An-na Li-xbét là một thiếu phụ xinh đẹp, da trắng má hồng, răng trắng lấp lánh, mắt trong và dịu. Chân cô nhẹ nhàng trong điệu múa, nhưng đầu óc cô còn nhẹ hơn. Cô có một đứa con nhỏ, chẳng xinh xắn gì, nên nó bị gửi cho vợ một anh làm thuê nuôi hộ, còn mẹ nó thì vào lâu đài ông bá tước.
Cô ngồi trong những căn phòng lộng lẫy bày biện toàn lụa với nhung. Người ta không để một ngọn gió nào lùa vào người cô, không ai được nói nặng với cô một lời, vì cô là vú nuôi của con ông bá tước. Cậu bé trắng trẻo, mảnh mai như một hoàng tử, đẹp như thiên thần. Cô yêu đứa trẻ ấy biết bao! Còn con trai cô thì đã có chỗ ở nhà anh làm thuê, nơi miệng thèm nhiều hơn nồi sôi, và thường chẳng có ai ở nhà trông đứa bé. Thế là nó khóc. Nhưng chẳng ai biết thì chẳng ai quan tâm. Nó khóc tới khi mệt lả rồi ngủ thiếp đi. Mà khi ngủ thì ta chẳng biết đói, cũng chẳng biết khát. Chà, giấc ngủ quả là một phát minh tuyệt vời.
Năm tháng trôi qua, đứa con của An-na Li-xbét lớn nhanh như cỏ dại, dù người ta bảo nó còi cọc. Nó đã thành như người trong cái nhà nó ở. Nhà ấy được trả tiền nuôi nó, thế là mẹ nó rũ bỏ được nó hẳn. Cô đã thành một bà ra dáng lắm. Cô có một mái nhà ấm cúng của riêng mình trên tỉnh, ra ngoài đi dạo thì đội mũ. Nhưng cô chẳng bao giờ đi dạo tới nhà anh làm thuê. Chỗ ấy xa tỉnh quá, mà thật ra cô cũng chẳng có việc gì phải tới, đứa bé giờ thuộc về nhà làm thuê ấy rồi. Nó có cái ăn, và nó cũng làm được chút việc để kiếm miếng ăn. Nó chăn con bò đỏ của Ma-ri, vì nó biết chăn gia súc, biết làm cho mình có ích.
Con chó lớn bên cổng sân một trang viên quý tộc, những hôm nắng thì ngồi chễm chệ trên nóc chuồng, sủa tất cả những ai đi qua. Nhưng trời mưa thì nó chui vào nhà, ở trong đó vừa ấm vừa khô. Đứa con của An-na Li-xbét cũng ngồi giữa nắng trên đầu hàng rào, gọt một món đồ chơi nhỏ. Nếu là mùa xuân, nó biết có ba cây dâu tây đang ra hoa, chắc chắn sẽ có quả. Đó là ý nghĩ đầy hy vọng nhất của nó, dù nhiều khi rồi chẳng được gì. Mà nó thì phải ngồi ngoài mưa những hôm trời xấu nhất, ướt sũng đến tận da, rồi để gió lạnh hong khô quần áo trên lưng. Nó mà tới gần sân trại của ông bá tước là bị xô đẩy, bị đánh, vì đám người làm trai gái bảo nó xấu kinh khủng. Nhưng nó quen rồi, vì chẳng ai thương nó.
Thế gian đối xử với đứa con của An-na Li-xbét như thế, mà làm sao khác được. Số nó là không được ai thương. Bấy lâu nó là con cua trên cạn, cuối cùng đất liền cũng hắt hủi nó. Nó ra biển, trên một con thuyền tồi tàn, ngồi cầm lái, còn lão chủ thuyền thì ngồi ôm can rượu. Nó bẩn thỉu, xấu xí, nửa chết cóng nửa chết đói. Lúc nào trông nó cũng như chưa bao giờ được ăn no, mà quả thật là thế.
Một hôm cuối thu, trời xấu, gió to, ướt át, cái rét xuyên qua cả lớp áo dày nhất, nhất là ở ngoài biển. Một con thuyền tồi tàn ra khơi, trên thuyền chỉ có hai người, mà nói cho đúng thì chỉ có một người rưỡi, là lão chủ thuyền và thằng bé giúp việc. Suốt cả ngày trời chỉ nhờ nhờ như hoàng hôn, chẳng mấy chốc tối hẳn, lại rét buốt, đến nỗi lão chủ thuyền phải làm một ngụm cho ấm người. Cái chai đã cũ, cái cốc cũng thế. Phần trên cốc còn nguyên, nhưng chân cốc gãy mất, nên người ta gắn nó vào một khúc gỗ nhỏ đẽo gọt, sơn xanh.
"Một ngụm rượu thì dễ chịu lắm, hai ngụm còn dễ chịu hơn," lão chủ thuyền nghĩ thế. Trong khi đó thằng bé ngồi cầm lái, hai bàn tay cứng nứt nẻ nắm chặt bánh lái. Nó xấu xí, tóc rối bết, trông như tật nguyền, còi cọc. Người ta gọi nó là thằng con nhà làm thuê, dù trong sổ nhà thờ nó được ghi là con của An-na Li-xbét.
Gió cắt qua dây buồm, thuyền cắt qua mặt biển. Buồm căng gió phồng lên, đưa thuyền lao đi như điên. Trên ướt dưới ướt, gió gào sóng giật, mà còn có thể tệ hơn nữa. Khoan! Cái gì thế kia? Cái gì vừa va vào thuyền? Một cột nước xoáy, hay một con sóng lớn bất ngờ đổ ập xuống?
Thằng bé cầm lái kêu lên:
— Trời ơi cứu chúng con!
Con thuyền nghiêng hẳn, nằm chềnh ềnh một bên mạn. Nó đã va phải một tảng đá ngầm nhô lên từ đáy biển, rồi chìm nghỉm ngay lập tức, như chiếc giày cũ chìm trong vũng nước. "Chìm nghỉm cả chuột lẫn người", như người ta vẫn nói. Trên thuyền có thể có chuột, nhưng người thì chỉ có một người rưỡi, lão chủ thuyền và thằng con nhà làm thuê. Chẳng ai thấy cảnh ấy, ngoài lũ hải âu bay là là và bầy cá dưới nước. Mà chúng cũng chẳng thấy rõ, vì chúng hoảng sợ lao vụt đi khi nước tràn vào thuyền và thuyền chìm xuống. Thuyền nằm đó, cách mặt nước chưa đầy một sải. Thế là hai người ấy đã được lo liệu xong, được chôn, và bị lãng quên.
Chỉ có cái cốc gắn chân gỗ xanh là không chìm, vì gỗ nổi. Cái cốc trôi dạt đi, rồi sẽ bị đánh dạt vào bờ và vỡ, ở đâu, khi nào, thì cũng chẳng quan trọng. Nó đã làm xong phận sự của mình, và nó đã được yêu, điều mà đứa con của An-na Li-xbét chẳng hề có. Nhưng ở trên trời, sẽ không có linh hồn nào phải nói: "Chưa bao giờ được yêu."
An-na Li-xbét đã sống trên tỉnh nhiều năm. Người ta gọi cô là "bà", và cô thấy mình đường bệ lắm. Cô nhớ những ngày xưa sang trọng, khi cô được ngồi xe ngựa, giao du với bà bá tước, bà nam tước. Đứa trẻ cao quý xinh đẹp của cô đã từng là một thiên thần bé bỏng, có tấm lòng nhân hậu nhất đời. Cậu đã yêu cô biết bao, và cô cũng yêu cậu. Cô từng ôm ấp, nựng nịu cậu, hai người quấn quýt nhau biết bao. Đứa trẻ ấy đã là niềm vui của cô, là cuộc đời thứ hai của cô. Giờ cậu đã mười bốn tuổi, cao ráo, đẹp trai, thông minh. Từ khi còn bế cậu trên tay, cô chưa gặp lại cậu lần nào. Đã nhiều năm cô không tới lâu đài ông bá tước, từ tỉnh tới đó là cả một chuyến đi xa.
An-na Li-xbét nói:
— Mình phải cố đi một chuyến, để gặp cục cưng của mình, đứa con bé bỏng đáng yêu của ông bá tước, để ôm cậu vào lòng. Chắc chắn cậu cũng mong gặp mình lắm, cậu bá tước nhỏ ấy. Hẳn cậu vẫn nghĩ tới mình, vẫn thương mình, như hồi cậu vòng đôi tay thiên thần ôm cổ mình, bập bẹ gọi "An-na Li". Với mình, đó là tiếng nhạc. Phải, mình phải cố đi gặp cậu một lần nữa.
Cô đi nhờ xe bò của một người buôn gia súc qua những miền quê, rồi xuống xe đi bộ tiếp, cuối cùng tới lâu đài ông bá tước. Lâu đài vẫn rộng lớn nguy nga như xưa, khu vườn vẫn như cũ. Đám người hầu thì toàn là người lạ, chẳng ai biết An-na Li-xbét, chẳng ai biết xưa kia cô từng có địa vị thế nào ở đây. Nhưng cô tin chắc chẳng mấy chốc bà bá tước sẽ cho họ biết, cả cục cưng của cô nữa. Cô mong được gặp cậu biết bao!
Giờ An-na Li-xbét đã tới nơi, nhưng cô phải chờ rất lâu. Mà với kẻ phải chờ thì thời gian trôi chậm lắm. Nhưng trước khi những người sang trọng vào bữa, cô được gọi vào và được nói chuyện rất ân cần. Ăn xong cô sẽ được vào lần nữa, lúc ấy cô sẽ lại được gặp đứa trẻ yêu dấu.
Cậu đã lớn, cao, mảnh khảnh, gầy quá. Nhưng đôi mắt và cái miệng thiên thần đáng yêu thì vẫn đẹp. Cậu nhìn cô, nhưng không nói gì. Chắc chắn cậu không biết cô là ai. Cậu quay người định đi ra, nhưng cô nắm lấy tay cậu, áp lên môi.
Cậu nói:
— Thôi được rồi, được rồi.
Nói rồi cậu bước ra khỏi phòng. Người choán hết mọi ý nghĩ của cô! Người cô yêu nhất, người là cả niềm kiêu hãnh của cô trên đời này!
An-na Li-xbét rời lâu đài ra đường cái, lòng buồn bã, rầu rĩ. Người cô đã chăm bẵm ngày đêm, đến giờ vẫn mang theo trong những giấc mơ, lại lạnh nhạt, xa lạ với cô, chẳng có lấy một lời, một ý nghĩ nào cho cô. Một con quạ đen lớn sà xuống đường cái ngay trước mặt cô, kêu quang quác thê thảm.
Cô nói:
— Chà, mày là cái giống chim gở gì thế?
Rồi cô đi ngang túp lều của anh làm thuê. Vợ anh đang đứng ở cửa, hai người đàn bà nói chuyện với nhau.
Chị vợ anh làm thuê nói:
— Trông chị khoẻ mạnh nhỉ, béo tốt phương phi. Chị sung sướng quá.
An-na Li-xbét đáp:
— Ồ, vâng.
Chị kia nói tiếp:
— Con thuyền chìm mang theo cả họ rồi. Lão Hăng-xơ chủ thuyền với thằng bé chết đuối cả. Thế là hết. Tôi cứ tưởng thằng bé sẽ giúp tôi được dăm đồng. Nó sẽ chẳng tốn của chị đồng nào nữa đâu, chị An-na Li-xbét ạ.
An-na Li-xbét nhắc lại:
— Thế ra chúng chết đuối rồi.
Cô chẳng nói gì thêm, và chuyện ấy cũng thôi. Cô thấy buồn lắm, vì đứa trẻ bá tước của cô chẳng buồn nói chuyện với cô, người yêu thương cậu đến thế, đã lặn lội bao xa để gặp cậu. Chuyến đi lại tốn kém, mà cô chẳng được vui vẻ gì. Nhưng cô không nói một lời nào về những điều ấy. Cô không thể giãi bày nỗi lòng với vợ anh làm thuê, kẻo chị ta lại tưởng cô không còn được trọng vọng ở lâu đài như xưa. Bấy giờ con quạ lại bay qua đầu cô, vừa bay vừa kêu.
An-na Li-xbét nói:
— Cái đồ đen đủi! Hôm nay rồi nó làm mình sợ mất thôi.
Cô có mang theo cà phê và rau diếp xoăn rang, vì cô nghĩ đem cho người đàn bà nghèo ấy để chị pha một ấm cà phê là làm phúc, rồi chính cô cũng sẽ uống một tách. Chị kia đi pha cà phê, trong lúc ấy An-na Li-xbét ngồi xuống một chiếc ghế rồi ngủ thiếp đi.
Thế rồi cô mơ thấy một điều cô chưa bao giờ mơ. Lạ thay, cô mơ thấy đứa con của chính mình, đứa con từng khóc, từng đói trong túp lều nhà làm thuê, từng bị xô đẩy giữa nắng nóng, giữa giá rét, và giờ đang nằm dưới đáy biển sâu, ở một chỗ chỉ có Chúa biết. Cô tưởng mình vẫn đang ngồi trong túp lều, nơi người đàn bà đang bận pha cà phê, vì cô ngửi thấy mùi hạt cà phê rang. Nhưng bỗng cô thấy như có một hình dáng trẻ trung tuyệt đẹp đứng ở ngưỡng cửa, đẹp như đứa con ông bá tước. Bóng hình ấy nói với cô:
— Thế gian đang tan biến rồi. Hãy bám chặt lấy con, vì dù sao mẹ vẫn là mẹ của con. Mẹ có một thiên thần trên trời, hãy giữ chặt lấy con.
Rồi đứa trẻ thiên thần đưa tay nắm lấy cô. Bấy giờ có một tiếng đổ vỡ khủng khiếp, như cả một thế giới đang sụp đổ tan tành. Đứa trẻ thiên thần đang bay lên khỏi mặt đất, nắm chặt tay áo cô đến nỗi cô thấy mình được nhấc lên. Nhưng mặt khác, có một cái gì nặng trĩu đeo vào chân cô, kéo cô xuống. Hình như có hàng trăm người đàn bà đang bám lấy cô, kêu lên:
— Nếu chị được cứu thì chúng tôi cũng phải được cứu. Bám chặt vào! Bám chặt vào!
Rồi tất cả họ đeo lên người cô, nhưng đông quá. Họ bám mãi, tay áo rách toạc, An-na Li-xbét kinh hoàng rơi xuống, và tỉnh dậy. Quả thật cô suýt ngã nhào thật cùng chiếc ghế đang ngồi. Nhưng cô giật mình, hoảng sợ quá, đến nỗi chẳng nhớ nổi mình vừa mơ thấy gì, chỉ biết đó là một điều gì khủng khiếp lắm.
Họ uống cà phê, chuyện trò với nhau một lúc. Rồi An-na Li-xbét đi về phía thị trấn nhỏ, nơi cô hẹn gặp người đánh xe chở hàng để đưa cô về nhà. Nhưng tới nơi, cô thấy ông ta phải tới chiều hôm sau mới khởi hành được. Thế là cô bắt đầu tính đến tiền tốn kém, tính xem đi bộ thì bao xa. Cô nhớ ra rằng đi theo bờ biển gần hơn đường cái hai dặm. Trời lại quang, sẽ có trăng, nên cô quyết định đi bộ, đi ngay, để hôm sau về được tới nhà.
Mặt trời đã lặn. Chuông chiều từ tháp nhà thờ làng ngân vang trong không trung. Nhưng với cô, đó không phải tiếng chuông, mà là tiếng ếch nhái kêu ngoài đầm. Rồi tiếng ếch im bặt, quanh cô lặng như tờ. Không nghe một tiếng chim, chúng đều đã ngủ cả, đến con cú cũng chưa rời chỗ nấp. Bìa rừng bên bờ biển chìm trong im lặng sâu thẳm. An-na Li-xbét vừa đi vừa nghe tiếng bước chân mình trên cát. Cả sóng biển cũng ngủ yên, mọi thứ dưới làn nước sâu đều đã chìm vào im lặng. Dưới đáy biển sâu, kẻ chết cũng như người sống đều lặng im.
An-na Li-xbét cứ đi, như người ta vẫn nói là chẳng nghĩ gì cả. Đúng hơn là ý nghĩ của cô lang thang, nhưng không rời khỏi cô, vì ý nghĩ chẳng bao giờ vắng mặt trong ta, nó chỉ ngủ thôi. Nhiều ý nghĩ nằm im lìm đến đúng lúc sẽ thức dậy, bắt đầu cựa quậy trong đầu óc, trong trái tim, và dường như từ trên cao đổ xuống ta.
Người ta viết rằng việc thiện kết trái là phúc lành. Người ta cũng viết rằng tiền công của tội lỗi là cái chết. Bao nhiêu điều đã được nói, được viết ra, mà ta bỏ qua hoặc chẳng hề biết. Rồi một ngọn đèn bừng lên trong ta, và những điều bị quên lãng tự nhắc nhở ta. An-na Li-xbét lúc này cũng vậy. Mầm mống của mọi thói xấu và mọi đức tính đều nằm trong tim ta, trong tim bạn và tim tôi. Chúng nằm đó như những hạt giống nhỏ, cho tới khi một tia nắng, hoặc một bàn tay độc ác chạm vào, hoặc khi ta rẽ ở góc đường sang phải hay sang trái, và thế là mọi sự được định đoạt. Hạt giống nhỏ cựa mình, nở ra, đâm chồi, rót nhựa vào máu ta, đưa ta đi theo đường thiện hay đường ác.
Những ý nghĩ day dứt thường vẫn có trong đầu, lên men ở đó, mà ta không nhận ra khi các giác quan như đang ngủ. Nhưng chúng vẫn ở đó. An-na Li-xbét cứ thế bước đi, các giác quan nửa thức nửa ngủ, nhưng những ý nghĩ thì đang lên men trong lòng cô.
Từ ngày hội đầu mùa chay năm này tới năm sau, biết bao điều có thể đè nặng lên trái tim. Đó là bản kết toán của cả một năm. Bao nhiêu điều có thể bị quên đi, những tội với Trời trong lời nói và ý nghĩ, tội với người bên cạnh, tội với lương tâm mình. Ta hầu như không biết chúng có đó. Và An-na Li-xbét chẳng nghĩ tới lỗi lầm nào của mình cả. Cô chẳng phạm tội gì với luật pháp. Cô là người tử tế, có địa vị đàng hoàng, điều ấy cô biết.
Cô cứ đi dọc bờ biển. Cái gì nằm kia thế? Một chiếc mũ cũ, mũ đàn ông. Không biết nó rơi khỏi thuyền từ bao giờ? Cô lại gần hơn, dừng lại nhìn chiếc mũ.
"Ơ! Cái gì nằm đằng kia?"
Cô rùng mình. Thế mà đó chẳng là gì, chỉ là một đống cỏ và rong biển rối bùng vắt ngang một tảng đá dài. Nhưng trông nó như một cái xác. Chỉ là cỏ rối, vậy mà cô vẫn sợ. Khi cô quay đi, bao nhiêu điều cô nghe từ hồi nhỏ ùa về trong tâm trí: những chuyện mê tín xưa về hồn ma trên bờ biển, về vong hồn những người chết đuối chưa được chôn cất, xác họ bị sóng đánh dạt lên bãi biển hoang vắng. Cô biết thân xác thì chẳng làm hại được ai, nhưng vong hồn thì có thể đuổi theo kẻ lữ khách cô độc, bám lấy người đó, đòi được mang về nghĩa địa nhà thờ để được yên nghỉ trong đất thánh.
"Bám chặt vào! Bám chặt vào!" hồn ma sẽ kêu lên như thế.
Khi An-na Li-xbét lẩm bẩm mấy chữ ấy một mình, cả giấc mơ bỗng hiện về trong trí nhớ cô. Trong mơ, những người đàn bà đã bám vào cô, đã thốt ra những lời ấy. Giữa tiếng thế giới sụp đổ, tay áo cô đã rách toạc, cô đã tuột khỏi bàn tay đứa con đang muốn nâng cô lên trong giờ phút khủng khiếp ấy. Con cô, đứa con ruột của cô, đứa con cô chưa bao giờ thương, giờ đang nằm chôn dưới biển, và có thể hiện lên như một hồn ma từ dưới nước, kêu lên: "Bám chặt vào! Mang con về đất thánh!"
Những ý nghĩ ấy lướt qua đầu, nỗi sợ hãi thúc chân cô bước nhanh, nhanh hơn nữa. Nỗi sợ ập tới như có một bàn tay lạnh ngắt, nhớp nháp đặt lên tim cô, khiến cô gần ngất đi. Cô nhìn ra biển, ngoài ấy mỗi lúc một tối hơn. Một làn sương dày cuộn tới, bám vào bụi cây, vào thân cây, uốn chúng thành những hình thù kỳ quái. Cô quay lại nhìn mặt trăng đã mọc sau lưng mình. Trăng như một mặt phẳng nhợt nhạt chẳng toả chút ánh sáng, và một sức nặng chết chóc như đè lên chân tay cô.
"Khoan đã," cô nghĩ. Rồi cô quay lại lần nữa để nhìn mặt trăng. Một khuôn mặt trắng nhợt hiện ra ngay sát cô, làn sương rủ từ vai xuống như một tấm áo.
— Dừng lại! Mang ta về đất thánh!
Những tiếng ấy vang bên tai cô, rỗng tuếch, lạ lùng. Âm thanh ấy không phải của ếch nhái hay của quạ, cô chẳng thấy con vật nào như thế.
— Một nấm mồ! Đào cho ta một nấm mồ!
Tiếng ấy lặp lại thật to. Phải, đó chính là hồn ma đứa con cô. Đứa con nằm dưới đáy biển, linh hồn không thể yên nghỉ chừng nào chưa được mang về nghĩa địa, chừng nào chưa có một nấm mồ được đào cho nó trong đất thánh. Cô sẽ tới đó ngay, sẽ đào ở đó. Cô quay về phía nhà thờ, và sức nặng trên tim cô như nhẹ đi, thậm chí biến mất hẳn. Nhưng khi cô quay lại định về nhà theo lối gần nhất, thì sức nặng ấy lại đè xuống.
— Dừng lại! Dừng lại!
Lời nói vang lên rõ mồn một, dù nghe như tiếng ếch kêu, hay tiếng chim than.
— Một nấm mồ! Đào cho ta một nấm mồ!
Sương lạnh và ẩm. Tay và mặt cô ướt nhớp vì kinh hãi. Một sức nặng lại đè lên, bám lấy cô. Đầu óc cô sáng ra, đón những ý nghĩ chưa bao giờ có ở đó.
Ở những miền phương bắc này, một khu rừng dẻ gai thường đâm chồi chỉ trong một đêm, và buổi sáng đã hiện ra dưới nắng trong tất cả vẻ rực rỡ của màu xanh non. Cũng thế, chỉ trong một khoảnh khắc, ý thức về những tội lỗi ta đã phạm trong ý nghĩ, lời nói và việc làm suốt đời mình có thể mở bung ra trước mắt ta. Một khi lương tâm đã thức dậy, nó tự bật lên trong tim. Và Chúa đánh thức lương tâm vào lúc ta ít ngờ nhất. Bấy giờ ta chẳng tìm được cớ gì bào chữa cho mình. Việc đã làm sờ sờ ra đó, làm chứng chống lại ta. Ý nghĩ như hoá thành lời, vang xa khắp thế gian. Ta kinh hoàng khi nghĩ tới những gì mình đã mang trong lòng, khi biết rằng mình đã không thắng được cái ác sinh ra từ sự vô tâm và lòng kiêu ngạo. Trái tim giấu trong nó cả thói xấu lẫn đức tốt, và chúng mọc lên trên lớp đất nông nhất.
An-na Li-xbét giờ đây trải qua trong ý nghĩ những điều ta vừa nói thành lời. Cô bị chúng đè bẹp, khuỵu xuống, bò lết trên mặt đất một quãng.
— Một nấm mồ! Đào cho ta một nấm mồ!
Tiếng ấy lại vang bên tai cô. Cô những muốn tự chôn mình, nếu nằm trong mồ mà quên được những việc mình đã làm.
Đó là giờ phút thức tỉnh đầu tiên của cô, đầy đau đớn và kinh hoàng. Nỗi mê tín làm cô khi thì rùng mình rét run, khi thì nóng bừng như lên cơn sốt. Bao điều cô từng sợ đến mức không dám nhắc tới nay ùa về trong trí. Lặng lẽ như bóng mây dưới ánh trăng, một bóng ma lướt qua cô, bóng ma cô từng nghe kể. Ngay sát cô, bốn con ngựa khịt mũi phi qua, lửa loé ra từ mắt và lỗ mũi chúng. Chúng kéo một cỗ xe đang bốc cháy, trong xe là lão chúa đất độc ác từng cai trị vùng này cả trăm năm trước. Truyền thuyết kể rằng đêm nào, cứ đúng mười hai giờ, lão lại đánh xe vào sân lâu đài của mình rồi lại đánh ra. Lão không nhợt nhạt như người chết, mà đen như than. Lão gật đầu, chỉ tay vào An-na Li-xbét, kêu lên:
— Bám chặt vào! Bám chặt vào! Rồi chị sẽ lại được ngồi xe ngựa quý tộc, và quên đứa con của chị đi!
Cô gượng đứng dậy, vội vã đi tới nghĩa địa. Nhưng những cây thánh giá đen và những con quạ đen nhảy múa trước mắt cô, cô không phân biệt được cái nào với con nào. Lũ quạ kêu quang quác như con quạ cô gặp ban ngày, nhưng giờ cô hiểu chúng nói gì.
— Ta là mẹ quạ, mẹ quạ bỏ con! Ta là mẹ quạ, mẹ quạ bỏ con!
Con quạ nào cũng kêu như thế. An-na Li-xbét thấy cái tên ấy cũng là để gọi mình. Cô tưởng mình sắp hoá thành một con chim đen, phải kêu như chúng kêu, nếu cô không đào xong nấm mồ. Thế là cô lao xuống đất, lấy tay không đào một nấm mồ trong lớp đất cứng, đến nỗi máu chảy ròng ròng từ những ngón tay.
— Một nấm mồ! Đào cho ta một nấm mồ!
Tiếng ấy vẫn vang bên tai cô. Cô sợ gà sẽ gáy, vệt đỏ đầu tiên sẽ hiện ra ở phương đông trước khi cô làm xong, và thế là cô sẽ mất hết. Rồi gà gáy, trời hửng sáng ở phương đông, mà nấm mồ mới đào được một nửa. Một bàn tay lạnh như băng vuốt qua đầu, qua mặt cô, trượt xuống phía trái tim.
— Chỉ được nửa nấm mồ!
Một giọng than lên rồi bay đi mất. Phải, nó bay đi trên mặt biển. Đó là hồn ma của biển. Kiệt sức, gục ngã, An-na Li-xbét khuỵu xuống đất và ngất lịm.
Khi cô tỉnh lại thì trời đã sáng rõ. Có hai người đàn ông đang đỡ cô dậy. Nhưng cô không nằm trong nghĩa địa, mà nằm trên bờ biển. Cô đã đào một cái hố sâu trong cát, và tay cô bị cứa đứt bởi một mảnh cốc vỡ, chân cốc sắc nhọn cắm vào một khúc gỗ nhỏ sơn màu.
An-na Li-xbét lên cơn sốt. Lương tâm đã đánh thức những ký ức mê tín, tác động vào tâm trí cô, khiến cô tưởng mình chỉ còn một nửa linh hồn, còn nửa kia thì đứa con đã mang xuống biển. Cô sẽ không bao giờ níu được lấy lòng thương xót của Trời, chừng nào chưa lấy lại được nửa linh hồn đang bị giữ chặt dưới làn nước sâu kia.
An-na Li-xbét trở về nhà, nhưng cô không còn là người đàn bà như xưa nữa. Ý nghĩ của cô như một cuộn chỉ rối bời. Chỉ có một sợi, một ý nghĩ là rõ ràng với cô: cô phải mang hồn ma trên bờ biển về nghĩa địa, phải đào cho nó một nấm mồ ở đó, có như thế cô mới lấy lại được linh hồn mình. Bao nhiêu đêm người ta thấy cô vắng nhà, và bao giờ cũng tìm thấy cô trên bờ biển, đang chờ hồn ma.
Cả một năm trôi qua như thế. Rồi một đêm cô lại biến mất, tìm đâu cũng không thấy. Suốt ngày hôm sau người ta đi tìm vô ích.
Gần tối, khi người giữ nhà thờ vào kéo chuông kinh chiều, ông thấy An-na Li-xbét bên bàn thờ. Cô đã ở đó suốt cả ngày. Sức lực thân thể cô gần như cạn kiệt, nhưng mắt cô sáng rực, má cô ửng hồng. Những tia nắng cuối cùng của mặt trời lặn chiếu lên cô, ánh lên trên bàn thờ, trên những cái khoá sáng loáng của cuốn Kinh Thánh đang mở đúng trang có lời tiên tri Giô-ên: "Hãy xé lòng các ngươi, đừng xé áo, mà trở về cùng Chúa."
Người ta bảo: "Chỉ là tình cờ thôi." Nhưng mọi chuyện có xảy ra tình cờ không? Trên khuôn mặt An-na Li-xbét rạng lên trong nắng chiều, người ta thấy sự bình yên, thanh thản. Cô nói giờ cô sung sướng rồi, vì cô đã chiến thắng. Hồn ma trên bờ biển, đứa con của chính cô, đêm qua đã tới bên cô và nói:
— Mẹ chỉ đào cho con được nửa nấm mồ. Nhưng suốt một năm lẻ một ngày nay, mẹ đã chôn con trọn vẹn trong tim mẹ. Mà trong tim là nơi tốt nhất để một người mẹ giấu đứa con của mình.
Rồi nó trả lại cho cô linh hồn đã mất, và đưa cô vào nhà thờ.
Cô nói:
— Giờ thì tôi đang ở trong nhà của Chúa. Và trong ngôi nhà ấy, ta được sung sướng.
Khi mặt trời lặn, linh hồn An-na Li-xbét đã bay lên tới cõi không còn đau khổ. Và mọi nỗi khổ của An-na Li-xbét đã chấm dứt.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích