Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Bà dì

của Hans Christian Andersen

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 10.786 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Giá mà các bạn được biết bà dì của…
  2. 1:39Dì tính giá trị một chỗ ở, tính xem…
  3. 3:12Dì được ông ấy báo trước, ngắn gọn mà…
  4. 4:47Đúng vào tối cuối cùng gác mái còn mở…
  5. 6:39Dì bảo:
  6. 8:22Tầng hai, bên trái, chỗ ấy xem phông cảnh…
  7. 10:18Ngày mai người ta diễn vở gì thế?

Giá mà các bạn được biết bà dì của tôi! Dì dễ thương lắm! Nói thế, nghĩa là dì chẳng dễ thương chút nào theo cái nghĩa người ta thường hiểu, nhưng dì hiền, dì tốt, dì vui theo kiểu của dì. Dì đúng là người để đem ra kể chuyện, khi người ta cần kể chuyện và cần chọc cười ai đó. Dì có thể bước thẳng vào một vở hài kịch, mà lý do duy nhất là dì sống vì nhà hát và vì tất cả những gì diễn ra trong ấy. Dì đứng đắn lắm, nhưng ông đại lý Phép, người mà dì gọi trại thành ông Phét, thì bảo dì là mê kịch tới phát cuồng.

Dì bảo:

— Nhà hát là trường học của tôi, là nguồn hiểu biết của tôi. Chuyện trong Kinh Thánh tôi ôn lại là nhờ nhà hát đấy. Ông Mô-sê, rồi Giô-xép và các anh, bây giờ đều thành nhạc kịch cả rồi! Lịch sử thế giới, địa lý, rồi cả chuyện hiểu lòng người, tôi đều học từ nhà hát! Nhờ mấy vở kịch Pháp mà tôi biết cuộc sống ở Pa-ri, hơi quá trớn một chút, nhưng mà hay lắm! Tôi đã khóc biết bao nhiêu khi xem vở Gia đình Ri-cơ-bua, cái anh chồng phải uống rượu cho tới chết để người vợ được lấy người yêu trẻ của mình! Ôi chao, năm mươi năm nay giữ vé xem cả mùa, tôi đã khóc bao nhiêu là nước mắt!

Dì thuộc từng vở kịch, từng tấm phông, từng người đã bước ra sân khấu, đang bước ra hay đã thôi không bước ra nữa. Dì chỉ thật sự sống trong chín tháng mùa diễn. Mùa hè không có kịch là quãng thời gian làm dì già đi, còn một tối xem kịch kéo dài quá nửa đêm thì là được sống thêm. Dì không nói như người khác: "Xuân sang rồi, con cò đã về!", hay "Báo đăng có dâu tây đầu mùa rồi đấy!". Dì thì lại báo tin mùa thu đến:

— Bà có thấy chưa, người ta đang bán đấu giá lô ghế nhà hát rồi, sắp vào mùa diễn rồi đấy!

Dì tính giá trị một chỗ ở, tính xem nó có tốt hay không, bằng cách đo xem nó gần nhà hát tới đâu. Dì buồn lắm khi phải rời con hẻm nhỏ sau nhà hát, dọn ra con phố lớn xa hơn một quãng, ở trong một ngôi nhà không có ai ở trước mặt.

— Ở nhà thì cái cửa sổ phải là lô ghế của mình chứ! Người ta đâu thể ngồi mãi mà nghĩ về bản thân, người ta phải được nhìn thấy người khác chứ! Bây giờ tôi ở cứ như là dọn về quê. Muốn nhìn thấy người, tôi phải xuống bếp, trèo lên ngồi trên bồn rửa, chỉ ở đấy mới có nhà đối diện. Chứ hồi còn ở trong hẻm, tôi nhìn thẳng được vào tận nhà ông bán lanh, mà tới nhà hát chỉ có ba bước chân. Giờ thì phải tới ba nghìn bước của lính cận vệ.

Dì có thể ốm, nhưng dù trong người khó chịu tới đâu, dì cũng không bỏ buổi diễn nào. Có lần ông thầy thuốc dặn tối ấy dì phải đắp bột chua dưới gan bàn chân. Dì làm đúng như lời dặn, nhưng rồi dì đánh xe tới nhà hát, ngồi xem kịch với bột chua dưới chân. Giá mà dì chết ở đó, hẳn dì sẽ mãn nguyện lắm. Nhà điêu khắc Tô-van-xen đã chết trong nhà hát, dì gọi thế là "chết lành".

Dì quả thật không thể hình dung nổi một Nước Trời mà lại không có nhà hát. Chuyện đó thì không ai hứa với chúng ta, nhưng cứ nghĩ mà xem, biết bao nhiêu nam diễn viên, nữ diễn viên tài giỏi đã đi trước, hẳn họ phải có chỗ mà tiếp tục làm nghề chứ.

Dì có một sợi dây điện tín nối từ nhà hát về tận phòng khách. Bức điện tới vào mỗi Chủ nhật, đúng giờ uống cà phê. Sợi dây điện tín ấy chính là "ông Xi-vớt-xen ở bộ phận máy móc sân khấu", người ra hiệu cho kéo màn lên, hạ màn xuống, đẩy phông vào, kéo phông ra.

Dì được ông ấy báo trước, ngắn gọn mà chắc nịch, về các vở sắp diễn. Vở Bão tố của Sếch-xpia thì ông gọi là "đồ khốn nạn! Bao nhiêu là thứ phải dựng, mà vừa mở màn đã có nước tràn tới tận cánh gà thứ nhất!". Ý ông là sóng cuồn cuộn lăn ra tới tận chỗ ấy. Còn vở nào mà suốt cả năm hồi chỉ dùng đúng một phông phòng khách, thì ông bảo vở ấy hợp lý, viết hay, là một vở để nghỉ ngơi, nó tự diễn lấy chẳng cần dựng gì.

Hồi xưa, cái hồi mà dì gọi là ba mươi mấy năm về trước, dì với ông Xi-vớt-xen vừa nhắc ở trên đều còn trẻ. Hồi ấy ông đã làm ở bộ phận máy móc, và dì gọi ông là "ân nhân" của dì. Số là thời đó có lệ: trong buổi diễn tối ở nhà hát lớn và duy nhất của thành phố, người ta cho cả khán giả lên ngồi trên gác mái sân khấu. Mỗi anh thợ máy được quyền cho một hai chỗ. Trên ấy lắm khi chật ních, toàn những người sang trọng. Người ta đồn có cả phu nhân các vị tướng, phu nhân các vị cố vấn thương mại. Thú vị lắm, được nhìn xuống sau cánh gà, được biết những con người kia đi đứng ra sao khi màn đã hạ.

Dì đã lên đó nhiều lần, xem cả bi kịch lẫn vũ kịch, vì những vở có đông người diễn nhất thì nhìn từ gác mái là thú nhất. Trên ấy người ta ngồi khá tối, phần đông đều mang theo bữa tối. Có một lần, ba quả táo với một lát bánh mì phết bơ kẹp thịt cuộn rơi tuột xuống ngay giữa nhà ngục của U-gô-li-nô, đúng cảnh con người ấy sắp chết đói, thế là cả khán phòng cười rộ lên. Lát thịt cuộn ấy là một trong những lý do nặng ký nhất khiến ban giám đốc đáng kính cho dẹp hẳn chỗ ngồi trên gác mái.

Dì bảo:

— Nhưng tôi đã lên đó ba mươi bảy lần, và chuyện đó tôi không bao giờ quên ơn ông Xi-vớt-xen.

Đúng vào tối cuối cùng gác mái còn mở cửa cho công chúng, người ta diễn vở Vua Xa-lô-mông xử án. Dì nhớ rõ lắm. Nhờ ân nhân Xi-vớt-xen, dì đã xin được cho ông đại lý Phép một tấm vé lên đấy, dù ông ta chẳng xứng đáng, vì lúc nào ông ta cũng giễu cợt nhà hát và nói móc nói máy. Nhưng dì vẫn xin cho ông ta lên. Ông ta muốn xem cái đồ nghề kịch từ mặt trái, chính ông ta nói thế, và câu ấy giống y tính ông ta, dì bảo.

Thế rồi ông ta ngồi trên cao xem Vua Xa-lô-mông xử án, và ngủ gật mất. Cứ ngỡ ông ta vừa dự một bữa tiệc lớn với bao nhiêu lần nâng cốc. Ông ta ngủ, và bị nhốt luôn ở trong, ngồi ngủ suốt đêm tối om trên gác mái nhà hát. Khi tỉnh dậy, ông ta kể lại, nhưng dì không tin. Ông ta kể rằng vở Vua Xa-lô-mông xử án đã hết, đèn đóm đã tắt cả, người ở trên ở dưới đã về hết, thế rồi mới bắt đầu vở kịch thật sự, vở kịch diễn sau cùng, và đó là vở hay nhất, ông đại lý bảo vậy. Đồ đạc sân khấu sống dậy cả! Không phải Vua Xa-lô-mông xử án nữa đâu, mà là Ngày Phán Xét Cuối Cùng ở nhà hát. Tất cả những chuyện ấy, ông đại lý Phép dám trơ tráo đem ra lừa dì. Ấy là cách ông ta cảm ơn dì đã xin cho lên gác mái.

Vậy ông đại lý kể những gì? Nghe thì cũng buồn cười thật, nhưng dưới đáy là cả ác ý lẫn sự châm chọc.

Ông đại lý kể:

— Trên ấy tối om. Thế rồi trò ma quỷ bắt đầu, một buổi diễn lớn, tên là Ngày Phán Xét ở nhà hát. Người soát vé đứng ở các cửa, và mỗi khán giả đều phải trình cuốn sổ hạnh kiểm tâm hồn của mình, để xem người ấy được vào với hai tay thả lỏng hay hai tay bị trói, có phải đeo rọ mõm hay không. Những quý ông quý bà tới muộn khi buổi diễn đã bắt đầu, cả những người trẻ tuổi vốn chẳng bao giờ giữ được đúng giờ, đều bị buộc lại ở ngoài, rồi được đóng đế nỉ vào chân để rón rén đi vào khi hồi sau bắt đầu, lại còn phải đeo rọ mõm nữa. Và thế là Ngày Phán Xét ở nhà hát bắt đầu.

Dì bảo:

— Toàn là ác ý, Chúa có biết đến những thứ ấy đâu!

Ông họa sĩ vẽ phông, nếu muốn lên thiên đàng, thì phải trèo lên một cái cầu thang do chính ông vẽ, mà chẳng ai bước chân lên nổi. Đó là tội phạm vào luật phối cảnh. Còn bao nhiêu cây cối, nhà cửa mà ông thợ máy chính đã vất vả dựng ở những xứ sở chúng chẳng hề thuộc về, thì con người khốn khổ ấy phải dời tất cả về đúng chỗ, và phải xong trước khi gà gáy, nếu muốn lên thiên đàng. Ông Phép cứ lo sao cho chính ông ta vào được thiên đàng đã. Còn những gì ông ta kể về các diễn viên, cả bên hài kịch lẫn bên bi kịch, cả bên hát lẫn bên múa, thì toàn là những điều đen tối nhất của ông Phép, ông Phét! Ông ta không đáng được lên gác mái. Dì không muốn nhắc lại lời ông ta. Ông ta bảo tất cả đã được viết ra rồi, đồ ba hoa ấy, và sẽ được in, nhưng phải đợi khi ông ta chết đi rồi, chứ không sớm hơn, ông ta chẳng dại gì để người ta lột da mình.

Dì chỉ có đúng một lần hoảng sợ, khốn đốn trong ngôi đền hạnh phúc của dì là nhà hát. Đó là một ngày mùa đông, một trong những ngày chỉ có hai giờ sáng mà trời thì xám xịt. Trời rét căm, tuyết rơi dày, nhưng dì vẫn phải tới nhà hát. Tối ấy diễn vở Héc-man phôn U-na, thêm một vở nhạc kịch nhỏ và một vở vũ kịch lớn, có cả lời mở màn lẫn lời kết. Buổi diễn sẽ kéo dài tới tận khuya. Dì nhất định phải đi. Người thuê trọ nhà dì cho dì mượn một đôi ủng đi xe trượt tuyết, có lông cả trong lẫn ngoài, cao lên tận đùi.

Dì tới nhà hát, vào lô ghế của mình. Đôi ủng ấm áp, dì cứ để nguyên trong chân. Bỗng có tiếng hô cháy. Khói bốc ra từ một tấm phông, khói bốc ra từ gác mái. Người ta hoảng loạn khủng khiếp. Ai nấy ùa ra cửa. Dì là người cuối cùng còn lại trong lô.

— Tầng hai, bên trái, chỗ ấy xem phông cảnh đẹp nhất. Bao giờ người ta cũng dựng phông sao cho nhìn từ phía hoàng gia là đẹp nhất mà.

Dì vẫn bảo thế. Dì muốn ra, nhưng những người đi trước, vì sợ hãi mà quên mất mọi điều, đã sập cửa lại. Dì ngồi kẹt ở đó, ra không được, mà vào cũng không được, nghĩa là không sang được lô bên cạnh, vì lan can cao quá. Dì kêu, chẳng ai nghe. Dì nhìn xuống tầng dưới, tầng ấy trống trơn, thấp thôi, gần lắm. Trong cơn sợ, dì thấy mình trẻ lại, nhẹ nhõm hẳn. Dì định nhảy xuống, và đã kịp gác một chân qua lan can, chân kia vẫn còn trên ghế. Thế là dì ngồi cưỡi trên lan can như cưỡi ngựa, váy hoa xoè ra thật đẹp, một cái chân dài thòng hẳn ra ngoài khoảng không, một cái chân xỏ trong chiếc ủng to tướng. Thật đáng để nhìn! Và khi người ta nhìn thấy dì, người ta cũng nghe thấy dì, và dì được cứu thoát khỏi bị thiêu sống, mà thật ra nhà hát cũng chẳng cháy.

Dì bảo đó là buổi tối đáng nhớ nhất trong đời dì. Dì mừng là lúc ấy dì không nhìn thấy được chính mình, chứ nếu thấy, chắc dì đã chết vì xấu hổ.

Ân nhân của dì ở bộ phận máy móc, ông Xi-vớt-xen, vẫn đều đặn tới thăm mỗi Chủ nhật. Nhưng từ Chủ nhật này tới Chủ nhật sau thì lâu quá. Vì vậy về sau, vào giữa tuần, dì nhận một đứa bé tới ăn "phần thừa", nghĩa là ăn những gì còn lại sau bữa trưa hôm ấy. Đó là một đứa bé trong đoàn múa, cũng đang cần miếng ăn. Con bé đóng cả vai tiên lẫn vai tiểu đồng. Vai khó nhất của nó là làm hai chân sau con sư tử trong vở Cây sáo thần, nhưng rồi nó lớn lên và được lên làm hai chân trước. Vai ấy chỉ được ba mác, trong khi hai chân sau được trả một đồng đại tệ, nhưng làm chân sau thì phải đi khom lưng suốt và chẳng được hít thở khí trời. Dì cho rằng những chuyện như thế biết được thật là thú vị.

Dì đáng được sống chừng nào nhà hát còn đứng vững, nhưng rốt cuộc dì không sống được lâu đến thế. Dì cũng không chết trong nhà hát, mà chết tử tế, đàng hoàng trên chính giường mình. Mà lời cuối cùng của dì lại rất có ý nghĩa. Dì hỏi:

— Ngày mai người ta diễn vở gì thế?

Sau khi dì mất, để lại chừng năm trăm đồng đại tệ. Chúng tôi đoán thế, căn cứ vào tiền lãi mỗi năm là hai mươi đồng. Dì đã định dành số tiền ấy làm một quỹ cho một bà cô già đứng đắn, không có gia đình. Tiền lãi mỗi năm sẽ dùng để mua vé xem cả mùa, một chỗ ở tầng hai, phía bên trái, vào các tối thứ bảy, vì tối thứ bảy người ta diễn những vở hay nhất. Người được hưởng quỹ ấy chỉ phải giữ đúng một điều: mỗi tối thứ bảy, ngồi trong nhà hát, phải nhớ tới dì, người đang nằm dưới mộ.

Đó là tôn giáo của dì.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHans Christian Andersen (1805 – 1875)
Năm mất1875
Xuất bản lần đầu1866
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Moster, 1866
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →