Chương 1: Người đọc được ý nghĩ
Những phẩm chất trí tuệ mà người ta gọi là óc phân tích, tự chúng lại rất khó đem ra phân tích. Ta chỉ đánh giá được chúng qua kết quả. Trong số những điều ta biết về chúng, có điều này: với người sở hữu chúng ở mức phi thường, chúng luôn là nguồn vui thích sống động nhất. Cũng như người lực sĩ hân hoan với sức mạnh cơ bắp, thích những bài tập bắt cơ bắp hoạt động, người có óc phân tích say sưa với cái hoạt động tinh thần là gỡ rối. Anh ta tìm thấy niềm vui ngay cả trong những việc vặt vãnh nhất, miễn là được đem tài mình ra dùng. Anh ta thích những câu đố, những trò đố chữ, những thứ chữ tượng hình. Khi giải chúng, anh ta tỏ ra sắc sảo tới mức người thường tưởng như có phép lạ. Những kết quả anh đạt được, nhờ chính cái tinh tuý của phương pháp, lại mang trọn vẻ của trực giác.
Khả năng giải đáp có lẽ được tăng cường nhiều nhờ học toán. Nhưng tính toán tự nó chưa phải là phân tích. Một người chơi cờ vua chẳng hạn, làm được việc này mà không cần cố gắng gì cho việc kia. Tôi không viết một bài luận, mà chỉ mở đầu một câu chuyện khá kỳ lạ bằng mấy nhận xét tản mạn. Vì thế tôi xin nhân dịp khẳng định rằng những năng lực cao hơn của trí tuệ biết suy ngẫm được thử thách rõ rệt hơn, có ích hơn bởi trò cờ đam khiêm tốn, hơn là bởi tất cả cái phù phiếm cầu kỳ của cờ vua. Trong cờ vua, mỗi quân đi một kiểu riêng kỳ quặc, giá trị khác nhau và thay đổi, người ta hay lầm cái chỉ là phức tạp với cái sâu sắc. Ở đó sự chú ý bị huy động mạnh mẽ. Lơ là một giây là phạm sơ suất, dẫn tới thiệt hại hay thua cuộc. Nước đi đã nhiều lại rắc rối, nên khả năng sơ suất tăng lên. Và mười trận thì chín trận, người thắng là kẻ tập trung hơn chứ không phải kẻ sắc sảo hơn. Trong cờ đam thì ngược lại, nước đi đơn nhất, ít biến hoá, khả năng sơ ý giảm đi, sự chú ý suông được rảnh rang hơn, nên bên nào giành được lợi thế là nhờ sắc sảo hơn. Giả sử một ván cờ đam chỉ còn bốn quân vua, dĩ nhiên chẳng ai sơ suất. Rõ ràng khi ấy, nếu hai người ngang tài, chỉ một nước đi tinh tế, kết quả của một nỗ lực trí tuệ mạnh mẽ, mới phân định được thắng thua. Không còn những phương sách thông thường, người có óc phân tích nhập vào tâm trí đối thủ, đồng nhất mình với nó, và không hiếm khi nhờ thế mà nhìn thấy ngay những cách duy nhất, có khi đơn giản tới vô lý, để dụ đối thủ phạm lỗi hay giục hắn tính sai.
Trò bài uýt từ lâu nổi tiếng là rèn luyện năng lực tính toán. Những người trí tuệ bậc cao nhất thường thích nó một cách khó hiểu, trong khi lại chê cờ vua là phù phiếm. Chắc chắn không có trò nào cùng loại đòi hỏi năng lực phân tích nhiều đến thế. Người chơi cờ vua giỏi nhất thiên hạ có lẽ cũng chỉ là người chơi cờ vua giỏi nhất. Nhưng thành thạo bài uýt nghĩa là có khả năng thành công trong mọi việc hệ trọng hơn, nơi trí óc đấu với trí óc. Khi nói thành thạo, tôi muốn nói tới sự hoàn hảo trong trò chơi, bao gồm việc hiểu mọi nguồn có thể đem lại lợi thế chính đáng. Những nguồn ấy không chỉ nhiều mà còn đủ dạng, thường nằm ở những ngõ ngách tư duy mà trí óc thông thường hoàn toàn không với tới. Quan sát chăm chú là nhớ rõ ràng, và về mặt này người chơi cờ vua giỏi tập trung sẽ chơi bài uýt khá tốt. Còn luật chơi thì ai cũng hiểu được. Thế nên người ta thường coi trí nhớ tốt và chơi đúng sách là tất cả những gì cần cho một người chơi giỏi. Nhưng chính ở những điều vượt ra ngoài giới hạn luật lệ, tài của người có óc phân tích mới lộ ra. Anh ta lặng lẽ quan sát và suy luận vô số điều. Có lẽ bạn chơi của anh cũng thế. Sự khác nhau về lượng thông tin thu được không nằm ở chỗ suy luận đúng hay sai, mà ở chất lượng của sự quan sát. Điều cần biết là phải quan sát cái gì. Người chơi của chúng ta chẳng hề tự giới hạn mình. Anh ta không vì mục đích là trò chơi mà gạt bỏ những suy luận từ những thứ bên ngoài trò chơi. Anh ta xem xét nét mặt của bạn cùng phe, so sánh kỹ với nét mặt từng đối thủ. Anh ta để ý cách mỗi người xếp bài trên tay, thường đếm được từng lá chủ, từng lá cao qua những cái liếc mắt người cầm bài dành cho chúng. Anh ta ghi nhận mọi thay đổi trên nét mặt khi ván bài tiến triển, rút ra cả một kho ý tưởng từ những khác biệt trong vẻ chắc chắn, ngạc nhiên, đắc thắng hay bực bội. Từ cách một người gom bài sau khi ăn một nước, anh đoán được người ấy có ăn thêm nước nữa cùng chất được không. Anh nhận ra lá bài nào được đánh ra để nghi binh qua cách nó bị ném xuống bàn. Một câu nói vô tình, một lá bài lỡ rơi hay lỡ lật, cùng vẻ lo lắng hay thờ ơ khi giấu nó đi, cách đếm số nước ăn và thứ tự xếp chúng, sự lúng túng, ngập ngừng, háo hức hay run sợ, tất cả đều là dấu hiệu chỉ ra tình thế thật cho cái nhãn quan tưởng như trực giác của anh. Chơi xong hai ba vòng đầu, anh đã nắm trọn bài trên tay mỗi người, và từ đó cứ đánh bài ra với sự chính xác tuyệt đối, như thể những người kia đã lật ngửa hết bài của mình.
Trong số những sự việc dưới đây, người đọc sẽ thấy một kiểu chú giải cho những nhận định vừa nêu.
Hồi sống ở Pa-ri suốt mùa xuân và một phần mùa hè năm ấy, tôi làm quen với ông Ô-guy-xtơ Đuy-panh. Chàng trai trẻ này xuất thân từ một gia đình danh giá, thậm chí hiển hách, nhưng vì nhiều biến cố không may đã sa vào cảnh nghèo túng tới mức nghị lực trong anh gục ngã. Anh thôi bươn chải với đời, cũng chẳng còn thiết tha gây dựng lại cơ nghiệp. Nhờ lòng tốt của các chủ nợ, anh vẫn còn giữ được một chút gia sản nhỏ. Nhờ món lợi tức từ đó, bằng cách chi tiêu hết sức tằn tiện, anh xoay xở đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống, chẳng bận tâm tới những thứ thừa thãi. Sách là thứ xa xỉ duy nhất của anh, mà ở Pa-ri thì sách dễ kiếm.
Lần gặp đầu tiên của chúng tôi là ở một thư viện vô danh trên phố Mông-mác-trơ. Tình cờ cả hai cùng tìm một cuốn sách rất hiếm và rất đáng chú ý, nên chúng tôi gần gũi nhau hơn. Chúng tôi gặp nhau hết lần này tới lần khác. Tôi rất quan tâm tới câu chuyện gia đình nhỏ mà anh kể với tôi, với tất cả sự thẳng thắn mà một người Pháp vẫn có mỗi khi đề tài là chính mình. Tôi cũng sửng sốt trước vốn đọc mênh mông của anh. Và trên hết, tôi thấy tâm hồn mình bừng cháy bởi nhiệt tình mãnh liệt và sự tươi mới sống động của trí tưởng tượng nơi anh. Với những điều tôi đang tìm kiếm ở Pa-ri hồi ấy, tôi cảm thấy được ở bên một người như thế là một báu vật vô giá, và tôi thành thật nói với anh cảm nghĩ ấy. Cuối cùng chúng tôi thoả thuận sống chung trong thời gian tôi ở lại thành phố. Vì hoàn cảnh vật chất của tôi đỡ chật vật hơn anh đôi chút, tôi được phép chịu tiền thuê và bày biện, theo một phong cách hợp với cái u buồn khá kỳ quặc chung của hai người, một toà nhà cổ bị thời gian gặm mòn, hình thù quái dị, bỏ hoang từ lâu vì những chuyện mê tín mà chúng tôi chẳng buồn tìm hiểu, đang chực đổ sụp ở một góc vắng vẻ hoang vu của khu Xanh Giéc-manh.
Nếu người đời biết nếp sống của chúng tôi ở đó, hẳn họ sẽ coi chúng tôi là hai kẻ điên, dù có lẽ là loại điên vô hại. Chúng tôi sống ẩn dật hoàn toàn. Chúng tôi không tiếp khách nào. Thật ra chỗ ẩn cư của chúng tôi được giữ bí mật cẩn thận với cả bạn bè cũ của tôi. Còn Đuy-panh thì đã nhiều năm không quen biết ai ở Pa-ri, cũng chẳng ai biết tới anh. Chúng tôi chỉ sống với nhau.
Bạn tôi có một sở thích ngông, biết gọi là gì khác đây, là yêu bóng đêm vì chính bóng đêm. Và tôi lặng lẽ sa vào cái thói kỳ quặc ấy, cũng như mọi thói kỳ quặc khác của anh, phó mặc mình hoàn toàn cho những ý thích ngông cuồng của anh. Nữ thần bóng tối không chịu ở với chúng tôi mãi được, nhưng chúng tôi có thể giả tạo sự hiện diện của nàng. Vừa rạng sáng, chúng tôi đóng hết cửa chớp nặng nề của toà nhà cũ, thắp vài ngọn nến tẩm hương nồng, chỉ toả ra những tia sáng yếu ớt ma quái nhất. Nhờ chúng, chúng tôi đắm hồn vào mộng tưởng, đọc, viết hay trò chuyện, cho tới khi đồng hồ báo Bóng Tối thật đã tới. Bấy giờ chúng tôi khoác tay nhau ra phố, tiếp tục những đề tài ban ngày, hay lang thang khắp nơi tới tận khuya, tìm giữa ánh sáng và bóng tối hoang dại của thành phố đông đúc cái kích thích tinh thần vô tận mà sự quan sát lặng lẽ có thể đem lại.
Những lúc ấy, tôi không khỏi để ý và thán phục một năng lực phân tích đặc biệt ở Đuy-panh, dù với trí tưởng tượng phong phú của anh, tôi đã chuẩn bị tinh thần để chờ đợi nó. Hình như anh cũng hăng say thích thú khi dùng tới nó, nếu không hẳn là khi phô bày nó, và không ngần ngại thú nhận niềm vui có được từ đó. Anh cười khùng khục khoe với tôi rằng đối với anh, phần đông mọi người đều có một ô cửa sổ trước ngực, và anh hay tiếp ngay những lời khẳng định ấy bằng những bằng chứng trực tiếp, hết sức giật mình, rằng anh hiểu thấu tâm can tôi. Những lúc ấy thái độ anh lạnh lùng, xa vắng. Mắt anh trống rỗng, còn giọng nói vốn trầm ấm của anh vút lên cao, nghe hẳn sẽ có vẻ cáu kỉnh nếu không nhờ cách phát âm chậm rãi, rõ ràng tuyệt đối. Quan sát anh trong những tâm trạng ấy, tôi thường trầm ngâm nghĩ tới thuyết cổ về Linh Hồn Hai Nửa, và tự mua vui bằng ý nghĩ có hai Đuy-panh, một kẻ sáng tạo và một kẻ giải đáp.
Đừng tưởng qua những gì tôi vừa nói rằng tôi đang kể một chuyện bí hiểm hay viết một tiểu thuyết. Những gì tôi tả ở người Pháp ấy chỉ là kết quả của một trí tuệ bị kích thích, hay có lẽ là một trí tuệ có bệnh. Nhưng muốn hiểu tính chất những nhận xét của anh trong những lúc ấy, một ví dụ là đủ.
Một đêm chúng tôi đi dạo dọc một con phố dài bẩn thỉu gần cung điện Hoàng gia. Có vẻ cả hai đều đang mải nghĩ, nên ít nhất mười lăm phút không ai nói một tiếng nào. Bỗng Đuy-panh buột ra những lời này:
"Anh ta bé nhỏ thật, đúng thế, đóng hài kịch thì hợp hơn."
Tôi vô tình đáp: "Chẳng còn nghi ngờ gì về điều ấy." Lúc đầu, vì mải nghĩ quá, tôi không để ý cái cách lạ lùng mà người nói đã hoà nhịp với những suy tưởng của tôi. Một lát sau tôi mới sực tỉnh, và kinh ngạc vô cùng.
Tôi nghiêm giọng nói: "Đuy-panh, chuyện này vượt quá sức hiểu của tôi. Tôi không ngần ngại nói rằng tôi sững sờ, khó mà tin vào tai mình. Làm sao anh biết được tôi đang nghĩ tới..." Tới đây tôi dừng lại, để chắc chắn xem anh có thật sự biết tôi đang nghĩ tới ai không.
Anh nói: "Tới Săng-ti-y chứ gì, sao anh lại dừng? Anh đang tự nhủ rằng dáng người bé nhỏ của anh ta không hợp đóng bi kịch."
Đó đúng là điều tôi đang nghĩ. Săng-ti-y vốn là một anh thợ giày ở phố Xanh Đơ-ni, mê sân khấu tới phát cuồng, đã thử đóng vai vua Xéc-xét trong vở bi kịch cùng tên, và bị người ta chế giễu tơi bời vì cái công ấy.
Tôi kêu lên: "Vì Trời, nói cho tôi biết phương pháp, nếu có phương pháp, mà nhờ đó anh dò thấu được tâm can tôi trong chuyện này." Thật ra tôi còn giật mình hơn mức tôi muốn để lộ ra.
Bạn tôi đáp: "Chính anh bán hoa quả đã đưa anh tới kết luận rằng anh thợ vá giày không đủ chiều cao để đóng vua Xéc-xét và những vai cùng loại."
"Anh bán hoa quả! Anh làm tôi kinh ngạc đấy. Tôi chẳng quen anh bán hoa quả nào cả."
"Cái người va vào anh lúc ta rẽ vào phố này ấy, chắc cách đây mười lăm phút."
Giờ tôi mới nhớ ra quả có một anh bán hoa quả đội trên đầu một thúng táo to, vô tình suýt xô tôi ngã lúc chúng tôi đi từ phố Xê sang con phố lớn đang đứng. Nhưng chuyện ấy liên quan gì tới Săng-ti-y thì tôi không tài nào hiểu nổi.
Đuy-panh không có chút gì là bịp bợm. Anh nói: "Để tôi giải thích. Và để anh hiểu rõ mọi điều, trước hết ta lần ngược lại dòng suy tưởng của anh, từ lúc tôi nói với anh cho tới lúc anh đụng phải anh bán hoa quả ấy. Những mắt xích lớn của sợi xích đi thế này: Săng-ti-y, chòm sao Thợ Săn, tiến sĩ Ních-côn, Ê-pi-quya, môn cắt đá, những viên đá lát đường, anh bán hoa quả."
Ít ai trong đời lại chưa từng có lúc tự giải trí bằng cách lần ngược những bước mà trí óc mình đã đi để tới một kết luận nào đó. Việc ấy thường rất thú vị. Ai thử lần đầu cũng phải kinh ngạc trước khoảng cách tưởng như vô tận và sự rời rạc giữa điểm xuất phát với đích đến. Vậy thì tôi đã kinh ngạc biết bao khi nghe người Pháp ấy nói những điều vừa nói, và không thể không thừa nhận rằng anh nói đúng. Anh nói tiếp:
"Nếu tôi nhớ không nhầm, ngay trước khi rời phố Xê, ta đang nói chuyện về ngựa. Đó là đề tài cuối cùng ta bàn. Khi ta sang phố này, một anh bán hoa quả đội thúng to trên đầu lướt vội qua, xô anh vào một đống đá lát đường chất ở chỗ mặt đường đang sửa. Anh giẫm lên một hòn đá lỏng, trượt chân, hơi trẹo cổ chân, có vẻ bực bội hay hờn dỗi, lẩm bẩm mấy tiếng, quay lại nhìn đống đá, rồi lặng lẽ đi tiếp. Tôi chẳng đặc biệt chú ý tới việc anh làm. Nhưng dạo này quan sát đã thành một thứ nhu cầu của tôi.
"Anh cứ nhìn xuống đất, liếc nhìn với vẻ bực dọc những ổ gà, những vết lún trên mặt đường, nên tôi biết anh vẫn đang nghĩ về đá, cho tới khi ta tới con ngõ nhỏ tên La-mác-tin, nơi người ta thử lát đường bằng những khối đá ghép chồng mép lên nhau và tán chặt. Tới đây mặt anh sáng lên, và thấy môi anh mấp máy, tôi chẳng nghi ngờ gì là anh đang lẩm bẩm chữ thuật cắt đá, một từ người ta dùng khá kiểu cách để chỉ lối lát đường này. Tôi biết anh không thể tự nhủ chữ ấy mà không nghĩ tới nguyên tử, rồi tới học thuyết của Ê-pi-quya. Mà khi ta bàn chuyện này cách đây chưa lâu, tôi đã nói với anh rằng những phỏng đoán mơ hồ của nhà hiền triết Hy Lạp cao quý ấy đã được thuyết tinh vân gần đây xác nhận một cách lạ lùng, mà ít ai để ý. Vì thế tôi cảm thấy anh không thể không ngước mắt lên nhìn đám tinh vân lớn trong chòm sao Thợ Săn, và tôi chắc chắn chờ anh làm thế. Anh đã ngước lên thật, và giờ tôi tin chắc mình đã lần đúng các bước của anh. Mà trong bài đả kích cay độc về Săng-ti-y đăng trên tờ báo hôm qua, tác giả trào phúng có những lời bóng gió nhục nhã về chuyện anh thợ giày đổi tên khi lên sân khấu, và trích một câu thơ La-tinh mà ta đã bàn với nhau nhiều lần, câu thơ nói rằng chữ cái đầu đã mất âm cũ của nó.
"Tôi từng nói với anh câu ấy ám chỉ tên chòm sao Thợ Săn, xưa kia viết khác đi một chữ cái đầu. Và vì cách giải thích ấy có mấy chỗ châm chọc khá thâm, tôi biết anh không thể quên. Vậy rõ ràng anh sẽ không thể không liên hệ hai ý nghĩ, chòm sao Thợ Săn và Săng-ti-y. Rằng anh đã liên hệ chúng, tôi thấy qua nụ cười thoáng qua trên môi anh. Anh nghĩ tới anh thợ giày tội nghiệp bị đem ra làm vật tế. Từ nãy anh đi lom khom, nhưng giờ tôi thấy anh vươn thẳng người lên hết cỡ. Bấy giờ tôi chắc chắn anh đang nghĩ tới dáng người bé nhỏ của Săng-ti-y. Tới đây tôi cắt ngang dòng suy tưởng của anh, nhận xét rằng vì thật ra anh ta rất bé nhỏ, cái anh Săng-ti-y ấy, nên đóng hài kịch thì hợp hơn."
— Hết chương 1 —
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám
🔍 Truyện trinh thám