Hôm sau, bữa sáng có những chiếc bánh nướng nhỏ rất ngon, có tôm, có sườn cừu. Trong lúc mọi người đang ăn, anh đầu bếp Ni-ca-no lên tầng trên hỏi xem khách muốn ăn gì vào bữa trưa. Đó là một người tầm thước, mặt phúng phính, mắt nhỏ, mày râu nhẵn nhụi, và trông như thể bộ ria của anh ta không phải được cạo mà được nhổ đi.
A-li-ô-khin kể rằng cô Pê-la-ghê-a xinh đẹp đã phải lòng anh đầu bếp này. Vì anh ta rượu chè và tính khí hung hăng, nên cô không muốn lấy anh ta, nhưng bằng lòng sống chung như thế. Còn anh ta thì rất ngoan đạo, và niềm tin tôn giáo không cho phép anh ta sống chung như thế. Anh ta đòi cô phải cưới mình, không thì thôi, và mỗi khi say thì chửi mắng cô, thậm chí còn đánh cô. Những lúc anh ta say, cô trốn lên tầng trên mà khóc nức nở, và khi ấy A-li-ô-khin cùng gia nhân không ra khỏi nhà, để bảo vệ cô khi cần.
Họ bắt đầu nói về tình yêu.
— Tình yêu nảy sinh như thế nào, A-li-ô-khin nói, vì sao cô Pê-la-ghê-a không yêu một người nào khác, hợp với cô hơn về tâm hồn lẫn vẻ ngoài, mà lại yêu đúng cái gã Ni-ca-no ấy, cái gã mặt thớt ấy, ở đây ai cũng gọi hắn là mặt thớt, và trong tình yêu thì những vấn đề hạnh phúc riêng tư quan trọng đến mức nào, tất cả những cái ấy đều không ai biết, và về tất cả những cái ấy, người ta muốn giải thích sao cũng được. Cho đến nay, về tình yêu, người ta mới chỉ nói được một chân lý không thể chối cãi, ấy là «điều huyền nhiệm này thật lớn lao», còn tất cả những gì người ta đã viết và đã nói về tình yêu, đều không phải lời giải, mà chỉ là cách đặt ra những câu hỏi, rồi những câu hỏi ấy vẫn cứ bỏ ngỏ không lời đáp. Lời giải thích tưởng như hợp với trường hợp này, thì đã chẳng hợp với mười trường hợp khác, và theo tôi, hay nhất là giải thích từng trường hợp riêng, không cố khái quát hoá. Như các bác sĩ vẫn nói, phải cá biệt hoá từng trường hợp một.
— Hoàn toàn đúng, Buốc-kin đồng tình.
— Chúng ta, những người Nga tử tế, có cái thói say mê những câu hỏi không lời đáp ấy. Thường thì người ta thi vị hoá tình yêu, tô điểm nó bằng hoa hồng, bằng chim hoạ mi, còn chúng ta, người Nga, thì tô điểm tình yêu của mình bằng những câu hỏi định mệnh ấy, mà lại chọn trong số đó những câu chán ngắt nhất. Ở Mát-xcơ-va, hồi tôi còn là sinh viên, tôi có một người bạn đời, một người đàn bà dễ thương, mà lần nào tôi ôm cô ấy trong tay, cô ấy cũng nghĩ xem mỗi tháng tôi sẽ đưa cô ấy bao nhiêu tiền, và giờ một cân thịt bò giá bao nhiêu. Chúng ta cũng thế, khi yêu, chúng ta không ngừng tự hỏi: như thế là đứng đắn hay không đứng đắn, khôn hay dại, mối tình này sẽ dẫn đến đâu, vân vân. Như thế là tốt hay không, tôi không biết, nhưng như thế làm vướng víu, không thoả mãn, làm bực bội, thì tôi biết.
Có vẻ như ông muốn kể một chuyện gì đó. Những người sống cô độc bao giờ cũng có điều gì đó trong lòng mà họ sẵn lòng kể ra. Ở thành phố, những người độc thân cố tình đi nhà tắm hơi và tiệm ăn chỉ để được trò chuyện, và đôi khi kể cho anh hầu nhà tắm hay anh bồi bàn những câu chuyện rất thú vị. Còn ở nông thôn, họ thường trút bầu tâm sự với khách của mình. Giờ đây, qua cửa sổ thấy bầu trời xám xịt và những hàng cây ướt đẫm nước mưa. Thời tiết thế này chẳng đi đâu được, chẳng còn gì khác ngoài kể chuyện và nghe chuyện.
— Tôi sống ở Xô-phi-i-nô và làm ruộng đã lâu lắm rồi, A-li-ô-khin bắt đầu, từ khi tốt nghiệp đại học. Về giáo dục thì tôi là người chưa từng làm việc chân tay, về thiên hướng thì tôi là con người của phòng sách. Nhưng khi tôi về đây, điền trang đang mắc một món nợ lớn, mà bố tôi mắc nợ một phần là vì đã chi nhiều cho việc học của tôi, nên tôi quyết định sẽ không rời khỏi đây, sẽ làm việc cho đến khi trả xong món nợ ấy. Tôi đã quyết như thế, và bắt đầu làm việc ở đây, thú thật, không phải không có chút ghê sợ. Đất ở đây cho thu hoạch chẳng nhiều nhặn gì, và muốn làm nông nghiệp mà không lỗ, thì phải dùng sức lao động của nông nô hay của cố nông làm thuê, mà hai cái đó gần như là một, hoặc phải làm ăn theo kiểu nông dân, tức là tự mình ra đồng làm cùng gia đình mình. Ở đây không có đường giữa. Nhưng hồi ấy tôi chẳng đi sâu vào những chuyện tế nhị như thế. Tôi không để yên một mảnh đất nào, tôi lùa hết đàn ông đàn bà ở các làng lân cận về, công việc ở chỗ tôi sôi sục điên cuồng. Chính tôi cũng cày, cũng gieo, cũng cắt cỏ, và trong lúc ấy tôi buồn chán, nhăn mặt ghê tởm, như con mèo nhà quê đói quá phải ăn dưa chuột ngoài vườn. Người tôi đau ê ẩm, vừa đi tôi vừa ngủ gật. Thời gian đầu, tôi tưởng mình có thể dễ dàng dung hoà cuộc sống lao động này với những thói quen văn hoá của mình. Tôi nghĩ, muốn thế thì chỉ cần giữ một trật tự bề ngoài nhất định trong cuộc sống. Tôi ở trên tầng này, trong những căn phòng sang trọng, và đặt lệ là sau bữa sáng và bữa trưa, người ta phải dọn cho tôi cà phê với rượu mùi, và khi đi ngủ, tôi đọc tạp chí «Sứ giả châu Âu». Nhưng có một hôm cha xứ của chúng tôi, cha I-van, đến chơi, ngồi một mạch uống hết sạch rượu mùi của tôi. Còn tạp chí «Sứ giả châu Âu» thì cũng về tay mấy cô con gái cha xứ, vì mùa hè, nhất là mùa cắt cỏ, tôi chẳng kịp về đến giường mình, cứ ngủ thiếp trong nhà kho trên chiếc xe trượt tuyết, hay ở một chòi canh rừng nào đó, thì còn đọc với đọc gì? Dần dần tôi dọn xuống tầng dưới, bắt đầu ăn trưa ở bếp gia nhân, và trong cảnh xa hoa ngày trước, tôi chỉ còn giữ lại tất cả đám gia nhân này, những người đã từng phục vụ bố tôi, mà cho họ thôi việc thì tôi thấy đau lòng.
Ngay những năm đầu, người ta đã bầu tôi làm thẩm phán hoà giải danh dự. Thỉnh thoảng tôi phải lên thành phố, dự các phiên họp của hội đồng và của toà án quận, và việc đó làm tôi khuây khoả. Khi đã sống ở đây hai ba tháng liền không đi đâu, nhất là vào mùa đông, thì rốt cuộc người ta bắt đầu thèm một chiếc áo khoác đen. Mà ở toà án quận thì có áo khoác, có đồng phục, có áo đuôi tôm, toàn là luật gia, những người có học vấn, có người để mà trò chuyện. Sau những đêm ngủ trên xe trượt tuyết, sau bếp gia nhân, được ngồi trong ghế bành, mặc đồ lót sạch sẽ, đi giày nhẹ, ngực đeo dây đồng hồ, thật là một sự xa hoa!
Ở thành phố, người ta đón tiếp tôi niềm nở, tôi cũng vui lòng làm quen. Và trong mọi sự quen biết, sự quen biết bền chặt nhất, và nói thật, dễ chịu nhất đối với tôi, là với ông Lu-ga-nô-vích, phó chánh án toà án quận. Cả hai ông đều biết ông ấy: một con người dễ mến vô cùng. Đó là ngay sau vụ án đốt nhà nổi tiếng. Phiên xử kéo dài hai ngày, chúng tôi mệt lử. Ông Lu-ga-nô-vích nhìn tôi, nói:
— Ông biết không? Ta về nhà tôi ăn trưa đi.
Thật bất ngờ, vì tôi quen ông Lu-ga-nô-vích không nhiều, chỉ trong công việc, chưa đến nhà ông lần nào. Tôi chỉ ghé qua phòng trọ một lát để thay quần áo, rồi đi ăn trưa. Và ở đó tôi có dịp làm quen với An-na A-lếch-xê-ép-na, vợ ông Lu-ga-nô-vích. Hồi ấy bà còn rất trẻ, không quá hai mươi hai tuổi, và nửa năm trước đó bà vừa sinh đứa con đầu lòng. Chuyện đã qua rồi, và bây giờ thì tôi khó mà nói rõ được, thật ra ở bà có gì khác thường, có gì khiến tôi thích bà đến thế, nhưng hồi ấy, trong bữa trưa, với tôi mọi thứ đều rõ ràng không thể cưỡng lại. Tôi thấy một người đàn bà trẻ, đẹp, tốt bụng, có học thức, quyến rũ, một người đàn bà mà trước đó tôi chưa từng gặp bao giờ. Và ngay lập tức tôi cảm thấy ở bà một con người gần gũi, đã quen biết, như thể gương mặt ấy, đôi mắt niềm nở, thông minh ấy, tôi đã từng thấy từ hồi thơ ấu, trong cuốn an-bum ảnh để trên tủ com-mốt của mẹ tôi.
Trong vụ án đốt nhà, người ta buộc tội bốn người Do Thái, cho họ là một băng nhóm, mà theo tôi, hoàn toàn chẳng có căn cứ gì. Trong bữa trưa tôi xúc động lắm, thấy nặng lòng lắm, và chẳng còn nhớ mình đã nói gì, chỉ nhớ An-na A-lếch-xê-ép-na cứ lắc đầu mãi, và nói với chồng:
— Anh Đmi-tơ-ri, sao lại thế được?
Ông Lu-ga-nô-vích là người tốt bụng, một trong những người chất phác cứ khăng khăng giữ ý kiến rằng một khi người ta đã bị đưa ra toà, thì có nghĩa là người ta có tội, và chỉ được bày tỏ nghi ngờ về tính đúng đắn của bản án theo đúng thủ tục pháp luật, trên giấy tờ, chứ tuyệt đối không phải trong bữa ăn hay trong chuyện trò riêng tư.
— Ông với tôi đâu có đốt nhà, ông nói nhỏ nhẹ, nên chúng ta đâu có bị xét xử, có bị bỏ tù đâu.
Và cả hai vợ chồng đều cố mời tôi ăn uống cho thật nhiều. Qua mấy điều nhỏ nhặt, chẳng hạn như cách hai người cùng nhau pha cà phê, như việc họ hiểu nhau chỉ qua nửa lời, tôi có thể kết luận rằng họ sống với nhau êm thấm, yên ổn, và họ vui khi có khách. Sau bữa trưa họ chơi pi-a-nô bốn tay, rồi trời tối, và tôi về chỗ mình. Đó là đầu mùa xuân. Sau đó, tôi ở lì suốt mùa hè tại Xô-phi-i-nô, chẳng có thì giờ nghĩ đến thành phố, nhưng hình ảnh người đàn bà tóc vàng mảnh mai ấy vẫn ở lại trong tôi suốt những ngày ấy. Tôi không nghĩ đến bà, nhưng như có một cái bóng nhẹ của bà nằm trên tâm hồn tôi.
Cuối mùa thu, ở thành phố có một buổi diễn từ thiện. Tôi bước vào lô của ngài tỉnh trưởng, người ta mời tôi vào đó lúc nghỉ giữa màn, nhìn thì thấy ngồi cạnh bà tỉnh trưởng là An-na A-lếch-xê-ép-na, và lại vẫn cái ấn tượng không thể cưỡng lại, đập mạnh vào tôi, về vẻ đẹp và về đôi mắt dễ thương, âu yếm, và lại vẫn cái cảm giác gần gũi ấy.
Chúng tôi ngồi cạnh nhau, rồi đi dạo ở phòng giải lao.
— Ông gầy đi đấy, bà nói. Ông ốm à?
— Vâng. Vai tôi bị cảm lạnh, và những hôm trời mưa tôi ngủ không ngon.
— Trông ông uể oải lắm. Hồi mùa xuân, khi ông đến ăn trưa, ông trẻ hơn, hăng hái hơn. Hồi ấy ông đầy nhiệt huyết, nói nhiều, rất thú vị, và thú thật, tôi còn hơi say mê ông một chút. Chẳng hiểu sao suốt mùa hè tôi hay nghĩ đến ông, và hôm nay, lúc sửa soạn đi xem hát, tôi cứ có cảm giác là sẽ gặp ông.
Rồi bà bật cười.
— Nhưng hôm nay trông ông uể oải lắm, bà nhắc lại. Thế làm ông già đi đấy.
Hôm sau, tôi ăn sáng ở nhà Lu-ga-nô-vích. Ăn sáng xong, họ đi ra nhà nghỉ ngoại ô để thu xếp mọi việc cho mùa đông, và tôi đi cùng họ. Tôi cùng họ trở về thành phố, và nửa đêm uống trà với họ trong không khí gia đình yên ả, khi lò sưởi cháy và người mẹ trẻ chốc chốc lại đi xem đứa con gái nhỏ đã ngủ chưa. Và từ đó, lần nào lên thành phố tôi cũng nhất định ghé nhà Lu-ga-nô-vích. Họ quen với tôi, và tôi cũng quen. Thường thì tôi vào chẳng cần báo, như người nhà.
— Ai đấy? từ những căn phòng trong vọng ra một giọng nói kéo dài, mà tôi thấy thật đẹp.
— Ông Pa-ven Côn-xtan-ti-nư-ích đấy ạ, cô hầu gái hay bà vú đáp.
An-na A-lếch-xê-ép-na ra đón tôi, vẻ mặt lo lắng, và lần nào cũng hỏi:
— Sao lâu thế ông mới đến? Có chuyện gì à?
Ánh mắt bà, bàn tay thanh tú, cao quý bà đưa ra cho tôi, chiếc áo mặc ở nhà, mái tóc, giọng nói, bước chân bà, lần nào cũng gây cho tôi vẫn cái ấn tượng về một điều gì mới mẻ, khác thường và quan trọng trong đời tôi. Chúng tôi trò chuyện rất lâu, và rất lâu im lặng, mỗi người nghĩ về chuyện của mình, hoặc bà chơi pi-a-nô cho tôi nghe. Còn nếu trong nhà không có ai, thì tôi ở lại chờ, nói chuyện với bà vú, chơi với đứa bé, hoặc nằm trên chiếc đi-văng kiểu Thổ trong phòng làm việc mà đọc báo. Và khi An-na A-lếch-xê-ép-na trở về, tôi ra đón bà ở phòng ngoài, đỡ lấy tất cả những món đồ bà mua, và chẳng hiểu sao lần nào tôi cũng xách những món đồ ấy với một tình yêu như thế, một niềm hân hoan như thế, như một cậu bé.
Có câu tục ngữ: bà kia đang yên lành chẳng lo gì, thế là đi mua con lợn. Nhà Lu-ga-nô-vích đang yên lành chẳng lo gì, thế là kết bạn với tôi. Nếu lâu không thấy tôi lên thành phố, thì có nghĩa là tôi ốm, hay có chuyện gì xảy ra với tôi, và cả hai người lo lắng lắm. Họ lo rằng tôi, một người có học, biết ngoại ngữ, lẽ ra phải theo đuổi khoa học hay công việc văn chương, thì lại sống ở nông thôn, quay như con sóc trong lồng, làm lụng nhiều mà lúc nào cũng không một xu dính túi. Họ có cảm giác rằng tôi đau khổ, và nếu tôi nói, tôi cười, tôi ăn, thì cũng chỉ để che giấu nỗi đau khổ của mình, và ngay cả trong những phút vui vẻ, khi tôi thấy dễ chịu, tôi vẫn cảm thấy những ánh mắt dò xét của họ nhìn mình. Họ đặc biệt cảm động những khi tôi thật sự gặp khó khăn, khi có một chủ nợ nào đó chèn ép tôi, hay khi tôi thiếu tiền để trả một khoản gấp. Cả hai vợ chồng thì thầm với nhau bên cửa sổ, rồi ông đến bên tôi, mặt nghiêm trang, nói:
— Ông Pa-ven Côn-xtan-ti-nư-ích, nếu hiện giờ ông đang cần tiền, thì tôi và nhà tôi xin ông đừng ngại, cứ lấy của chúng tôi.
Và vì xúc động, tai ông đỏ lựng lên. Lại có những lần, cũng y như thế, thì thầm với nhau bên cửa sổ xong, ông đến bên tôi, tai đỏ lựng, nói:
— Tôi và nhà tôi tha thiết xin ông nhận món quà này của chúng tôi.
Rồi ông đưa cho tôi khuy măng-sét, hộp thuốc lá hay cây đèn, và để đáp lại, tôi gửi từ quê lên cho họ gà vịt đã làm sẵn, bơ, và hoa. Nhân tiện cũng phải nói, cả hai vợ chồng đều là người khá giả. Thời gian đầu tôi hay đi vay, và chẳng kén chọn gì lắm, vay được ở đâu thì vay, nhưng chẳng có sức mạnh nào bắt được tôi vay của nhà Lu-ga-nô-vích. Mà thôi, nói chuyện ấy làm gì!
Tôi không hạnh phúc. Ở nhà, ngoài đồng, trong nhà kho, tôi đều nghĩ đến bà. Tôi cố hiểu điều bí ẩn của một người đàn bà trẻ, đẹp, thông minh, lại đi lấy một người chẳng có gì thú vị, gần như một ông già, chồng bà đã ngoài bốn mươi, lại sinh con với ông ta. Tôi cố hiểu điều bí ẩn của con người chẳng có gì thú vị ấy, một người tốt bụng, chất phác, suy luận với một thứ lương tri nhàm chán đến thế, ở các buổi khiêu vũ và các buổi dạ hội thì cứ quanh quẩn bên những người đứng đắn, uể oải, vô dụng, vẻ mặt cam chịu, thờ ơ, như thể người ta dắt ông ta đến đây để bán, ấy thế mà vẫn tin vào quyền được hạnh phúc của mình, được có con với bà. Và tôi cứ cố hiểu mãi, vì sao bà lại gặp đúng ông ta, chứ không phải tôi, và vì sao trong cuộc đời chúng tôi lại phải xảy ra một sự lầm lẫn khủng khiếp đến thế.
Còn mỗi lần lên thành phố, nhìn vào mắt bà, tôi lại thấy bà đã chờ tôi. Chính bà cũng thú nhận với tôi rằng ngay từ sáng bà đã có một cảm giác gì đó khác thường, bà đoán là tôi sẽ đến. Chúng tôi trò chuyện rất lâu, im lặng rất lâu, nhưng chúng tôi không thổ lộ tình yêu với nhau, mà rụt rè, ghen giữ mà giấu nó đi. Chúng tôi sợ mọi điều có thể để lộ bí mật của chúng tôi, ngay với chính chúng tôi. Tôi yêu dịu dàng, sâu sắc, nhưng tôi cứ suy xét, tôi tự hỏi tình yêu của chúng tôi có thể dẫn đến đâu, nếu chúng tôi không đủ sức chống lại nó. Tôi thấy thật khó tin rằng tình yêu lặng lẽ, buồn bã này của tôi lại có thể thô bạo cắt đứt dòng đời hạnh phúc của chồng bà, của các con bà, của cả cái gia đình này, nơi người ta yêu quý tôi đến thế, tin tưởng tôi đến thế. Như thế có đứng đắn không? Bà sẽ đi theo tôi, nhưng đi đâu? Tôi có thể đưa bà đi đâu? Giá tôi có một cuộc đời đẹp đẽ, thú vị, chẳng hạn giá tôi đấu tranh cho tự do của tổ quốc, hay là một nhà bác học, một nghệ sĩ, một hoạ sĩ lừng danh, thì đã đành, đằng này tôi lại phải kéo bà từ một cảnh sống bình thường, tẻ nhạt này sang một cảnh sống khác cũng như thế, hay còn tẻ nhạt hơn. Mà hạnh phúc của chúng tôi sẽ kéo dài được bao lâu? Bà sẽ ra sao nếu tôi ốm đau, chết đi, hay đơn giản là nếu chúng tôi hết yêu nhau?
Và hình như bà cũng suy nghĩ y như thế. Bà nghĩ đến chồng, đến các con, đến mẹ mình, người yêu chồng bà như con trai. Nếu bà buông mình theo tình cảm, thì sẽ phải nói dối, hoặc phải nói thật, mà ở vào hoàn cảnh của bà, cả hai đều đáng sợ và khó xử như nhau. Và bà bị dày vò bởi câu hỏi: liệu tình yêu của bà có mang lại hạnh phúc cho tôi không, có làm phức tạp thêm cuộc đời tôi, vốn đã nặng nề, đầy rẫy bất hạnh, hay không? Bà có cảm giác bà đã không còn đủ trẻ với tôi, không đủ chăm chỉ và đủ sức mạnh để bắt đầu một cuộc đời mới, và bà hay nói với chồng rằng tôi cần lấy một cô gái thông minh, xứng đáng, biết lo việc nhà, biết giúp đỡ tôi, rồi lập tức nói thêm rằng cả thành phố này chắc chẳng tìm được cô gái nào như thế.
Trong khi ấy năm tháng trôi qua. An-na A-lếch-xê-ép-na đã có hai con. Khi tôi đến nhà Lu-ga-nô-vích, gia nhân niềm nở mỉm cười, lũ trẻ reo lên rằng chú Pa-ven Côn-xtan-ti-nư-ích đến, rồi bá lấy cổ tôi. Ai cũng vui mừng. Họ không hiểu những gì đang diễn ra trong tâm hồn tôi, và tưởng rằng tôi cũng vui mừng. Ai cũng thấy ở tôi một con người cao thượng. Cả người lớn lẫn trẻ con đều cảm thấy có một con người cao thượng đang đi lại trong phòng, và điều đó đem đến cho cách họ đối xử với tôi một vẻ đáng yêu đặc biệt, như thể có mặt tôi thì cuộc sống của họ cũng trong sạch hơn và đẹp đẽ hơn. Tôi và An-na A-lếch-xê-ép-na cùng nhau đi xem hát, lần nào cũng đi bộ. Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên những chiếc ghế bành, vai chạm vai, tôi lặng lẽ cầm lấy chiếc ống nhòm từ tay bà, và lúc ấy tôi cảm thấy bà gần gũi tôi, bà là của tôi, chúng tôi không thể sống thiếu nhau. Nhưng vì một sự hiểu lầm kỳ lạ nào đó, ra khỏi nhà hát, lần nào chúng tôi cũng chào nhau rồi chia tay, như hai người xa lạ. Trong thành phố người ta đã nói về chúng tôi có Chúa mới biết những gì, nhưng trong tất cả những điều người ta nói, chẳng có lấy một lời là sự thật.
Những năm cuối, An-na A-lếch-xê-ép-na hay đi xa hơn, khi thì về nhà mẹ, khi thì sang nhà chị gái. Bà đã có những lúc buồn bực, đã có cái ý thức về một cuộc đời không được thoả nguyện, một cuộc đời hỏng, khi bà chẳng muốn gặp cả chồng lẫn con. Bà đã phải chữa bệnh suy nhược thần kinh.
Chúng tôi cứ im lặng, im lặng mãi, còn trước mặt người ngoài, bà lại cảm thấy một nỗi bực bội kỳ lạ đối với tôi. Tôi nói về chuyện gì, bà cũng không đồng ý với tôi, và nếu tôi tranh luận, thì bà đứng về phía người đối địch với tôi. Khi tôi đánh rơi cái gì, bà lạnh lùng nói:
— Xin chúc mừng ông.
Nếu khi đi xem hát cùng bà tôi quên mang ống nhòm, thì sau đó bà nói:
— Tôi biết ngay là ông sẽ quên mà.
Dù may hay rủi, trong cuộc đời chúng ta chẳng có gì là không kết thúc, sớm hay muộn. Đã đến lúc chia tay, vì ông Lu-ga-nô-vích được bổ nhiệm làm chánh án ở một tỉnh miền tây. Phải bán đồ đạc, bán ngựa, bán nhà nghỉ ngoại ô. Khi đi ra nhà nghỉ, rồi lúc trở về, ngoái lại để nhìn lần cuối khu vườn, mái nhà xanh, ai cũng thấy buồn, và tôi hiểu rằng đã đến lúc phải từ biệt không chỉ một ngôi nhà nghỉ. Mọi người quyết định rằng cuối tháng Tám chúng tôi sẽ tiễn An-na A-lếch-xê-ép-na đi Crưm, nơi các bác sĩ khuyên bà đến, còn ít lâu sau ông Lu-ga-nô-vích sẽ đưa các con về tỉnh miền tây của ông.
Chúng tôi tiễn An-na A-lếch-xê-ép-na, một đoàn người đông đúc. Khi bà đã từ biệt chồng và các con, và chỉ còn một khoảnh khắc nữa là đến hồi chuông thứ ba, tôi chạy vào khoang tàu của bà để đặt lên giá một chiếc giỏ của bà mà bà suýt nữa thì quên. Và phải từ biệt nhau. Khi ở đó, trong khoang tàu, ánh mắt chúng tôi gặp nhau, thì sức lực tâm hồn rời bỏ cả hai chúng tôi. Tôi ôm lấy bà, bà áp mặt vào ngực tôi, và nước mắt tuôn rơi. Hôn lên mặt bà, lên vai, lên đôi tay ướt đẫm nước mắt của bà, ôi, chúng tôi đã bất hạnh biết bao, tôi thổ lộ tình yêu của mình với bà. Và với một nỗi đau bỏng rát trong tim, tôi hiểu ra rằng tất cả những gì đã ngăn cản chúng tôi yêu nhau đều thừa thãi, nhỏ nhen và giả dối biết bao. Tôi hiểu ra rằng khi yêu, thì trong những suy xét về tình yêu ấy, phải xuất phát từ một điều cao hơn, quan trọng hơn hạnh phúc hay bất hạnh, tội lỗi hay đức hạnh theo cái nghĩa thông thường của chúng, hoặc là không cần suy xét gì hết.
Tôi hôn bà lần cuối, siết tay bà, và chúng tôi chia tay, mãi mãi. Đoàn tàu đã chuyển bánh. Tôi ngồi vào khoang bên cạnh, khoang ấy trống, và cho đến ga đầu tiên, tôi ngồi đó mà khóc. Rồi tôi đi bộ về Xô-phi-i-nô của mình…
Trong lúc A-li-ô-khin kể, mưa đã tạnh và mặt trời ló ra. Buốc-kin và I-van I-va-nứt bước ra ban công. Từ đây nhìn ra khu vườn và khúc sông thật đẹp, khúc sông giờ dưới nắng lấp lánh như tấm gương. Họ ngắm cảnh, và cùng lúc ấy, họ tiếc cho con người có đôi mắt hiền hậu, thông minh, người vừa kể chuyện cho họ với tấm lòng chân thật đến thế, lại thật sự quay cuồng ở đây, trong điền trang khổng lồ này, như con sóc trong lồng, chứ không theo đuổi khoa học hay một việc gì khác khiến đời ông dễ chịu hơn. Và họ nghĩ đến gương mặt người đàn bà trẻ hẳn đã đau khổ biết bao, khi ông từ biệt bà trong khoang tàu và hôn lên mặt, lên vai bà. Cả hai đều từng gặp bà ở thành phố, còn Buốc-kin thì thậm chí còn quen bà, và thấy bà đẹp.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn