Truyện Đỉnh

🧸 Truyện thiếu nhi

Đứa con người trong hang sói

Anh em của Mô-gli · Chương 1/2 · của Rudyard Kipling

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 15.604 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Bảy giờ tối một ngày rất nóng trên dãy…
  2. 2:19Se-khan là con hổ sống bên sông Oai-gun-ga, cách…
  3. 4:40Tiếng gừ gừ to dần, rồi kết thúc bằng…
  4. 6:16Đứa bé đang len vào giữa bầy sói con…
  5. 8:34Sói Cha đứng nhìn sững sờ. Lão gần như…
  6. 11:44Cuối cùng, và lông gáy Sói Mẹ dựng lên…
  7. 13:24Còn cần một người nữa, — A-kê-la nói. —…
  8. 15:30Ừ, cứ gầm cho đã đi, — Ba-ghi-ra nói…

Chương 1: Đứa con người trong hang sói

Bảy giờ tối một ngày rất nóng trên dãy đồi Xi-ô-ni, Sói Cha thức dậy sau giấc ngủ ban ngày. Lão gãi gãi, ngáp một cái, rồi duỗi từng chân ra cho hết cái cảm giác tê tê buồn ngủ ở đầu móng. Sói Mẹ nằm gác cái mũi to màu xám lên bốn đứa con đang lăn lộn, kêu chí chóe. Ánh trăng rọi vào miệng hang nơi cả nhà sinh sống.

— Ạc! — Sói Cha nói. — Lại tới giờ đi săn rồi.

Lão vừa toan phóng xuống đồi thì một cái bóng nhỏ đuôi rậm lướt qua cửa hang, rên rỉ:

— Chúc ngài may mắn, hỡi Chúa tể loài Sói. Chúc may mắn và răng trắng khỏe cho các con quý của ngài, để chúng không bao giờ quên kẻ đói trên đời này.

Đó là con chó rừng Ta-ba-ki, biệt danh Kẻ Liếm Đĩa. Loài sói ở Ấn Độ khinh Ta-ba-ki, vì nó chạy khắp nơi gây chuyện, mách lẻo, lại còn ăn giẻ rách với mẩu da vụn ở bãi rác làng. Nhưng chúng cũng sợ nó, vì Ta-ba-ki dễ phát dại hơn bất cứ con vật nào trong rừng. Khi phát dại, nó quên rằng mình từng biết sợ ai, cứ thế chạy khắp rừng cắn bất cứ thứ gì chắn đường. Ngay cả hổ cũng phải chạy trốn khi Ta-ba-ki nhỏ bé phát dại, vì cơn dại là điều nhục nhã nhất có thể đến với một con thú hoang. Chúng ta gọi đó là bệnh dại, còn muông thú gọi nó là "đơ-oa-ni", tức là cơn điên, và chúng bỏ chạy.

— Thì vào mà xem, — Sói Cha nói, giọng cứng nhắc, — nhưng ở đây chẳng có gì ăn đâu.

— Với loài sói thì không, — Ta-ba-ki đáp, — nhưng với kẻ hèn mọn như tôi thì một khúc xương khô cũng là bữa tiệc rồi. Bọn chó rừng chúng tôi là ai mà dám kén cá chọn canh?

Nó lủi vào cuối hang, tìm được khúc xương nai còn dính chút thịt, ngồi gặm đầu xương lách cách, vui vẻ ra mặt.

— Đa tạ bữa ăn ngon, — nó vừa nói vừa liếm mép. — Các con quý mới đẹp làm sao! Mắt chúng mới to làm sao! Mà còn bé thế này! Phải rồi, phải rồi, lẽ ra tôi phải nhớ rằng con nhà vua thì từ lúc mới sinh đã là người lớn.

Ta-ba-ki biết rõ như ai hết rằng khen trẻ con ngay trước mặt là điều xui xẻo nhất. Nó khoái chí khi thấy Sói Cha Sói Mẹ có vẻ khó chịu.

Ta-ba-ki ngồi im, hả hê vì trò quấy mình vừa gây ra, rồi nó nói giọng độc địa:

— Se-khan, Ông Lớn ấy, đã dời bãi săn rồi. Tháng trăng tới ông ấy sẽ săn trên mấy ngọn đồi này. Chính ông ấy bảo tôi thế.

Se-khan là con hổ sống bên sông Oai-gun-ga, cách đó hai mươi dặm.

— Hắn không có quyền! — Sói Cha giận dữ. — Theo Luật Rừng, hắn không có quyền đổi chỗ ở mà không báo trước. Hắn sẽ làm kinh động hết thú săn trong vòng mười dặm, mà ta, dạo này ta phải săn cho hai miệng ăn.

— Mẹ hắn gọi hắn là Lung-gri, tức là Thằng Què, đâu phải không có lý do, — Sói Mẹ nói khẽ. — Hắn què một chân từ lúc lọt lòng. Vì thế hắn chỉ dám vồ trâu bò. Giờ dân làng bên Oai-gun-ga giận hắn, hắn mò sang đây để chọc giận dân làng bên mình. Rồi khi hắn đi xa rồi, họ sẽ lùng sục khắp rừng tìm hắn, và chúng ta với con cái phải chạy khi họ đốt cỏ. Quả thật chúng ta biết ơn Se-khan lắm đấy!

— Tôi có nên nói lại với ông ấy lòng biết ơn của bà không? — Ta-ba-ki hỏi.

— Cút! — Sói Cha quát. — Cút đi mà săn với chủ ngươi. Đêm nay ngươi gây hại thế là đủ rồi.

— Tôi đi đây, — Ta-ba-ki nói nhỏ. — Các người nghe kìa, Se-khan đang ở dưới bụi rậm. Lẽ ra tôi chẳng cần mang tin tới làm gì.

Sói Cha lắng tai. Dưới thung lũng dẫn xuống một con sông nhỏ, lão nghe tiếng rên gầm gừ khô khốc, giận dữ, ngân nga của một con hổ không vồ được gì và cũng chẳng thèm giấu cả khu rừng chuyện ấy.

— Đồ ngu! — Sói Cha nói. — Bắt đầu một đêm săn mà ồn ào như thế! Hắn tưởng nai rừng ở đây cũng như mấy con bò béo bên Oai-gun-ga của hắn chắc?

— Suỵt. Đêm nay hắn không săn bò, cũng chẳng săn nai đâu, — Sói Mẹ nói. — Hắn săn Người.

Tiếng rên đã đổi thành một thứ tiếng gừ gừ vo ve, nghe như từ bốn phương tám hướng vọng lại. Đó là thứ tiếng làm những người tiều phu và dân du mục ngủ ngoài trời hoảng loạn, có khi khiến họ chạy thẳng vào miệng hổ.

— Người! — Sói Cha nhe hết hàm răng trắng. — Phì! Ao hồ không đủ bọ với ếch hay sao mà hắn phải ăn Người, lại còn trên đất của chúng ta nữa!

Luật Rừng chẳng bao giờ ra lệnh gì mà không có lý do. Luật cấm mọi loài thú ăn thịt Người, trừ khi giết để dạy con cách giết, và khi ấy phải săn ngoài bãi săn của bầy hay của bộ tộc mình. Lý do thật là vì hễ có thú ăn thịt người thì sớm muộn gì cũng có người cưỡi voi mang súng kéo tới, theo sau là hàng trăm người khác với chiêng, pháo và đuốc. Thế là cả khu rừng đều khổ. Còn lý do muông thú vẫn nói với nhau là Người yếu ớt nhất, không có gì tự vệ nhất trong mọi loài, đụng vào Người là không đường hoàng. Chúng còn bảo, mà điều này là thật, rằng thú ăn thịt người thì sinh ghẻ lở và rụng răng.

Tiếng gừ gừ to dần, rồi kết thúc bằng tiếng "Aaaạc!" vang dội của con hổ lao vồ.

Rồi có tiếng tru, một tiếng tru chẳng ra giọng hổ chút nào, từ Se-khan.

— Hắn vồ trượt rồi, — Sói Mẹ nói. — Cái gì thế nhỉ?

Sói Cha chạy ra vài bước, nghe Se-khan lầm bầm làu bàu dữ tợn trong lúc lăn lộn giữa bụi cây.

— Thằng ngu chẳng có tí đầu óc nào, nhảy bổ vào đống lửa trại của tiều phu, cháy cả chân, — Sói Cha càu nhàu. — Ta-ba-ki đang ở với hắn.

— Có gì đang lên dốc, — Sói Mẹ giật giật một bên tai. — Sẵn sàng đi.

Bụi cây trong lùm khẽ sột soạt. Sói Cha hạ thấp người, hai chân sau thu lại, sẵn sàng phóng tới. Và nếu lúc ấy bạn đứng xem, bạn sẽ thấy điều kỳ lạ nhất đời: con sói khựng lại giữa cú nhảy. Lão đã bật lên trước khi kịp nhìn mình nhảy vào cái gì, rồi mới cố hãm lại. Kết quả là lão vọt thẳng lên không trung chừng hơn một mét, rồi rơi xuống gần đúng chỗ cũ.

— Người! — lão gắt. — Một đứa con người. Nhìn kìa!

Ngay trước mặt lão, tay níu một cành cây thấp, là một đứa bé da nâu trần truồng vừa mới chập chững biết đi, mềm mại và có lúm đồng tiền nhất trong mọi sinh linh bé xíu từng tới một hang sói lúc nửa đêm. Nó ngước nhìn mặt Sói Cha, rồi bật cười.

— Đấy là con người à? — Sói Mẹ hỏi. — Ta chưa thấy bao giờ. Mang nó vào đây.

Một con sói quen tha con mình đi đây đi đó, nếu cần, có thể ngậm một quả trứng mà không vỡ. Hàm Sói Cha khép lại ngay trên lưng đứa bé, vậy mà không một chiếc răng nào làm xước da khi lão đặt nó xuống giữa bầy sói con.

— Bé tí thế này! Trần trụi thế này, mà lại gan dạ thế này! — Sói Mẹ nói dịu dàng.

Đứa bé đang len vào giữa bầy sói con để áp sát lớp lông ấm.

— A ha! Nó cũng bú cùng các con kìa. Vậy ra đây là con người. Có con sói nào từng khoe được rằng có một đứa con người giữa đàn con của mình chưa?

— Thỉnh thoảng ta cũng có nghe chuyện như thế, nhưng chưa bao giờ ở bầy ta, chưa bao giờ trong đời ta, — Sói Cha nói. — Người nó chẳng có tí lông nào, ta chỉ khẽ đạp một cái là chết. Nhưng nhìn xem, nó ngước lên mà không sợ.

Ánh trăng ở miệng hang bỗng bị che khuất. Cái đầu vuông to lớn và đôi vai của Se-khan đã chèn vào cửa hang. Đằng sau hắn, Ta-ba-ki eo éo:

— Thưa ngài, thưa ngài, nó chui vào đây!

— Se-khan chiếu cố tới thăm, thật là vinh dự cho chúng tôi, — Sói Cha nói, nhưng mắt lão rất giận. — Se-khan cần gì thế?

— Con mồi của ta. Một đứa con người vừa đi lối này, — Se-khan nói. — Cha mẹ nó chạy mất rồi. Đưa nó cho ta.

Đúng như Sói Cha đoán, Se-khan đã nhảy vào đống lửa trại của tiều phu, và đang điên tiết vì đôi chân bỏng rát. Nhưng Sói Cha biết miệng hang quá hẹp, hổ không vào nổi. Ngay chỗ hắn đứng, vai và hai chân trước của Se-khan đã chật cứng, như một người định đánh nhau trong cái thùng tô-nô vậy.

— Loài Sói là một dân tộc tự do, — Sói Cha nói. — Chúng ta nghe lệnh Đầu Đàn, chứ không nghe lệnh của bất cứ đứa giết bò vằn vện nào. Đứa con người là của chúng ta. Muốn giết thì chúng ta giết.

— Muốn với chẳng muốn! Nói gì đến chuyện muốn ở đây? Thề có con bò mà ta đã giết, chẳng lẽ ta phải đứng thò mũi vào cái ổ chó của các ngươi để đòi phần chính đáng của mình à? Chính ta, Se-khan, đang nói đây!

Tiếng gầm của con hổ làm cả hang rền như sấm. Sói Mẹ rũ mình ra khỏi bầy con, xông lên phía trước. Đôi mắt mụ như hai vầng trăng xanh trong bóng tối, đối diện đôi mắt rực lửa của Se-khan.

— Còn ta, Rắc-sa, Con Quỷ, ta trả lời ngươi đây. Đứa con người là của ta, Lung-gri ạ, của riêng ta! Không ai được giết nó. Nó sẽ sống, sẽ chạy cùng Bầy, săn cùng Bầy. Và rồi cuối cùng, nghe cho rõ đây, đồ săn con nít trần truồng, đồ ăn ếch, đồ giết cá kia, chính nó sẽ săn ngươi! Giờ thì cút đi, không thì thề có con nai sam-ba mà ta đã giết, ta không ăn thứ bò đói khát như ngươi, ngươi sẽ phải lết về với mẹ ngươi, đồ thú rừng bị bỏng, còn què hơn cả lúc mới chui ra đời! Cút!

Sói Cha đứng nhìn sững sờ. Lão gần như đã quên cái thời lão giành được Sói Mẹ sau một trận đánh sòng phẳng với năm con sói khác, cái thời mụ còn chạy trong Bầy và được gọi là Con Quỷ không phải để khen cho vui. Se-khan có thể dám đối đầu với Sói Cha, nhưng không dám đương đầu với Sói Mẹ. Hắn biết ở chỗ này mụ chiếm hết lợi thế địa hình, và mụ sẽ đánh tới chết. Thế là hắn vừa gầm gừ vừa lùi ra khỏi miệng hang. Ra tới ngoài, hắn quát lên:

— Chó nào sủa trong sân nhà nấy! Rồi xem Bầy nói gì về chuyện nuôi con người. Đứa bé là của ta, rốt cuộc nó cũng sẽ vào răng ta thôi, hỡi lũ ăn trộm đuôi rậm!

Sói Mẹ nằm vật xuống giữa đàn con, thở hổn hển. Sói Cha nghiêm giọng bảo mụ:

— Se-khan nói đúng được chừng ấy: đứa bé phải được đưa ra trình Bầy. Mẹ nó vẫn muốn giữ nó ư?

— Giữ nó! — mụ thở dốc. — Nó tới đây trần truồng, giữa đêm, một mình và đói lả, vậy mà không sợ! Nhìn kìa, nó đã đẩy một đứa con ta sang một bên rồi. Thế mà thằng đồ tể què ấy định giết nó, rồi chạy về Oai-gun-ga, để dân làng ở đây lùng sục mọi hang ổ của chúng ta mà trả thù! Giữ nó ư? Dĩ nhiên ta giữ. Nằm yên nào, chú ếch nhỏ. Hỡi Mô-gli, ta sẽ gọi con là Mô-gli, Chú Ếch, rồi sẽ có ngày con săn Se-khan như hắn đã săn con.

— Nhưng Bầy của chúng ta sẽ nói gì? — Sói Cha hỏi.

Luật Rừng nói rất rõ: con sói nào khi lấy vợ cũng có thể rời khỏi Bầy của mình. Nhưng hễ đàn con đã đứng vững trên chân, nó phải đưa chúng tới Hội Đồng Bầy, thường họp mỗi tháng một lần vào đêm trăng tròn, để những con sói khác nhận mặt. Sau buổi nhận mặt ấy, sói con được tự do chạy đi đâu tùy thích, và cho tới khi chúng tự giết được con nai đầu tiên, sói lớn nào trong Bầy giết một đứa trong số chúng đều không có lý do gì được tha thứ. Kẻ giết, nếu tìm ra, phải chịu tội chết. Nghĩ một chút bạn sẽ thấy luật như vậy là phải.

Sói Cha đợi tới khi đàn con chạy được một chút. Đến đêm họp Bầy, lão dẫn chúng cùng Mô-gli và Sói Mẹ tới Tảng Đá Hội Đồng, một đỉnh đồi đầy đá tảng lớn nhỏ, đủ chỗ cho cả trăm con sói nấp. A-kê-la, Con Sói Đơn Độc to lớn lông xám, kẻ dẫn dắt cả Bầy bằng sức mạnh và mưu trí, nằm duỗi dài trên tảng đá của mình. Bên dưới là bốn chục con sói hoặc hơn, đủ cỡ đủ màu, từ những lão sói kỳ cựu lông màu con lửng một mình hạ nổi một con nai, cho tới những con sói đen ba tuổi tưởng mình cũng làm được. Con Sói Đơn Độc đã dẫn Bầy được một năm. Hồi trẻ lão từng hai lần sa bẫy sói, một lần bị đánh tơi tả rồi bị bỏ mặc tưởng đã chết, nên lão biết rõ thói quen và cách làm của con người.

Trên Tảng Đá rất ít tiếng trò chuyện. Sói con lăn lộn đè lên nhau ở giữa vòng tròn, cha mẹ chúng ngồi quanh. Chốc chốc một lão sói lặng lẽ tới gần một con sói con, nhìn nó thật kỹ, rồi trở về chỗ, bước chân không một tiếng động. Thỉnh thoảng một sói mẹ lại đẩy con mình ra thật xa giữa ánh trăng, cho chắc là nó không bị bỏ sót. Từ trên tảng đá, A-kê-la cất tiếng:

— Các ngươi biết Luật rồi đấy. Các ngươi biết Luật rồi đấy. Nhìn cho kỹ, hỡi Bầy Sói!

Và những sói mẹ lo lắng lại hô theo:

— Nhìn đi, nhìn cho kỹ, hỡi Bầy Sói!

Cuối cùng, và lông gáy Sói Mẹ dựng lên khi tới lúc ấy, Sói Cha đẩy "Mô-gli Chú Ếch", như cả nhà vẫn gọi, ra giữa vòng. Thằng bé ngồi đó cười, nghịch mấy viên sỏi lấp lánh dưới trăng.

A-kê-la không hề ngẩng đầu khỏi hai chân trước, vẫn đều đều hô: "Nhìn cho kỹ!" Một tiếng gầm nghèn nghẹt vọng lên từ sau đám đá, giọng của Se-khan:

— Đứa bé là của ta. Đưa nó cho ta. Dân Tự Do thì dính dáng gì tới một đứa con người?

A-kê-la không động đậy cả vành tai. Lão chỉ nói:

— Nhìn cho kỹ, hỡi Bầy Sói! Dân Tự Do thì dính dáng gì tới mệnh lệnh của bất cứ ai ngoài Dân Tự Do? Nhìn cho kỹ!

Có tiếng gầm gừ trầm đục cất lên khắp nơi. Một con sói trẻ đang ở năm thứ tư ném câu hỏi của Se-khan về phía A-kê-la:

— Dân Tự Do thì dính dáng gì tới một đứa con người?

Luật Rừng định rằng, nếu có tranh cãi về quyền được nhận vào Bầy của một sói con, thì nó phải được ít nhất hai thành viên trong Bầy, không phải cha mẹ nó, đứng ra nói giúp.

— Ai nói giúp đứa bé này? — A-kê-la hỏi. — Trong Dân Tự Do, ai lên tiếng?

Không ai trả lời. Sói Mẹ chuẩn bị cho trận đánh mà mụ biết sẽ là trận cuối cùng của mình, nếu sự việc phải đi tới đánh nhau.

Bấy giờ, kẻ duy nhất khác được phép dự Hội Đồng Bầy đứng dậy trên hai chân sau, khụt khịt. Đó là Ba-lu, con gấu nâu ngái ngủ chuyên dạy Luật Rừng cho sói con. Lão Ba-lu già muốn đi đâu thì đi, vì lão chỉ ăn hạt, rễ cây và mật ong.

— Đứa con người à? Đứa con người à? — lão nói. — Ta nói giúp cho đứa con người. Đứa con người chẳng có hại gì. Ta không giỏi ăn nói, nhưng ta nói thật. Để nó chạy cùng Bầy, nhận nó vào như mọi đứa khác. Chính ta sẽ dạy nó.

— Còn cần một người nữa, — A-kê-la nói. — Ba-lu đã lên tiếng, mà Ba-lu là thầy dạy sói con. Ngoài Ba-lu, còn ai lên tiếng?

Một cái bóng đen rơi xuống giữa vòng tròn. Đó là Ba-ghi-ra, con Báo Đen. Nó đen tuyền như mực từ đầu tới chân, nhưng dưới vài thứ ánh sáng, những đốm báo lại hiện lên như vân trên tấm lụa. Ai cũng biết Ba-ghi-ra, và chẳng ai muốn chắn đường nó. Nó mưu mẹo như Ta-ba-ki, liều lĩnh như trâu rừng, bạt mạng như voi bị thương. Nhưng giọng nó lại êm như mật ong rừng nhỏ giọt từ trên cây, và bộ da nó mềm hơn lông tơ.

— Hỡi A-kê-la, và các ngươi, Dân Tự Do, — nó rù rì, — ta không có quyền gì trong hội đồng của các ngươi. Nhưng Luật Rừng nói rằng, nếu có điều còn ngờ vực về một sói con mới, mà chưa tới mức phải giết, thì mạng sống của sói con ấy có thể mua bằng một cái giá. Và Luật không nói ai được, ai không được trả cái giá đó. Ta nói vậy có đúng không?

— Đúng! Đúng! — đám sói trẻ, lúc nào cũng đói, nhao nhao. — Nghe Ba-ghi-ra đi. Đứa bé có thể chuộc bằng một cái giá. Luật là thế.

— Biết mình không có quyền nói ở đây, ta xin các ngươi cho phép.

— Nói đi, — hai chục giọng cùng kêu.

— Giết một đứa bé trần truồng là điều nhục nhã. Vả lại, khi lớn lên có khi nó lại giúp các ngươi săn được nhiều mồi hơn. Ba-lu đã nói giúp nó. Giờ, thêm vào lời của Ba-lu, ta xin góp một con bò mộng, một con béo, vừa mới hạ, nằm cách đây chưa tới nửa dặm, nếu các ngươi chịu nhận đứa con người theo đúng Luật. Có khó gì đâu?

Hàng chục giọng ồn ào cùng nói:

— Có sao đâu? Mùa mưa đông là nó chết thôi. Nắng là nó cháy khô thôi. Một con ếch trần truồng thì hại gì được chúng ta? Cho nó chạy cùng Bầy. Con bò đâu, Ba-ghi-ra? Nhận nó đi.

Rồi tiếng hú trầm của A-kê-la vang lên:

— Nhìn cho kỹ, nhìn cho kỹ, hỡi Bầy Sói!

Mô-gli vẫn mải mê với mấy viên sỏi, nó chẳng để ý khi những con sói lần lượt tới nhìn nó. Cuối cùng cả bầy kéo nhau xuống đồi tìm con bò chết, chỉ còn lại A-kê-la, Ba-ghi-ra, Ba-lu và gia đình sói của Mô-gli. Se-khan vẫn gầm trong đêm, vì hắn tức điên lên khi Mô-gli không được giao cho hắn.

— Ừ, cứ gầm cho đã đi, — Ba-ghi-ra nói nhỏ dưới bộ ria, — vì sẽ tới lúc cái thứ trần truồng này bắt ngươi gầm một điệu khác, nếu ta hiểu chút gì về con người.

— Làm thế là phải, — A-kê-la nói. — Con người và con cái họ rất khôn. Về sau có khi nó giúp được việc.

— Phải, giúp được lúc cần. Vì chẳng ai mong dẫn Bầy mãi mãi, — Ba-ghi-ra nói.

A-kê-la không nói gì. Lão đang nghĩ tới cái thời rồi sẽ đến với mọi đầu đàn của mọi bầy, khi sức lực rời bỏ nó, nó yếu dần, yếu dần, tới khi bị chính bầy sói giết chết, và một đầu đàn mới lên thay, để rồi tới lượt mình cũng bị giết.

— Mang nó đi, — lão bảo Sói Cha, — và dạy dỗ nó cho xứng là người của Dân Tự Do.

Thế là Mô-gli được nhận vào Bầy Sói Xi-ô-ni với giá một con bò mộng và một lời bảo lãnh tốt của Ba-lu.

— Hết chương 1 —

Mục lục Anh em của Mô-gli

  1. 1Đứa con người trong hang sói16 phút
  2. 2Bông Hoa ĐỏĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRudyard Kipling (1865 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Mowgli's Brothers, trong The Jungle Book, 1894
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →