Chương 1: Cô gái bên dòng sông ghềnh
Trên boong con tàu thuỷ đi từ Ô-đét-xa đến Xê-va-xtô-pôn, một ông nào đó, khá đẹp trai, để bộ râu tròn, đến gần tôi xin châm thuốc, rồi nói:
— Ông để ý mấy người Đức đang ngồi cạnh buồng lái kia xem. Hễ người Đức hay người Anh gặp nhau thì họ nói chuyện giá len, chuyện mùa màng, chuyện làm ăn riêng của họ; thế mà chẳng hiểu sao hễ người Nga chúng ta gặp nhau là chỉ nói chuyện đàn bà và những vấn đề cao siêu. Mà chủ yếu là chuyện đàn bà.
Gương mặt ông này tôi đã thấy quen. Hôm trước chúng tôi đi cùng một chuyến tàu hoả từ nước ngoài về, và ở Vô-lô-chít-xcơ, lúc khám hải quan, tôi đã thấy ông đứng cùng một bà, người bạn đồng hành của ông, trước cả một núi va li và giỏ đựng đầy quần áo đàn bà, và thấy ông bối rối, rầu rĩ thế nào khi phải nộp thuế cho một mảnh lụa nào đó, còn bà bạn đồng hành thì phản đối và doạ sẽ đi kiện ai đó; rồi trên đường đến Ô-đét-xa, tôi thấy ông lúc thì mang bánh nướng nhân, lúc thì mang cam vào toa dành cho phụ nữ.
Trời hơi ẩm, tàu chòng chành nhè nhẹ, và các bà đã về buồng mình. Ông râu tròn ngồi xuống cạnh tôi và nói tiếp:
— Phải, người Nga gặp nhau là chỉ nói chuyện những vấn đề cao siêu và chuyện đàn bà. Chúng ta trí thức quá, quan trọng quá, đến nỗi chỉ phán ra toàn chân lý, và chỉ giải quyết được những vấn đề thuộc loại cao cấp nhất. Diễn viên Nga không biết đùa nghịch, đến kịch vui anh ta cũng đóng một cách thâm trầm; chúng ta cũng thế: khi phải nói chuyện vặt vãnh, thì chúng ta cũng chỉ bàn đến nó từ quan điểm cao nhất. Ấy là do thiếu can đảm, thiếu chân thành và giản dị. Còn sở dĩ chúng ta hay nói về đàn bà như thế, tôi nghĩ, là vì chúng ta không thoả mãn. Chúng ta nhìn đàn bà một cách quá lý tưởng, và đòi hỏi những điều không cân xứng với những gì thực tế có thể đem lại, chúng ta nhận được những thứ khác xa điều mình muốn, và kết quả là không thoả mãn, hy vọng tan vỡ, lòng đau đớn, mà ai đau chỗ nào thì nói chỗ ấy. Ông có thấy chán nếu ta tiếp tục câu chuyện này không?
— Không, không hề.
— Nếu vậy thì cho phép tôi tự giới thiệu, người đối thoại của tôi nói, hơi nhổm người lên. I-van I-li-ích Sa-mô-khin, có thể nói là một địa chủ ở Mát-xcơ-va… Còn ông thì tôi biết rõ.
Ông ngồi xuống và nói tiếp, nhìn thẳng vào mặt tôi âu yếm và chân thành:
— Những câu chuyện triền miên về đàn bà như thế, một nhà triết học hạng xoàng nào đó, kiểu như Mác Noóc-đau, sẽ giải thích là do chứng cuồng dục, hoặc do chúng ta là những kẻ chủ nô, vân vân, còn tôi thì nhìn việc này khác. Tôi nhắc lại: chúng ta không thoả mãn, vì chúng ta là những người lý tưởng. Chúng ta muốn những sinh vật sinh ra chúng ta và con cái chúng ta phải cao hơn chúng ta, cao hơn mọi thứ trên đời. Khi còn trẻ, chúng ta thơ mộng hoá và tôn thờ những người chúng ta yêu; tình yêu và hạnh phúc với chúng ta là đồng nghĩa. Ở nước Nga chúng ta, hôn nhân không có tình yêu bị khinh bỉ, nhục dục thì đáng cười và gây ghê tởm, và những cuốn tiểu thuyết, truyện vừa được hoan nghênh nhất là những cuốn có những người đàn bà đẹp, thơ mộng và cao thượng, và nếu từ lâu người Nga vẫn say mê bức Đức Mẹ của Ra-pha-en hay lo lắng cho việc giải phóng phụ nữ, thì tôi cam đoan với ông, ở đó chẳng có gì là giả tạo cả. Nhưng cái khổ là thế này. Chúng ta vừa cưới vợ, hay vừa chung sống với một người đàn bà, chỉ độ hai ba năm sau là chúng ta đã cảm thấy vỡ mộng, bị lừa dối; chúng ta đến với những người khác, rồi lại vỡ mộng, lại kinh hoàng, và cuối cùng chúng ta tin chắc rằng đàn bà giả dối, nhỏ nhen, hư vinh, bất công, kém phát triển, tàn nhẫn, nói tóm lại, chẳng những không cao hơn, mà còn thấp hơn đàn ông chúng ta không biết bao nhiêu mà kể. Và chúng ta, những kẻ không thoả mãn, bị lừa dối, chẳng còn cách nào khác ngoài càu nhàu, và hễ có dịp là nói về cái điều mà chúng ta đã bị lừa dối tàn nhẫn đến thế.
Trong khi Sa-mô-khin nói, tôi nhận thấy tiếng Nga và khung cảnh Nga khiến ông rất vui thích. Chắc là vì ở nước ngoài ông đã nhớ quê hương lắm. Ca ngợi người Nga và gán cho họ một chủ nghĩa lý tưởng hiếm có, ông lại không nói xấu người nước ngoài, và điều đó khiến người ta có thiện cảm với ông. Cũng thấy rõ là trong lòng ông có chuyện không ổn, và ông muốn nói về bản thân mình nhiều hơn là về đàn bà, và tôi sẽ không tránh khỏi phải nghe một câu chuyện dài nào đó, giống như một lời xưng tội.
Và quả nhiên, khi chúng tôi gọi một chai rượu vang và mỗi người uống một cốc, ông bắt đầu thế này:
— Tôi nhớ trong một truyện vừa nào đó của Ven-tơ-man, có người nói: «Chuyện hay đấy!». Còn người kia đáp: «Không, đây chưa phải là chuyện, mới chỉ là lời dạo đầu cho câu chuyện thôi». Những gì tôi nói từ nãy đến giờ cũng chỉ là lời dạo đầu, còn điều tôi thật sự muốn là kể cho ông nghe mối tình gần đây nhất của tôi. Xin lỗi, tôi hỏi lại lần nữa: ông có thấy chán không?
Tôi bảo không chán, và ông nói tiếp:
— Câu chuyện xảy ra ở tỉnh Mát-xcơ-va, ở một huyện phía bắc. Phải nói với ông rằng thiên nhiên ở đây tuyệt vời. Trang trại của chúng tôi nằm trên bờ cao một con sông nước chảy xiết, ở chỗ gọi là ghềnh, nước reo suốt ngày đêm; ông hãy hình dung một khu vườn cổ rộng lớn, những bồn hoa ấm cúng, một trại ong, một vườn rau, bên dưới là dòng sông với những bụi liễu xum xuê, lúc sương nhiều trông như hơi mờ đục, như bạc đầu, còn bên kia sông là đồng cỏ, sau đồng cỏ là một khu rừng thông tối thẫm đáng sợ trên ngọn đồi. Trong khu rừng ấy, nấm mọc nhiều vô kể, và trong chỗ rậm nhất có nai sừng tấm sống. Tôi sẽ chết, người ta sẽ đóng đinh tôi vào áo quan, thế mà tôi nghĩ, tôi vẫn sẽ mơ thấy những buổi sáng sớm, khi, ông biết đấy, nắng chói đến đau cả mắt, hay những buổi chiều xuân tuyệt diệu, khi trong vườn và ngoài vườn chim họa mi và gà nước kêu, còn từ làng vọng lại tiếng đàn ác-coóc-đê-ông, trong nhà có người chơi dương cầm, dòng sông reo, tóm lại là một thứ âm nhạc khiến ta vừa muốn khóc vừa muốn hát to lên. Ruộng cày của chúng tôi không nhiều, nhưng nhờ có đồng cỏ, cùng với rừng, mỗi năm đem lại chừng hai nghìn rúp. Tôi là con trai một của cha tôi, cả hai chúng tôi đều là những người khiêm tốn, và số tiền ấy, cộng thêm lương hưu của cha tôi, là hoàn toàn đủ sống. Ba năm đầu sau khi tốt nghiệp đại học, tôi sống ở quê, trông nom trang trại, và cứ chờ mãi người ta bầu mình vào một chức vụ nào đó, nhưng điều chủ yếu là tôi đang yêu say đắm một cô gái đẹp lạ thường, đầy sức quyến rũ. Cô là em gái của người hàng xóm của tôi, ông địa chủ Cốt-lô-vích, một ông quý tộc đã khánh kiệt, người có trong điền trang của mình nào dứa, nào đào tuyệt hảo, nào cột thu lôi, có cả một đài phun nước giữa sân, mà đồng thời lại chẳng có lấy một xu. Ông chẳng làm gì, chẳng biết làm gì, người cứ uể oải, như được nặn từ củ cải hấp; ông chữa bệnh cho dân làng bằng thuật vi lượng đồng căn và mê thuật gọi hồn. Thật ra ông là người tế nhị, mềm mỏng và không ngốc, nhưng tôi không ưa những ông chuyên trò chuyện với ma quỷ và chữa bệnh cho đàn bà bằng từ khí. Một là, ở những người đầu óc không tự do, khái niệm bao giờ cũng lộn xộn, nói chuyện với họ khó vô cùng, và hai là, thường thì họ chẳng yêu ai, chẳng sống với đàn bà, mà cái vẻ bí ẩn ấy gây cảm giác khó chịu cho những người dễ xúc động. Cả dáng vẻ ông ta tôi cũng không thích. Ông cao, béo, trắng trẻo, đầu nhỏ, đôi mắt nhỏ sáng loáng, những ngón tay trắng múp. Ông ta không bắt tay người ta, mà nắn bóp tay người ta. Và lúc nào cũng xin lỗi. Nhờ việc gì cũng xin lỗi, đưa cái gì cũng xin lỗi. Còn cô em gái thì lại là một nhân vật hoàn toàn khác hẳn. Phải nói với ông rằng thời thơ ấu và thời trẻ tôi không quen gia đình Cốt-lô-vích, vì cha tôi làm giáo sư ở thành phố N., và chúng tôi sống lâu ở tỉnh lẻ, còn khi tôi quen họ, cô gái ấy đã hai mươi hai tuổi, đã học xong trường nữ sinh quý tộc từ lâu, đã sống hai ba năm ở Mát-xcơ-va với một bà dì giàu có, người đưa cô đi giao thiệp ngoài xã hội. Khi tôi làm quen và lần đầu tiên phải nói chuyện với cô, điều trước tiên khiến tôi sững sờ là cái tên hiếm và đẹp của cô: A-ri-át-na. Nó hợp với cô biết bao! Cô có mái tóc đen, rất gầy, rất mảnh mai, mềm mại, cân đối, duyên dáng vô cùng, với những đường nét tao nhã, cao quý tột bậc. Mắt cô cũng sáng long lanh, nhưng mắt người anh sáng lên một cách lạnh lùng và ngọt xớt như kẹo đường, còn trong cái nhìn của cô ánh lên tuổi trẻ, đẹp đẽ, kiêu hãnh. Cô chinh phục tôi ngay từ ngày đầu quen biết, mà không thể nào khác được. Những ấn tượng đầu tiên mạnh đến nỗi đến giờ tôi vẫn chưa từ bỏ được những ảo tưởng của mình, tôi vẫn muốn nghĩ rằng khi tạo ra cô gái này, tạo hoá đã có một ý đồ rộng lớn, kỳ diệu nào đó. Giọng nói của A-ri-át-na, những bước chân, chiếc mũ, thậm chí những dấu chân nhỏ của cô in trên bờ cát nơi cô câu cá bống, đều khiến tôi vui sướng, khát khao sống mãnh liệt. Qua gương mặt đẹp và thân hình đẹp, tôi phán đoán về tâm hồn, và mỗi lời nói, mỗi nụ cười của A-ri-át-na đều làm tôi say mê, mua chuộc tôi, khiến tôi cho rằng cô có một tâm hồn cao thượng. Cô dịu dàng, hay chuyện, vui vẻ, cư xử giản dị, tin Chúa một cách thơ mộng, bàn về cái chết một cách thơ mộng, và tính tình cô có một sự phong phú sắc thái đến nỗi ngay cả những khuyết điểm của mình, cô cũng làm cho chúng mang những nét đặc biệt, đáng yêu. Chẳng hạn, cô cần một con ngựa mới, mà không có tiền, thì có sao đâu? Có thể bán hay cầm cố một thứ gì đó, còn nếu người quản lý thề sống thề chết rằng chẳng còn gì bán được hay cầm cố được, thì có thể gỡ mái tôn ở mấy dãy nhà phụ đem bán cho nhà máy, hoặc giữa lúc mùa màng bận rộn nhất mà lùa ngựa cày ra chợ bán rẻ như cho. Những ý muốn ngông cuồng ấy đôi khi làm cả trang trại tuyệt vọng, nhưng cô bày tỏ chúng một cách tao nhã đến nỗi rốt cuộc người ta tha thứ cho cô tất cả, cho phép cô tất cả, như với một nữ thần hay vợ của Xê-da. Tình yêu của tôi thật cảm động, và chẳng mấy chốc ai cũng nhận ra: cả cha tôi, cả hàng xóm, cả dân làng. Và mọi người đều thông cảm với tôi. Những lúc tôi đãi rượu vốt-ca cho những người làm công, họ cúi chào và nói:
— Cầu Chúa cho cậu lấy được cô tiểu thư nhà Cốt-lô-vích.
Và chính A-ri-át-na cũng biết tôi yêu cô. Cô hay cưỡi ngựa hay đi xe ngựa nhỏ sang nhà chúng tôi, có khi ở cả ngày với tôi và cha tôi. Cô kết bạn với ông già nhà tôi, ông còn dạy cô đi xe đạp, đó là thú vui ưa thích của ông. Tôi nhớ có một buổi chiều hai người định đi xe đạp và tôi giúp cô lên xe, lúc ấy cô đẹp đến nỗi tôi có cảm giác chạm vào cô là bỏng cả tay, tôi run lên vì sung sướng, và khi cả hai người, ông già và cô, đẹp đẽ, cân đối, sóng đôi đạp xe trên con đường cái, con ngựa ô của người quản lý đi ngược chiều bỗng lồng sang một bên, và tôi có cảm giác như nó lồng lên là vì nó cũng sững sờ trước sắc đẹp. Tình yêu của tôi, sự tôn thờ của tôi làm A-ri-át-na cảm động, khiến cô xúc động, và cô cũng thèm khát được say mê như tôi, được đáp lại tôi bằng tình yêu. Bởi như thế thì thơ mộng biết bao!
Nhưng yêu thật sự như tôi thì cô không thể, vì cô lạnh lùng và đã khá hư hỏng rồi. Trong cô đã có một con quỷ ngày đêm thì thầm với cô rằng cô quyến rũ, cô thần thánh, và cô, người không biết rõ mình được tạo ra để làm gì và cuộc đời được ban cho mình để làm gì, chỉ hình dung tương lai mình là rất giàu có và sang trọng; cô mơ đến những vũ hội, những cuộc đua ngựa, những người hầu mặc đồng phục, một phòng khách xa hoa, một phòng khách riêng của mình với cả một đàn bá tước, hoàng thân, đại sứ, những hoạ sĩ và nghệ sĩ nổi tiếng, tất cả đều quỳ dưới chân cô, say mê sắc đẹp và áo xiêm của cô… Cái khát vọng quyền lực và thành công cá nhân ấy, cùng những ý nghĩ luôn chỉ hướng về một phía ấy, làm con người ta nguội lạnh, và A-ri-át-na lạnh lùng: với tôi, với thiên nhiên, với âm nhạc. Thời gian trôi qua, mà các ngài đại sứ vẫn chẳng thấy đâu, A-ri-át-na vẫn sống ở nhà ông anh mê gọi hồn, công việc mỗi ngày một tệ, đến nỗi cô chẳng còn tiền mua váy áo và mũ, phải xoay xở, mánh khoé để giấu cái nghèo của mình.
Như cố tình trêu ngươi, hồi cô còn sống ở Mát-xcơ-va với bà dì, có một hoàng thân Mác-tu-ép nào đó đến hỏi cưới cô, một người giàu có nhưng hoàn toàn vô giá trị. Cô từ chối thẳng thừng. Nhưng giờ đây thỉnh thoảng con sâu hối hận lại giày vò cô: tại sao mình lại từ chối. Như bác nông dân nhà ta thổi phù cốc nước kvát có con gián một cách ghê tởm mà rồi vẫn uống, cô cũng nhăn mặt kinh tởm khi nhớ đến ông hoàng thân, mà rồi vẫn nói với tôi:
— Anh nói gì thì nói, chứ trong tước hiệu có một cái gì đó không giải thích được, quyến rũ lắm…
Cô mơ đến tước hiệu, đến sự huy hoàng, nhưng đồng thời cô cũng không muốn để tuột mất tôi. Mơ đến các ngài đại sứ thế nào đi nữa, thì trái tim cũng chẳng phải là hòn đá, và cũng tiếc tuổi xuân của mình. A-ri-át-na cố đem lòng yêu, làm như mình đang yêu, thậm chí còn thề thốt yêu tôi. Nhưng tôi là một người nhạy cảm, tinh tế; khi người ta yêu tôi, tôi cảm thấy điều đó ngay cả từ xa, chẳng cần cam đoan hay thề thốt, còn ở đây tôi thấy hơi lạnh phả vào mình, và khi cô nói với tôi về tình yêu, tôi có cảm giác như đang nghe tiếng hót của một con họa mi bằng kim loại. Chính A-ri-át-na cũng cảm thấy mình không đủ sức, cô bực bội, và không ít lần tôi thấy cô khóc. Có lần, ông thử hình dung xem, cô bỗng ôm chầm lấy tôi và hôn tôi, chuyện xảy ra vào buổi chiều, trên bờ sông, và nhìn vào mắt cô tôi thấy cô không yêu tôi, mà ôm tôi chỉ vì tò mò, để thử bản thân mình: xem thử, đại khái, chuyện này rồi sẽ ra sao. Và tôi thấy sợ. Tôi nắm lấy hai tay cô và nói trong tuyệt vọng:
— Những vuốt ve không có tình yêu này làm anh đau khổ!
— Anh mới… kỳ quặc làm sao! cô bực bội nói rồi bỏ đi.
Rất có thể, chỉ một hai năm nữa thôi là tôi sẽ cưới cô, và câu chuyện này sẽ kết thúc ở đó, nhưng số phận lại muốn sắp đặt cuộc tình của chúng tôi theo cách khác. Chuyện là trên chân trời của chúng tôi xuất hiện một nhân vật mới. Một người bạn học đại học của anh trai A-ri-át-na đến chơi nhà anh ta, đó là Lúp-cốp, Mi-kha-in I-va-nứt, một người dễ mến, mà bọn xà ích và người hầu thường bảo: «Ông này vui tí-í-nh lắm!». Người tầm thước, gầy nhom, hói đầu, mặt như mặt một tay tư sản hiền lành, chẳng có gì thú vị nhưng dễ coi, xanh xao, ria cứng được chăm chút cẩn thận, trên cổ nổi da gà lấm tấm, yết hầu to. Anh ta đeo kính kẹp mũi có dải băng đen bản rộng, nói ngọng, không phát âm được cả chữ r lẫn chữ l, đến nỗi chẳng hạn câu «tôi đã làm» thì anh ta lại thành «tôi đã nàm». Anh ta lúc nào cũng vui vẻ, cái gì cũng thấy buồn cười. Anh ta lấy vợ một cách ngu ngốc lạ thường, năm hai mươi tuổi, được của hồi môn là hai căn nhà ở Mát-xcơ-va, gần tu viện Nữ Đồng Trinh, rồi lao vào sửa chữa và xây nhà tắm hơi, sạt nghiệp tan tành, và giờ thì vợ cùng bốn đứa con anh ta sống ở khách sạn «Phương Đông», chịu cảnh túng thiếu, và anh ta phải nuôi họ, và chuyện ấy anh ta thấy buồn cười. Anh ta ba mươi sáu tuổi, còn vợ thì đã bốn mươi hai, chuyện ấy anh ta cũng thấy buồn cười. Mẹ anh ta, một bà kiêu kỳ, vênh váo, có những tham vọng quý tộc, khinh bỉ vợ anh ta và sống riêng với cả một bầy chó mèo, và anh ta phải đưa riêng cho bà bảy mươi lăm rúp mỗi tháng; chính anh ta cũng là người sành điệu, thích ăn sáng ở quán «Chợ Xla-vơ» và ăn trưa ở nhà hàng «Ẩn Cư»; cần rất nhiều tiền, nhưng ông chú chỉ cấp cho anh ta mỗi năm hai nghìn, không đủ, và anh ta suốt ngày chạy khắp Mát-xcơ-va, như người ta nói, thè cả lưỡi ra, tìm chỗ vay mượn, chuyện ấy anh ta cũng thấy buồn cười. Anh ta đến nhà Cốt-lô-vích, như anh ta nói, là để nghỉ ngơi giữa lòng thiên nhiên cho khuây khoả đời sống gia đình. Trong bữa trưa, bữa tối, khi đi dạo, anh ta kể với chúng tôi về vợ mình, về mẹ mình, về các chủ nợ, các viên mõ toà, và cười nhạo họ; anh ta cười nhạo cả bản thân mình và cam đoan rằng nhờ cái tài vay mượn ấy mà anh ta có được bao nhiêu mối quen biết dễ chịu. Anh ta cười không ngớt, và chúng tôi cũng cười theo. Có anh ta, chúng tôi bắt đầu tiêu thời gian theo cách khác. Tôi thì thiên về những thú vui yên tĩnh, có thể nói là điền viên: thích câu cá, đi dạo buổi chiều, hái nấm; còn Lúp-cốp lại thích những cuộc picnic, pháo hoa, đi săn với chó săn. Mỗi tuần anh ta bày ra đến ba cuộc picnic, và A-ri-át-na, vẻ mặt nghiêm trang, đầy cảm hứng, ghi vào mảnh giấy nào hàu, nào sâm-banh, nào kẹo, rồi sai tôi lên Mát-xcơ-va, dĩ nhiên chẳng hỏi tôi có tiền hay không. Còn trong các cuộc picnic thì nâng cốc chúc mừng, tiếng cười, và lại những câu chuyện yêu đời kể rằng vợ già biết chừng nào, chó của mẹ béo biết chừng nào, các chủ nợ dễ thương biết chừng nào…
Lúp-cốp yêu thiên nhiên, nhưng nhìn nó như nhìn một thứ đã biết từ lâu, mà về bản chất lại thấp hơn anh ta vô cùng và được tạo ra chỉ để anh ta hưởng thụ. Có khi anh ta dừng lại trước một phong cảnh tuyệt đẹp nào đó và nói: «Uống tí trà ở đây thì hay phải biết!». Một lần, thấy A-ri-át-na cầm ô đi ở đằng xa, anh ta hất hàm về phía cô và bảo:
— Cô ấy gầy, mà tôi thì thích thế. Tôi không ưa mấy cô đẫy đà.
Câu ấy làm tôi khó chịu. Tôi xin anh ta đừng nói về phụ nữ như thế trước mặt tôi. Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi và nói:
— Tôi thích người gầy và không thích người béo thì có gì là xấu?
Tôi chẳng trả lời anh ta. Rồi có lần, đang lúc vui vẻ và hơi chếnh choáng, anh ta bảo:
— Tôi để ý thấy cô A-ri-át-na Gri-gô-ri-ép-na thích anh. Tôi lấy làm lạ là sao anh lại ngồi ngáp ruồi thế.
Câu ấy làm tôi ngượng, và tôi bối rối trình bày với anh ta quan niệm của mình về tình yêu và đàn bà.
— Tôi không biết, anh ta thở dài. Theo tôi, đàn bà là đàn bà, đàn ông là đàn ông. Cứ cho là cô A-ri-át-na Gri-gô-ri-ép-na, như anh nói, thơ mộng và cao thượng đi, nhưng thế không có nghĩa là cô ấy phải nằm ngoài các quy luật tự nhiên. Chính anh cũng thấy đấy, cô ấy đã ở cái tuổi cần có chồng hay có người tình. Tôi tôn trọng phụ nữ không kém gì anh, nhưng tôi nghĩ rằng những quan hệ nhất định ấy chẳng loại trừ thơ ca. Thơ ca là thơ ca, người tình là người tình. Cũng như trong nghề nông vậy: vẻ đẹp thiên nhiên là một chuyện, còn hoa lợi từ rừng và ruộng là chuyện khác.
Khi tôi và A-ri-át-na câu cá bống, Lúp-cốp nằm ngay đấy trên bãi cát, trêu chọc tôi hoặc dạy tôi cách sống.
— Tôi lấy làm lạ, thưa ông, làm sao ông có thể sống mà không có một mối tình! anh ta nói. Ông trẻ, đẹp trai, thú vị, nói tóm lại là một người đàn ông cừ, thế mà lại sống như thầy tu. Chà, mấy ông già hai mươi tám tuổi này! Tôi hơn ông gần mười tuổi, thế mà ai trẻ hơn nào? Cô A-ri-át-na Gri-gô-ri-ép-na, ai trẻ hơn?
— Dĩ nhiên là anh rồi, A-ri-át-na đáp.
Và khi anh ta đã chán cái im lặng của chúng tôi và sự chăm chú chúng tôi dồn vào mấy cái phao, anh ta đi vào nhà, còn cô thì nhìn tôi giận dữ và nói:
— Thật đấy, anh chẳng phải đàn ông, mà là một thứ, Chúa tha tội cho em, đồ nhu nhược. Đàn ông phải say mê, phải điên rồ, phải phạm sai lầm, phải đau khổ! Đàn bà sẽ tha thứ cho anh cả sự hỗn hào lẫn sự trơ tráo, nhưng không bao giờ tha thứ cho anh cái sự khôn ngoan biết điều ấy của anh.
Cô giận thật sự và nói tiếp:
— Muốn thành công thì phải quyết đoán và táo bạo. Lúp-cốp không đẹp trai bằng anh, nhưng anh ấy thú vị hơn anh, và bao giờ cũng được đàn bà mến, vì anh ấy không giống anh, anh ấy là đàn ông…
Và thậm chí trong giọng cô còn nghe thấy một vẻ cay nghiệt nào đó. Một lần trong bữa tối, chẳng nói với tôi, cô bắt đầu bảo rằng nếu cô là đàn ông thì cô đã không chịu mốc meo ở quê, mà đi du lịch, mùa đông sống ở một nơi nào đó ở nước ngoài, chẳng hạn ở nước Ý. Ôi, nước Ý! Đến đây cha tôi vô tình đổ thêm dầu vào lửa; ông kể rất lâu về nước Ý, ở đó tuyệt vời thế nào, thiên nhiên kỳ diệu ra sao, những viện bảo tàng thế nào! Bỗng nhiên trong A-ri-át-na bùng lên ý muốn đi Ý. Cô còn đập cả nắm tay xuống bàn, mắt rực sáng: phải đi!
Và rồi bắt đầu những câu chuyện về chuyện ở Ý sẽ tuyệt thế nào, ôi nước Ý, ôi chao ôi chao, và ngày nào cũng thế, và khi A-ri-át-na nhìn qua vai tôi, qua vẻ mặt lạnh lùng và bướng bỉnh của cô tôi thấy rằng trong mơ tưởng cô đã chinh phục cả nước Ý cùng tất cả các phòng khách, những người nước ngoài sang trọng và khách du lịch của nó, và không còn cách gì giữ cô lại được nữa. Tôi khuyên cô đợi một chút, hoãn chuyến đi một hai năm, nhưng cô nhăn mặt khó chịu và nói:
— Anh khôn ngoan như một mụ già.
Còn Lúp-cốp thì tán thành chuyến đi. Anh ta bảo đi như thế sẽ rất rẻ, và anh ta cũng sẵn lòng đi Ý để nghỉ ngơi cho khuây khoả đời sống gia đình. Tôi thú nhận là tôi đã cư xử ngây thơ như một cậu học sinh trung học. Không phải vì ghen, mà vì linh cảm một điều gì khủng khiếp, khác thường, tôi cố gắng, khi nào có thể, không để hai người ở riêng với nhau, và họ trêu tôi; chẳng hạn, khi tôi bước vào, họ làm như vừa hôn nhau xong, vân vân.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn