Truyện Đỉnh

😄 Truyện cười dân gian

Bà Mác-uy-li-am và sấm sét

của Mark Twain

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 12.954 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ông Mác-uy-li-am kể tiếp, vì đây không phải đoạn…
  2. 1:42“Anh định bảo là anh vẫn còn nằm trên…
  3. 3:19Xẹt! Rầm! Ầm, đùng, ùng ục, đùng đùng!
  4. 5:05Xẹt! Ầm, ùng oàng, ầm! Ầm! Đoàng!
  5. 6:07“Đang tìm đầu trên của cái quần.”
  6. 8:07Tôi cố chui vào, nhưng cái tủ nhỏ không…
  7. 9:47“Moóc-ti-mơ, sách viết: ‘Während eines Gewitters entferne man Metalle,…
  8. 11:50Tôi đứng trên ghế, rung cái chuông khủng khiếp…

Ông Mác-uy-li-am kể tiếp, vì đây không phải đoạn mở đầu câu chuyện của ông:

Đấy, thưa anh, sợ sấm sét là một trong những tật khổ sở nhất mà một con người có thể mắc phải. Nó chủ yếu chỉ có ở đàn bà, nhưng thỉnh thoảng anh cũng gặp nó ở một con chó nhỏ, và đôi khi ở một người đàn ông. Đó là một cái tật đặc biệt khổ sở, vì nó rút sạch gan dạ của người ta theo cái cách không nỗi sợ nào khác làm được. Mà anh không thể lấy lý lẽ ra mà thuyết phục nó, cũng không thể làm cho người ta xấu hổ mà bỏ nó đi. Một người đàn bà dám đối mặt với cả quỷ sứ, hay với một con chuột, cũng mất hết bình tĩnh, rã rời cả ra trước một tia chớp. Nỗi sợ hãi của bà ấy trông đến là thương.

Thì đấy, như tôi đang kể với anh, tôi tỉnh dậy, bên tai vẳng tiếng kêu “Moóc-ti-mơ! Moóc-ti-mơ!” nghe nghèn nghẹt, không biết từ đâu vọng tới. Vừa gom được tỉnh táo, tôi quờ tay trong bóng tối, rồi nói:

“Ê-van-giơ-lin, em gọi anh đấy à? Có chuyện gì thế? Em đang ở đâu?”

“Em đang nhốt mình trong tủ để giày. Anh phải biết xấu hổ chứ, đang có cơn dông khủng khiếp thế này mà còn nằm đấy ngủ say như thế.”

“Ơ kìa, đang ngủ thì làm sao mà biết xấu hổ được? Vô lý quá. Người ta không thể xấu hổ khi đang ngủ, Ê-van-giơ-lin ạ.”

“Anh có bao giờ chịu cố đâu, Moóc-ti-mơ. Anh biết thừa là anh chẳng bao giờ chịu cố.”

Tôi nghe thấy tiếng nức nở bị nén lại.

Tiếng nức nở ấy làm tắt ngấm câu nói gay gắt đã ở trên đầu lưỡi tôi, và tôi đổi thành:

“Anh xin lỗi, em yêu, anh thật lòng xin lỗi. Anh không cố ý cư xử như vậy. Em quay lại đây và...”

“MOÓC-TI-MƠ!”

“Trời ơi! Có chuyện gì thế, em yêu?”

“Anh định bảo là anh vẫn còn nằm trên cái giường ấy à?”

“Ơ, dĩ nhiên rồi.”

“Ra khỏi đấy ngay lập tức. Em tưởng ít ra anh cũng phải giữ gìn mạng sống của mình một chút chứ, vì em, vì các con, nếu anh không chịu giữ vì bản thân anh.”

“Nhưng em yêu...”

“Đừng nói với em, Moóc-ti-mơ. Anh biết thừa là trong cơn dông như thế này, không chỗ nào nguy hiểm bằng cái giường. Sách nào cũng viết thế. Vậy mà anh cứ nằm đấy, cố tình vứt bỏ mạng sống của mình, vì cái gì thì có Trời biết, chắc là để được cãi, cãi mãi, và...”

“Nhưng chết tiệt, Ê-van-giơ-lin, bây giờ anh có nằm trên giường nữa đâu. Anh đang...”

Câu nói bị cắt ngang bởi một tia chớp loé sáng bất ngờ, tiếp theo là một tiếng kêu nhỏ đầy khiếp hãi của bà Mác-uy-li-am, rồi một tiếng sấm nổ vang trời.

“Đấy! Anh thấy hậu quả chưa. Ôi, Moóc-ti-mơ, sao anh có thể sa đọa tới mức buông lời chửi thề vào lúc như thế này?”

“Anh có chửi thề đâu. Mà dù sao đó cũng không phải là hậu quả của việc ấy. Anh có không nói một lời nào thì nó vẫn đến y như thế. Mà em biết thừa, Ê-van-giơ-lin ạ, ít ra em cũng phải biết, rằng khi không khí tích đầy điện thì...”

“Ồ, phải rồi, giờ thì cãi đi, cãi nữa đi, cãi mãi đi! Em không hiểu sao anh có thể cư xử như thế, khi anh biết thừa là nhà mình không có lấy một cái cột thu lôi, mà vợ con tội nghiệp của anh hoàn toàn phó mặc cho Trời. Anh đang làm gì thế? Quẹt diêm vào lúc như thế này à! Anh điên hẳn rồi à?”

“Khỉ thật, bà ơi, thế thì có hại gì? Nhà tối như trong bụng kẻ vô đạo, và...”

“Thổi tắt đi! Thổi tắt ngay! Anh quyết tâm hy sinh cả nhà à? Anh biết thừa là không gì hút sét bằng ánh sáng.”

Xẹt! Rầm! Ầm, đùng, ùng ục, đùng đùng!

“Ôi, nghe kìa! Giờ thì anh thấy anh đã làm gì chưa!”

“Không, anh không thấy anh đã làm gì cả. Một que diêm có thể hút sét, anh không biết chắc, nhưng nó không làm ra sét, cái này anh dám cá. Mà lần này nó cũng chẳng hút được tí sét nào. Vì nếu phát ấy nhắm vào que diêm của anh, thì đúng là bắn dở tệ, anh đoán tỷ lệ trúng chừng không trên một triệu. Này nhé, ở Đô-li-mao mà ai bắn kém như thế thì...”

“Xấu hổ chưa, Moóc-ti-mơ! Chúng mình đang đứng ngay trước mặt tử thần, vậy mà vào giờ phút thiêng liêng thế này anh vẫn có thể ăn nói như thế. Nếu anh không muốn... Moóc-ti-mơ!”

“Gì nữa?”

“Tối nay anh đã đọc kinh chưa?”

“Anh, anh định đọc, nhưng anh lại mải tính xem mười hai nhân mười ba là bao nhiêu, và...”

Xẹt! Ầm, ầm ầm, ùng ục ùng ục, đùng! Rầm!

“Ôi, chúng mình tiêu rồi, hết đường cứu rồi! Sao anh lại có thể sao nhãng việc ấy vào lúc như thế này?”

“Nhưng lúc ấy có phải là lúc như thế này đâu. Trời không một gợn mây. Làm sao anh biết được chỉ vì một sơ suất nhỏ như thế mà lại sinh ra cả cái trận ầm ĩ, náo loạn này? Mà anh nghĩ em làm to chuyện như thế cũng không công bằng lắm, vì chuyện ấy hiếm khi xảy ra. Từ cái lần anh gây ra trận động đất bốn năm trước tới giờ, anh chưa bỏ đọc kinh lần nào.”

“MOÓC-TI-MƠ! Anh ăn nói thế à! Anh quên vụ dịch sốt vàng da rồi à?”

“Em yêu, lúc nào em cũng đem vụ sốt vàng da ra đổ cho anh, mà anh thấy thế là hoàn toàn vô lý. Đến bức điện báo còn không đi nổi tới Mem-phít nếu không có trạm chuyển tiếp, thì làm sao một sơ suất nhỏ trong việc đọc kinh của anh lại đi xa được tới thế? Vụ động đất thì anh chịu, vì nó xảy ra quanh đây. Nhưng anh mà phải chịu trách nhiệm cho mọi cái thứ chết tiệt...”

Xẹt! Ầm, ùng oàng, ầm! Ầm! Đoàng!

“Ôi, trời, trời, trời ơi! Em biết là nó đánh trúng cái gì rồi, Moóc-ti-mơ. Chúng mình sẽ không bao giờ được thấy ánh sáng của một ngày mới nữa. Và nếu khi chúng mình chết rồi, anh nhớ ra cho được rằng cái lối ăn nói khủng khiếp của anh... Moóc-ti-mơ!”

“GÌ! Gì nữa đây?”

“Giọng anh nghe như thể... Moóc-ti-mơ, có phải anh đang đứng trước cái lò sưởi để ngỏ kia không?”

“Đúng là anh đang phạm chính cái tội ấy đấy.”

“Tránh xa nó ra, ngay lập tức. Có vẻ như anh quyết tâm mang tai hoạ tới cho cả nhà. Anh không biết là không có gì dẫn sét tốt bằng một cái ống khói để ngỏ à? Giờ anh lại đi đâu rồi?”

“Anh ở đây, cạnh cửa sổ.”

“Ôi, lạy Trời, anh mất trí rồi à? Ra khỏi chỗ ấy ngay. Đến đứa trẻ còn bế ngửa cũng biết đứng gần cửa sổ lúc trời dông là chết. Trời ơi, trời ơi, em biết chắc là em sẽ không bao giờ được thấy ánh sáng của một ngày mới nữa. Moóc-ti-mơ?”

“Ừ?”

“Cái gì sột soạt thế?”

“Anh đấy.”

“Anh đang làm gì?”

“Đang tìm đầu trên của cái quần.”

“Nhanh lên! Vứt mấy thứ ấy đi! Em tin là anh sẽ cố tình mặc quần áo vào lúc như thế này. Trong khi anh biết thừa là mọi nhà chuyên môn đều nhất trí rằng đồ len hút sét. Ôi, trời ơi, trời ơi, mạng sống người ta bị đe doạ vì thiên tai như thế còn chưa đủ, anh còn phải làm mọi thứ anh nghĩ ra được để tăng thêm nguy hiểm. Ôi, đừng hát! Anh nghĩ gì thế hả?”

“Thế hát thì có hại gì?”

“Moóc-ti-mơ, em đã nói với anh một lần rồi, em đã nói trăm lần rồi, hát gây ra rung động trong không khí, cản trở dòng chảy của chất lỏng điện, và... Anh mở cái cửa ấy ra làm cái quái gì thế?”

“Trời đất ơi, bà ơi, cái đó cũng có hại à?”

“Có hại à? Có chết người ấy chứ! Ai chịu để tâm tới chuyện này một chút đều biết tạo ra gió lùa là mời sét vào nhà. Anh mới đóng được một nửa. Đóng chặt vào, mà nhanh lên, không thì cả nhà chết hết. Ôi, bị nhốt chung với một thằng điên vào lúc như thế này thì thật khủng khiếp. Moóc-ti-mơ, anh đang làm gì thế?”

“Có gì đâu. Mở vòi nước thôi. Phòng này nóng ngột ngạt quá. Anh muốn rửa mặt rửa tay.”

“Anh mất nốt chút trí khôn còn lại rồi! Sét đánh vào thứ gì khác một lần thì đánh vào nước năm mươi lần. Khoá vòi lại ngay. Ôi, trời ơi, em chắc chắn là chẳng có gì trên đời này cứu nổi chúng mình. Em thấy dường như... Moóc-ti-mơ, cái gì thế?”

“Cái bức tran... à, cái bức tranh. Anh làm rơi nó.”

“Thế là anh đang đứng sát tường! Em chưa bao giờ nghe thấy ai liều lĩnh như thế! Anh không biết là không gì dẫn sét tốt bằng bức tường à? Tránh ra khỏi đấy! Mà anh lại suýt chửi thề nữa chứ. Ôi, sao anh có thể độc ác tuyệt vọng đến thế, trong khi gia đình anh đang lâm nguy thế này? Moóc-ti-mơ, anh đã đặt mua cái đệm lông vũ như em dặn chưa?”

“Chưa. Anh quên mất.”

“Quên mất! Có khi anh phải trả giá bằng mạng sống đấy. Giá bây giờ có cái đệm lông vũ, trải ra giữa phòng mà nằm lên, thì anh sẽ hoàn toàn an toàn. Vào đây, vào ngay, trước khi anh kịp làm thêm điều dại dột điên rồ nào nữa.”

Tôi cố chui vào, nhưng cái tủ nhỏ không chứa nổi hai người nếu đóng cửa lại, trừ phi chúng tôi bằng lòng chết ngạt. Tôi thở hổn hển một lúc, rồi cố chen ra. Vợ tôi gọi:

“Moóc-ti-mơ, phải làm gì đó để giữ mạng cho anh. Đưa em cuốn sách tiếng Đức ở đầu bệ lò sưởi, với một cây nến, nhưng đừng thắp. Đưa em que diêm, em sẽ thắp trong này. Cuốn sách ấy có ghi cách phòng sét.”

Tôi lấy được cuốn sách, cái giá phải trả là một chiếc bình hoa và mấy thứ dễ vỡ khác. Bà xã tôi nhốt mình trong tủ với cây nến. Tôi được yên thân một lát, rồi bà ấy gọi:

“Moóc-ti-mơ, cái gì thế?”

“Con mèo thôi.”

“Con mèo! Ôi, chết rồi! Bắt nó lại, nhốt vào cái tủ rửa mặt. Nhanh lên, anh yêu. Mèo đầy điện trong người. Em biết chắc tóc em sẽ bạc trắng sau những hiểm nguy khủng khiếp đêm nay.”

Tôi lại nghe tiếng nức nở bị nén lại. Nếu không vì thế, tôi chẳng đời nào động tay động chân vào một cuộc mạo hiểm điên rồ như thế trong bóng tối.

Tuy nhiên, tôi bắt tay vào việc, vượt qua ghế, va vào đủ mọi thứ chướng ngại, toàn những thứ cứng, mà phần lớn có cạnh sắc. Cuối cùng tôi cũng nhốt được con mèo vào tủ, với cái giá hơn bốn trăm đô la đồ đạc vỡ và ống chân sứt sẹo. Rồi từ trong tủ vọng ra những lời nghèn nghẹt:

“Sách bảo an toàn nhất là đứng trên một cái ghế giữa phòng, Moóc-ti-mơ ạ. Mà chân ghế phải được cách điện bằng vật không dẫn điện. Tức là phải đặt chân ghế vào trong cốc thuỷ tinh.”

Xẹt! Ầm! Đoàng! Rầm!

“Ôi, nghe kìa! Nhanh lên, Moóc-ti-mơ, kẻo bị sét đánh bây giờ.”

Tôi tìm được mấy cái cốc và lấy được. Tôi giữ được bốn cái cuối cùng, đánh vỡ hết những cái còn lại. Tôi đặt chân ghế vào cốc cách điện, rồi xin chỉ thị tiếp.

“Moóc-ti-mơ, sách viết: ‘Während eines Gewitters entferne man Metalle, wie Ringe, Uhren, Schlüssel’, vân vân. Thế nghĩa là gì, Moóc-ti-mơ? Nghĩa là phải giữ kim loại ở trên người, hay phải để kim loại xa người?”

“Ừm, anh cũng không rõ lắm. Câu này có vẻ hơi lộn xộn. Lời khuyên nào bằng tiếng Đức cũng lộn xộn ít nhiều. Tuy vậy anh nghĩ câu ấy chủ yếu ở tặng cách, có rắc thêm chút sở hữu cách với đối cách vào chỗ này chỗ kia cho may mắn. Nên anh đoán nó có nghĩa là phải giữ ít kim loại trên người.”

“Phải, chắc là thế rồi. Nghĩ cũng thấy hợp lý. Chúng giống như cột thu lôi ấy mà. Anh đội cái mũ lính cứu hoả của anh vào đi, Moóc-ti-mơ, nó gần như toàn bằng kim loại.”

Tôi lấy mũ đội lên. Một thứ nặng nề, cồng kềnh, khó chịu kinh khủng trong một đêm nóng nực, trong một căn phòng ngột ngạt. Đến cái áo ngủ tôi cũng thấy là mặc nhiều hơn mức cần thiết.

“Moóc-ti-mơ, em nghĩ phải bảo vệ phần giữa người anh. Anh đeo thanh gươm dân quân vào đi.”

Tôi tuân lệnh.

“Giờ, Moóc-ti-mơ, anh phải có cách gì bảo vệ đôi chân. Anh làm ơn đeo cặp đinh thúc ngựa vào đi.”

Tôi đeo vào, lặng thinh, cố giữ bình tĩnh hết mức.

“Moóc-ti-mơ, sách viết: ‘Das Gewitter läuten ist sehr gefährlich’, vân vân. Moóc-ti-mơ, thế có phải nghĩa là lúc dông bão mà không rung chuông nhà thờ thì nguy hiểm không?”

“Phải, có vẻ nghĩa là thế, nếu đấy là quá khứ phân từ của danh cách số ít, mà anh đoán là thế. Phải, anh nghĩ nó có nghĩa là vì tháp nhà thờ cao, lại thiếu gió lùa, nên lúc trời dông mà không rung chuông thì rất nguy hiểm, sehr gefährlich. Hơn nữa, em không thấy à, chính cách đặt câu...”

“Thôi khỏi, Moóc-ti-mơ. Đừng phí thời gian quý báu vào chuyện ấy. Lấy cái chuông to báo giờ ăn ấy, ngay ngoài hành lang đấy. Nhanh lên, Moóc-ti-mơ yêu quý, chúng mình gần an toàn rồi. Ôi, trời ơi, em tin là cuối cùng chúng mình sắp được cứu rồi!”

Ngôi nhà nghỉ hè nho nhỏ của chúng tôi nằm trên đỉnh một dãy đồi cao, nhìn xuống thung lũng. Quanh đó có mấy ngôi nhà trại, nhà gần nhất cách chừng ba bốn trăm mét.

Tôi đứng trên ghế, rung cái chuông khủng khiếp ấy được chừng bảy tám phút, thì bỗng cánh cửa chớp nhà tôi bị giật tung từ bên ngoài, một chiếc đèn bão sáng choang thò qua cửa sổ, tiếp theo là một giọng khàn khàn hỏi:

“Ở đây xảy ra chuyện quái quỷ gì thế?”

Khung cửa sổ đầy những cái đầu đàn ông, và những cái đầu ấy đầy những con mắt trợn tròn nhìn bộ áo ngủ và đống đồ binh khí của tôi.

Tôi buông cái chuông, bối rối nhảy xuống khỏi ghế, và nói:

“Chẳng có chuyện gì đâu, các bạn ạ. Chỉ hơi khó chịu một chút vì cơn dông thôi. Tôi đang tìm cách xua sét đi.”

“Dông à? Sét à? Ơ kìa, ông Mác-uy-li-am, ông mất trí rồi à? Đêm nay trời đầy sao đẹp thế kia mà. Có cơn dông nào đâu.”

Tôi nhìn ra ngoài, kinh ngạc tới mức một lúc lâu không nói nên lời. Rồi tôi nói:

“Tôi không hiểu nổi. Chúng tôi thấy rõ ràng ánh chớp loé qua rèm cửa và cửa chớp, và nghe thấy tiếng sấm.”

Thế là từng người một trong bọn họ lăn ra đất mà cười, và hai người trong số đó cười chết luôn. Một người còn sống sót nói:

“Tiếc là ông không nghĩ ra mà mở cửa chớp nhìn sang đỉnh đồi cao đằng kia. Cái ông nghe là tiếng đại bác, cái ông thấy là ánh lửa đại bác. Ông biết không, đúng nửa đêm có điện báo đưa tin về: ông Gác-phin được đề cử ra tranh chức tổng thống rồi, chuyện là thế đấy!”

Ông Mác-uy-li-am nói: “Vâng, thưa ông Tuên, như tôi đã nói từ đầu, các quy tắc phòng sét cho con người tuyệt vời và nhiều vô kể tới mức, với tôi, điều khó hiểu nhất trên đời là làm sao lại có người bị sét đánh được.”

Nói xong, ông xách túi, cầm ô, và xuống tàu, vì tàu đã tới thị trấn của ông.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1880
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Mrs. McWilliams and the Lightning, Mark Twain, 1880, bản in trong tập Merry Tales (Project Gutenberg số 60900)
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →