đang ăn bánh táo, mà bánh táo với bi kịch sao mà hay đụng nhau thế, tôi để ý thấy Xam đang nhìn chăm chú, sắc lẹm, về phía con mồi ngồi ở chiếc bàn bên kia phòng. Cô gái vẫn mặc chiếc váy nâu viền đăng-ten ở cổ và cổ tay, tấm mạng vẫn kéo xuống tận mũi. Người đàn ông cúi xuống đĩa ăn, cái đầu tóc cắt ngắn gục thấp.
— Có một luật lệ, — tôi nghe Xam nói, với tôi hay với chính anh cũng không rõ, — không cho anh bắn một người đàn ông đang đi cùng một người đàn bà. Nhưng, có trời chứng giám, chẳng có luật nào cấm anh giết một người đàn bà đang đi cùng một người đàn ông!
Và nhanh hơn cả đầu óc tôi kịp theo dõi lý lẽ của anh, anh rút khẩu súng lục tự động dưới nách trái ra, nã sáu viên đạn vào thân hình nằm trong chiếc váy nâu, chiếc váy nâu viền đăng-ten ở cổ, ở tay, có vạt váy xếp nếp như ống đàn.
Cô gái trong bộ com-lê sẫm màu, người đã cắt bỏ mái tóc dài, niềm kiêu hãnh của người con gái, khỏi mái đầu và khỏi cả cuộc đời mình, gục đầu lên hai cánh tay duỗi trên bàn. Trong khi đó, người ta chạy tới đỡ Ben Ta-tâm dậy khỏi sàn nhà, trong bộ đồ đàn bà hắn mặc để cải trang, bộ đồ đã cho Xam cơ hội gạt sang một bên, về mặt kỹ thuật, những ràng buộc của luật lệ.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn