Tôi không nghĩ chúng tôi từng biết tên thật của gã. Việc không biết ấy chắc chắn chẳng bao giờ gây phiền phức gì trong giao thiệp, vì ở Bãi Cát năm một nghìn tám trăm năm mươi tư, hầu hết đàn ông đều được đặt tên mới. Đôi khi những cái tên ấy bắt nguồn từ một nét đặc biệt trong cách ăn mặc, như trường hợp Giắc Quần Vải Thô. Hoặc từ một thói quen kỳ quặc nào đó, như Bin Bột Nở, gọi thế vì bánh mì hằng ngày của hắn có quá nhiều thứ bột ấy. Hoặc từ một lần lỡ lời không may, như Gã Cướp Biển Sắt, một người hiền lành vô hại, mang cái danh hiệu đáng sợ ấy chỉ vì đọc nhầm tên một thứ quặng sắt. Có lẽ đó là khởi đầu của một nền gia huy thô sơ. Nhưng tôi buộc phải nghĩ rằng đó là vì thời ấy, tên thật của một người chỉ dựa vào lời khai không ai xác nhận của chính hắn.
– Mày tự xưng là Clíp-phớt à? – Gã Bô-xtơn nói với một người mới tới nhút nhát, giọng khinh bỉ vô hạn. – Địa ngục đầy những thằng Clíp-phớt như mày!
Rồi gã giới thiệu người đàn ông xấu số, mà tên thật lại đúng là Clíp-phớt, là Sác-li Chim Giẻ Cùi, một cảm hứng báng bổ chợt nảy ra, rồi bám lấy anh ta mãi về sau.
Nhưng trở lại với bạn của Ten-nét-xi, người mà chúng tôi chưa bao giờ biết tới bằng cái tên nào khác ngoài cái danh xưng gắn với người khác ấy. Mãi về sau chúng tôi mới biết gã từng tồn tại như một con người riêng biệt. Có vẻ là năm một nghìn tám trăm năm mươi ba, gã rời Bãi Bạc đi Xan Phran-xít-xcô, bề ngoài là để kiếm vợ. Gã chẳng bao giờ đi xa hơn Xtốc-tơn. Ở đó, gã bị một cô gái hầu bàn ở khách sạn nơi gã ăn cơm hớp hồn. Một buổi sáng, gã nói với cô điều gì đó, khiến cô mỉm cười không chút ác ý, hơi lẳng lơ đập vỡ đĩa bánh mì nướng lên khuôn mặt nghiêm trang chất phác đang ngẩng lên của gã, rồi lui vào bếp. Gã theo cô vào, và vài phút sau đi ra, người phủ thêm bánh mì nướng và chiến thắng. Đúng một tuần sau, họ làm lễ cưới trước một ông thẩm phán hoà giải, rồi trở về Bãi Bạc. Tôi biết chuyện này có thể kể dài thêm, nhưng tôi thích kể nó đúng như người ta vẫn kể ở Bãi Cát, trong các khe núi và quán rượu, nơi mọi tình cảm đều được điều chỉnh bằng một óc hài hước mạnh mẽ.
Về hạnh phúc vợ chồng của họ thì người ta biết rất ít, có lẽ vì một hôm Ten-nét-xi, khi ấy đang sống chung với bạn mình, đã nhân dịp nói với cô dâu một điều gì đó của riêng gã. Người ta kể rằng cô mỉm cười không chút ác ý, rồi đoan trang lui đi, lần này xa tới tận Me-ri-vin, nơi Ten-nét-xi theo cô tới, và ở đó hai người dọn về sống chung với nhau chẳng cần tới ông thẩm phán hoà giải nào. Bạn của Ten-nét-xi chịu mất vợ một cách giản dị và nghiêm trang, đúng như tính gã. Nhưng mọi người đều ngạc nhiên khi một hôm Ten-nét-xi từ Me-ri-vin trở về mà không có vợ của bạn mình, vì cô đã mỉm cười và lui đi với một người khác, thì bạn của Ten-nét-xi lại là người đầu tiên bắt tay gã và chào đón gã trìu mến. Đám đàn ông đã tụ tập trong hẻm núi để xem bắn nhau dĩ nhiên rất bất bình. Sự bất bình của họ có lẽ đã tuôn ra thành lời mỉa mai, nếu không có một ánh mắt nào đó của bạn Ten-nét-xi, cho thấy gã chẳng thấy chuyện này có gì đáng cười. Thật ra gã là một người nghiêm trang, chuyên tâm vào những chi tiết thực tế một cách kiên định, điều chẳng dễ chịu chút nào khi có chuyện xích mích.
Trong khi đó, ở Bãi Cát đã dấy lên một làn sóng bất bình với Ten-nét-xi. Ai cũng biết gã là dân cờ bạc. Người ta ngờ gã là kẻ cắp. Trong những nghi ngờ ấy, bạn của Ten-nét-xi cũng bị liên luỵ như vậy. Việc gã tiếp tục thân thiết với Ten-nét-xi sau vụ việc vừa kể chỉ có thể giải thích bằng giả thuyết hai người là đồng bọn. Cuối cùng tội của Ten-nét-xi đã rành rành. Một hôm gã đuổi kịp một người lạ đang trên đường tới Chó Đỏ. Người lạ về sau kể lại rằng Ten-nét-xi đã kể cho anh ta nghe những giai thoại và kỷ niệm thú vị để giết thời gian, nhưng lại kết thúc câu chuyện một cách chẳng hợp lẽ chút nào bằng những lời sau:
– Còn bây giờ, anh bạn trẻ, phiền anh đưa tôi con dao, mấy khẩu súng và tiền của anh. Anh thấy đấy, vũ khí của anh có thể khiến anh gặp rắc rối ở Chó Đỏ, còn tiền của anh là cám dỗ cho những kẻ có ý xấu. Hình như anh bảo địa chỉ của anh ở Xan Phran-xít-xcô. Tôi sẽ cố ghé thăm.
Ở đây có thể nói rằng Ten-nét-xi có óc hài hước dồi dào, không công việc bận rộn nào dập tắt được hoàn toàn.
Đó là chiến công cuối cùng của gã. Chó Đỏ và Bãi Cát cùng nhau chống lại tên cướp đường. Ten-nét-xi bị săn đuổi gần như người ta săn một con gấu xám, loài vật mà gã giống như đúc. Khi vòng vây khép lại, gã liều mạng phi ngựa xuyên qua Bãi Cát, bắn hết đạn vào đám đông trước quán rượu Ác-cát, rồi chạy ngược lên Hẻm Gấu Xám. Nhưng tới đầu kia hẻm, gã bị một người đàn ông nhỏ con cưỡi ngựa xám chặn lại. Hai người nhìn nhau im lặng một lúc. Cả hai đều không biết sợ, đều điềm tĩnh và độc lập, và đều là mẫu người của một nền văn minh mà ở thế kỷ mười bảy người ta sẽ gọi là anh hùng, còn ở thế kỷ mười chín thì chỉ gọi là liều lĩnh.
– Anh có bài gì đấy? Tôi theo, – Ten-nét-xi nói nhỏ nhẹ.
– Hai con bồi và một con át, – người lạ cũng nói nhỏ nhẹ, chìa ra hai khẩu súng lục và một con dao găm.
– Thế thì tôi thua, – Ten-nét-xi đáp.
Và với câu nói gọn gàng của dân cờ bạc ấy, gã vứt khẩu súng vô dụng đi, cưỡi ngựa trở về cùng người bắt mình.
Đó là một đêm nóng nực. Làn gió mát vẫn thường nổi lên khi mặt trời lặn sau rặng núi phủ bụi gai, tối hôm ấy không chịu tới Bãi Cát. Hẻm núi nhỏ ngột ngạt mùi nhựa thông bị hun nóng, và đống gỗ trôi mục nát trên bãi bốc lên những mùi khó chịu, buồn nôn. Cơn sốt của ban ngày và những đam mê dữ dội của nó vẫn tràn ngập khu trại. Những ánh đèn di chuyển bồn chồn dọc bờ sông, không in được bóng nào trên dòng nước vàng đục. Trên nền đen của rừng thông, những ô cửa sổ của căn gác cũ phía trên văn phòng chuyển hàng sáng rực lên. Và qua những ô kính không rèm, đám người đứng vạ vật bên dưới có thể thấy bóng những người đang quyết định số phận của Ten-nét-xi. Và trên tất cả, in lên bầu trời tối, dãy Xi-ê-ra sừng sững, xa xăm và lạnh lùng, đội những vì sao còn xa xăm và lạnh lùng hơn.
Phiên toà xử Ten-nét-xi được tiến hành công bằng hết mức có thể đối với một quan toà và bồi thẩm đoàn cảm thấy mình phần nào buộc phải biện minh, bằng phán quyết của họ, cho những sai sót trong việc bắt giữ và buộc tội trước đó. Luật pháp ở Bãi Cát không khoan nhượng, nhưng không thù hằn. Cơn kích động và những tình cảm cá nhân trong cuộc săn đuổi đã qua. Giờ Ten-nét-xi đã nằm chắc trong tay họ, họ sẵn sàng kiên nhẫn nghe bất cứ lời bào chữa nào, mà họ đã tin chắc từ trước là không đủ. Vì trong đầu họ chẳng có chút nghi ngờ nào, họ sẵn lòng cho bị cáo hưởng mọi nghi ngờ có thể có. Yên tâm với giả thuyết rằng theo nguyên tắc chung thì gã nên bị treo cổ, họ cho gã được bào chữa thoải mái hơn mức sự liều lĩnh lì lợm của gã có vẻ đòi hỏi. Quan toà có vẻ lo lắng hơn cả bị cáo. Bị cáo thì chẳng bận tâm gì, chỉ rõ ràng thấy một niềm vui nghiệt ngã trong cái trách nhiệm mà chính gã gây ra.
– Tôi không chơi ván này, – là câu trả lời lần nào cũng như thế, nhưng vui vẻ, của gã trước mọi câu hỏi.
Quan toà, cũng chính là người đã bắt gã, trong một thoáng mơ hồ tiếc rằng sáng nay đã không bắn gã ngay khi thấy mặt. Nhưng rồi ông gạt cái yếu đuối rất người ấy đi, cho là không xứng với đầu óc của người cầm cân nảy mực. Dẫu vậy, khi có tiếng gõ cửa, và người ta báo rằng bạn của Ten-nét-xi tới đây nhân danh bị cáo, gã được cho vào ngay không cần hỏi han gì. Có lẽ những thành viên trẻ trong bồi thẩm đoàn, những người đang thấy phiên toà trở nên đăm chiêu một cách khó chịu, đã đón gã như một sự giải thoát.
Vì chắc chắn gã chẳng phải một nhân vật oai vệ gì. Thấp và đậm, khuôn mặt vuông cháy nắng đỏ au khác thường, mặc chiếc áo khoác vải bố rộng thùng thình và chiếc quần dính đầy vệt đất đỏ, trong bất cứ hoàn cảnh nào trông gã cũng đã kỳ quặc, giờ lại càng lố bịch. Khi gã cúi xuống đặt dưới chân một chiếc túi hành lý nặng mang theo, người ta thấy rõ, qua những dòng chữ in còn dang dở, rằng mảnh vải vá quần gã vốn được làm ra để bọc một thứ kém sang hơn nhiều. Nhưng gã bước tới với vẻ hết sức nghiêm trang. Bắt tay từng người trong phòng với vẻ thân thiện gượng gạo xong, gã lấy chiếc khăn rằn đỏ, chỉ nhạt hơn nước da gã một chút, lau khuôn mặt nghiêm trang, bối rối, đặt bàn tay khoẻ mạnh lên bàn cho vững, rồi nói với quan toà:
– Tôi đi ngang qua, – gã mở đầu như để xin lỗi, – và tôi nghĩ tôi ghé vào xem mọi chuyện với Ten-nét-xi đằng kia ra sao, bạn tôi ấy mà. Đêm nay nóng quá. Tôi không nhớ trước đây ở Bãi Cát đã có lúc nào nóng thế.
Gã ngừng một lát, nhưng chẳng ai tự nguyện góp thêm ký ức nào về thời tiết, nên gã lại cầu cứu tới chiếc khăn tay, chăm chỉ lau mặt mấy giây.
– Anh có điều gì muốn nói để bênh bị cáo không? – Cuối cùng quan toà hỏi.
– Đúng thế đấy, – bạn của Ten-nét-xi nói, giọng nhẹ nhõm. – Tôi tới đây với tư cách là bạn của Ten-nét-xi, biết cậu ấy gần bốn năm nay, lúc thế này lúc thế khác, lúc ướt lúc khô, lúc may lúc rủi. Cách của cậu ấy không phải lúc nào cũng là cách của tôi, nhưng chẳng có điểm nào ở chàng trai ấy, chẳng có trò nghịch nào cậu ấy từng bày ra, mà tôi không biết. Và ông bảo tôi, ông bảo, kiểu tâm sự giữa đàn ông với nhau ấy, ông bảo: "Anh có biết điều gì để bênh cậu ta không?" Còn tôi bảo ông, tôi bảo, kiểu tâm sự giữa đàn ông với nhau: "Thì một người biết gì về bạn mình chứ?"
– Anh chỉ có thế để nói thôi à? – Quan toà sốt ruột hỏi, có lẽ cảm thấy một sự đồng cảm hài hước nguy hiểm đang bắt đầu làm cho toà án có tình người hơn.
– Đúng thế, – bạn của Ten-nét-xi nói tiếp. – Tôi không có quyền nói điều gì chống lại cậu ấy. Giờ thì vụ này là thế nào? Đây, Ten-nét-xi cần tiền, cần lắm, mà lại không muốn hỏi xin ông bạn già của mình. Thế thì Ten-nét-xi làm gì? Cậu ấy rình một người lạ, và cậu ấy tóm được người lạ ấy. Rồi các ông rình cậu ấy, và các ông tóm được cậu ấy. Thế là hoà. Và tôi hỏi ông, là một người công bằng, và hỏi các ông, tất cả, là những người công bằng, có phải thế không.
– Bị cáo, – quan toà ngắt lời, – anh có câu hỏi nào muốn hỏi người này không?
– Không! Không! – Bạn của Ten-nét-xi vội nói tiếp. – Ván này tôi chơi một mình. Nói tới tận gốc rễ thì thế này: Ten-nét-xi đằng kia đã chơi khá thô và khá tốn kém với một người lạ, và với cái trại này. Giờ thì thế nào là công bằng? Có người sẽ bảo nhiều hơn, có người sẽ bảo ít hơn. Đây là một nghìn bảy trăm đô la vàng cục và một chiếc đồng hồ, gần như toàn bộ vốn liếng của tôi. Coi như sòng phẳng!
Và trước khi có bàn tay nào kịp giơ lên ngăn gã, gã đã dốc hết những gì trong túi hành lý ra bàn.
Trong một khoảnh khắc, tính mạng gã bị đe doạ. Một hai người đứng bật dậy, nhiều bàn tay mò tìm vũ khí giấu trong người, và lời đề nghị "ném hắn qua cửa sổ" chỉ bị gạt đi nhờ một cử chỉ của quan toà. Ten-nét-xi bật cười. Còn bạn của Ten-nét-xi, có vẻ chẳng hay biết gì về cơn náo động, nhân dịp lại lấy khăn lau mặt.
Khi trật tự đã được lập lại, và người ta đã dùng những hình ảnh và lời lẽ mạnh mẽ để làm gã hiểu rằng tội của Ten-nét-xi không thể dùng tiền mà xoá được, mặt gã càng nghiêm trang và đỏ bừng hơn, và những người đứng gần gã nhất nhận thấy bàn tay thô ráp của gã hơi run trên mặt bàn. Gã ngập ngừng một lúc khi chậm rãi cho vàng trở lại vào túi, như thể gã vẫn chưa nắm hết được cái ý thức công lý cao cả đang chi phối toà án, và đang bối rối tin rằng mình đã đưa chưa đủ. Rồi gã quay sang quan toà.
– Ván này là ván chơi một mình, không có bạn tôi, – gã nói.
Gã cúi chào bồi thẩm đoàn, định lui ra thì quan toà gọi lại.
– Nếu anh có điều gì muốn nói với Ten-nét-xi thì nên nói ngay bây giờ.
Lần đầu tiên trong buổi tối ấy, ánh mắt của bị cáo và người bào chữa kỳ lạ của gã gặp nhau. Ten-nét-xi mỉm cười, để lộ hàm răng trắng.
– Thua rồi, ông bạn già! – Gã nói, và chìa tay ra.
Bạn của Ten-nét-xi nắm lấy bàn tay ấy.
– Tôi chỉ tiện đường ghé vào xem mọi chuyện ra sao thôi, – gã nói.
Rồi gã buông tay ra một cách thụ động, nói thêm rằng đêm nay nóng quá, lại lấy khăn lau mặt, và không nói thêm lời nào, rút lui.
Hai người không bao giờ gặp lại nhau khi còn sống nữa. Vì cái sự sỉ nhục chưa từng có là đem tiền ra hối lộ toà án của đám đông, thứ toà án dù có cố chấp, yếu kém hay hẹp hòi, thì ít ra cũng không mua chuộc được, đã làm cho bất cứ chút dao động nào về số phận của Ten-nét-xi cũng trở nên dứt khoát. Và lúc tảng sáng, gã bị canh giữ chặt chẽ dẫn lên đỉnh đồi Mác-li để đón nhận số phận ấy.
Gã đón nhận nó ra sao, gã bình tĩnh thế nào, gã từ chối không nói gì thế nào, việc sắp đặt của uỷ ban hoàn hảo ra sao, tất cả đều được tường thuật đầy đủ trên tờ Tiếng Kèn Chó Đỏ, kèm theo một lời răn dạy và một tấm gương cho mọi kẻ làm điều ác trong tương lai, do chính ông chủ bút, người có mặt ở đó, viết ra, và tôi vui lòng mời bạn đọc tìm đọc thứ tiếng Anh mạnh mẽ của ông. Nhưng vẻ đẹp của buổi sáng giữa mùa hè ấy, sự hoà thuận thiêng liêng giữa đất, gió và trời, sự sống thức dậy của rừng đồi tự do, sự hồi sinh tươi vui và lời hứa hẹn của Thiên Nhiên, và trên hết là sự Thanh Thản vô biên lan toả qua mọi vật, thì không được tường thuật, vì chẳng phải là một phần của bài học xã hội. Thế nhưng, khi việc làm yếu đuối và ngu xuẩn ấy đã xong, và một sự sống, với bao khả năng và trách nhiệm của nó, đã lìa khỏi cái vật méo mó đung đưa giữa đất và trời, thì chim vẫn hót, hoa vẫn nở, mặt trời vẫn chiếu sáng vui tươi như trước. Và có lẽ tờ Tiếng Kèn Chó Đỏ đã đúng.
Bạn của Ten-nét-xi không có mặt trong đám người vây quanh cái cây điềm gở. Nhưng khi họ quay đi định giải tán, người ta chú ý tới một chiếc xe lừa kỳ lạ đứng im bên lề đường. Tới gần, họ nhận ra ngay con Gien-ni đáng kính và chiếc xe hai bánh là của bạn Ten-nét-xi, gã vẫn dùng nó để chở đất từ khu mỏ của mình. Và cách đó vài bước, chính chủ nhân của cỗ xe đang ngồi dưới gốc một cây dẻ ngựa, lau mồ hôi trên khuôn mặt đỏ rực. Khi được hỏi, gã nói gã tới để nhận thi thể của "người quá cố", "nếu uỷ ban không phiền". Gã không muốn "giục giã gì cả", gã có thể "chờ". Hôm nay gã không làm việc, và khi các quý ông xong việc với "người quá cố", gã sẽ mang cậu ấy đi.
– Nếu ở đây có ai, – gã nói thêm, theo cái kiểu giản dị, nghiêm trang của gã, – muốn tới dự đám tang, thì cứ tới.
Có lẽ vì óc hài hước, như tôi đã ngụ ý, là một nét đặc trưng của Bãi Cát, có lẽ vì một điều gì đó còn tốt đẹp hơn thế, nhưng hai phần ba đám người đứng đó nhận lời mời ngay lập tức.
Giữa trưa, thi thể Ten-nét-xi được trao vào tay bạn gã. Khi chiếc xe tới gần cái cây định mệnh, chúng tôi nhận thấy trên xe có một cái hộp dài thô kệch, hình như đóng từ một đoạn máng đãi vàng, lót đầy một nửa bằng vỏ cây và hoa thông. Chiếc xe còn được trang trí bằng những cành liễu, và thơm ngát hoa dẻ ngựa. Khi thi thể đã được đặt vào hộp, bạn của Ten-nét-xi phủ lên một tấm vải bạt tẩm nhựa đường, rồi trang nghiêm leo lên chiếc ghế hẹp phía trước, chân đặt lên càng xe, thúc con lừa nhỏ đi. Cỗ xe chậm rãi tiến lên, với cái nhịp đi trang trọng vốn là thói quen của con Gien-ni ngay cả trong những dịp chẳng trang nghiêm gì. Đám đàn ông, nửa tò mò, nửa đùa cợt, nhưng tất cả đều vui vẻ, thả bộ bên cạnh xe, người đi trước, người đi sau cỗ xe tang mộc mạc một chút. Nhưng dù vì đường hẹp dần, hay vì một cảm giác trang trọng nào đó vừa nảy ra, khi chiếc xe đi tiếp, đoàn người lùi về phía sau thành từng cặp, đi đều bước, và bề ngoài trông như một đám rước chính thức. Giắc Phô-lin-bi, người lúc đầu làm điệu bộ thổi một khúc nhạc tang bằng chiếc kèn trôm-bôn tưởng tượng, đã thôi không thổi nữa, vì chẳng ai hưởng ứng hay tán thưởng. Có lẽ gã không có cái khả năng của một tay hài hước thực thụ là tự bằng lòng với niềm vui từ trò đùa của chính mình.
Con đường đi qua Hẻm Gấu Xám, lúc này đã khoác lên mình tấm màn tang và những bóng tối. Những cây gỗ đỏ, chân cắm sâu vào đất đỏ, đứng thành một hàng dọc theo lối đi, rủ từ những cành cây cúi xuống một lời chúc phúc vụng về lên cỗ quan tài đang đi qua. Một con thỏ rừng bị bất ngờ, ngồi thẳng, bất lực không nhúc nhích, phập phồng trong đám dương xỉ bên đường khi đoàn tang đi qua. Lũ sóc vội tìm chỗ quan sát an toàn trên những cành cao hơn. Và những con giẻ cùi xanh dang cánh, bay chập chờn phía trước như những kỵ sĩ dẫn đường, cho tới khi đến vùng ven Bãi Cát và căn chòi đơn độc của bạn Ten-nét-xi.
Ngay cả trong hoàn cảnh thuận lợi hơn, đó cũng chẳng phải một chỗ vui vẻ gì. Vị trí chẳng chút nên thơ, những đường nét thô kệch chẳng chút dễ thương, những chi tiết khó coi đặc trưng cho cái ổ của dân đào vàng Ca-li-pho-ni-a đều có đủ ở đây, lại thêm vẻ tiêu điều của sự mục nát. Cách căn chòi vài bước có một khoảnh đất rào thô sơ, trong những ngày hạnh phúc vợ chồng ngắn ngủi của bạn Ten-nét-xi từng được dùng làm vườn, nhưng nay đã mọc đầy dương xỉ. Tới gần, chúng tôi ngạc nhiên thấy cái mà chúng tôi tưởng là một lần mới vỡ đất trồng trọt lại là đất xới quanh một huyệt mộ đang để ngỏ.
Chiếc xe dừng trước khoảnh đất rào. Từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ với cùng vẻ giản dị tự lực mà gã đã thể hiện suốt từ đầu, bạn của Ten-nét-xi nhấc cỗ quan tài thô lên lưng, một mình đặt nó xuống huyệt nông. Rồi gã đóng đinh tấm ván dùng làm nắp, trèo lên mô đất nhỏ bên cạnh, bỏ mũ ra, chậm rãi lấy khăn lau mặt. Đám đông cảm thấy đó là màn mở đầu cho một bài nói. Họ chọn chỗ ngồi trên gốc cây, trên tảng đá, và ngồi chờ.
– Khi một người, – bạn của Ten-nét-xi chậm rãi bắt đầu, – đã chạy rong cả ngày, thì điều tự nhiên là anh ta làm gì? Chà, là về nhà. Còn nếu anh ta không ở trong tình trạng tự về nhà được, thì người bạn tốt nhất của anh ta làm được gì? Chà, là đưa anh ta về nhà! Và đây, Ten-nét-xi đã chạy rong, và chúng ta đưa cậu ấy về nhà sau chuyến lang thang.
Gã ngừng lại, nhặt một mẩu thạch anh, trầm ngâm chà nó lên tay áo, rồi nói tiếp:
– Đây không phải lần đầu tôi cõng cậu ấy trên lưng như các anh vừa thấy. Không phải lần đầu tôi đưa cậu ấy về căn chòi này khi cậu ấy không tự lo được cho mình. Không phải lần đầu tôi với con Gien-ni chờ cậu ấy trên quả đồi đằng kia, rồi đỡ cậu ấy dậy, đưa cậu ấy về nhà, khi cậu ấy không nói được, chẳng nhận ra tôi. Còn bây giờ, khi đây là lần cuối, thì…
Gã ngừng lại, nhẹ nhàng chà mẩu thạch anh lên tay áo.
– Các anh thấy đấy, với bạn cậu ấy thì thế này hơi khổ. Còn bây giờ, thưa các quý ông, – gã đột ngột nói thêm, nhặt chiếc xẻng cán dài lên, – đám tang xong rồi. Tôi xin cảm ơn, và Ten-nét-xi xin cảm ơn, các anh đã mất công.
Từ chối mọi lời đề nghị giúp đỡ, gã bắt đầu lấp huyệt, quay lưng lại với đám đông. Họ lưỡng lự một lúc, rồi dần dần rút đi. Khi vượt qua mỏm đồi nhỏ che khuất Bãi Cát, vài người ngoái lại, tưởng như thấy bạn của Ten-nét-xi đã làm xong việc, đang ngồi trên nấm mộ, chiếc xẻng kẹp giữa hai đầu gối, mặt vùi vào chiếc khăn rằn đỏ. Nhưng những người khác cãi rằng ở khoảng cách ấy thì không phân biệt được mặt gã với chiếc khăn, và chuyện ấy vẫn chưa ngã ngũ.
Trong cơn lắng dịu sau cơn kích động sôi sục ngày hôm ấy, người ta không quên bạn của Ten-nét-xi. Một cuộc điều tra bí mật đã minh oan cho gã khỏi mọi dính líu tới tội của Ten-nét-xi, chỉ để lại chút nghi ngờ về đầu óc nói chung của gã. Bãi Cát coi việc tới thăm gã là chuyện phải làm, và đem tới cho gã đủ thứ quan tâm vụng về mà chân thành. Nhưng từ ngày ấy, sức khoẻ cường tráng và sức lực lớn lao của gã có vẻ sa sút trông thấy. Và khi mùa mưa đã thật sự tới, những ngọn cỏ bé xíu bắt đầu nhú lên trên nấm mộ đá của Ten-nét-xi, gã nằm liệt giường. Một đêm, khi những cây thông bên căn chòi đang đung đưa trong cơn bão, kéo những ngón tay mảnh khảnh qua mái nhà, và bên dưới vọng lên tiếng gầm, tiếng chảy ào ào của dòng sông đang lên, bạn của Ten-nét-xi nhấc đầu khỏi gối.
– Đến giờ đi đón Ten-nét-xi rồi, – gã nói. – Tôi phải thắng con Gien-ni vào xe.
Và gã đã ngồi dậy khỏi giường nếu không có người chăm sóc giữ lại. Vật lộn, gã vẫn đuổi theo cái ý nghĩ kỳ lạ của mình:
– Đấy, bình tĩnh nào, Gien-ni, bình tĩnh nào, cô bạn già. Tối quá! Coi chừng mấy cái rãnh, mà coi chừng cả cậu ấy nữa, cô bạn già. Đôi khi, mày biết đấy, lúc say bí tỉ, cậu ấy ngã vật ngay giữa đường. Cứ đi thẳng lên tới cây thông trên đỉnh đồi. Kia! Tao bảo mà! Cậu ấy kia rồi, đang đi về phía này, một mình, tỉnh táo, mặt sáng rỡ. Ten-nét-xi! Bạn ơi!
Và thế là họ gặp nhau.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn