Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bánh kếp Pi-mi-en-ta

của O. Henry

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 19.933 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Trong lúc chúng tôi đang lùa một đàn bò…
  2. 2:27Khoảng ba giờ chiều, tôi vắt dây cương lên…
  3. 5:19Tôi nuốt chửng hột đào với hai hột mận.…
  4. 8:10Đúng lúc ấy một mắt tôi thấy một con…
  5. 10:40"Chắc chắn", Giắc-xơn nói. "Cô Li-rai là một cô…
  6. 14:00"Chú có biết làm món bánh kếp ấy không,…
  7. 16:12"Anh chưa nghe tin gì à?"
  8. 17:38"Cả đời nó chưa làm cái nào, mà tôi…

Trong lúc chúng tôi đang lùa một đàn bò của trại Tam Giác O ở vùng đất trũng ven sông Phri-ô, một cành cây gai chết chìa ra móc vào bàn đạp ngựa bằng gỗ của tôi, làm cổ chân tôi bị trẹo, phải nằm một chỗ trong trại suốt một tuần.

Sang ngày thứ ba của cảnh ăn không ngồi rồi bất đắc dĩ, tôi bò ra gần chiếc xe chở đồ ăn, nằm bất lực dưới làn hoả lực chuyện trò của Giớt-xơn Ô-đơm, anh đầu bếp của trại. Giớt bẩm sinh là một người thích độc thoại, mà Số Phận, với cái thói vụng về thường lệ, lại đặt anh vào một nghề mà phần lớn thời gian anh bị tước mất người nghe.

Bởi vậy, tôi là món ăn trời ban giữa sa mạc im lặng của Giớt.

Một lúc sau, tôi bị khuấy lên bởi những thèm khát của người ốm, thèm một món gì đó không thuộc loại "đồ ăn trại". Tôi mơ màng nghĩ tới cái chạn thức ăn của mẹ, sâu thẳm như mối tình đầu và cồn cào như mọi nỗi tiếc nuối, rồi tôi hỏi:

— Giớt này, anh có biết làm bánh kếp không?

Giớt đặt khẩu súng sáu xuống, khẩu súng anh đang định dùng để dần một miếng thịt linh dương, rồi đứng sừng sững trước mặt tôi, trong một tư thế mà tôi cảm thấy là đầy đe doạ. Anh còn củng cố thêm cảm giác rằng anh đang tức tối, bằng cách dán đôi mắt xanh nhạt vào tôi với một cái nhìn ngờ vực lạnh lùng.

— Này anh kia, anh nói, giọng giận thẳng thừng, tuy không quá đáng, anh hỏi thật hay anh định chọc tôi đấy? Có thằng nào trong bọn kể cho anh nghe chuyện tôi với cái vụ bánh kếp ấy rồi phải không?

— Không, Giớt, tôi thành thật nói. Tôi hỏi thật đấy. Tôi thấy hình như tôi sẵn sàng đổi cả ngựa lẫn yên để lấy một chồng bánh kếp vàng nâu phết bơ, rưới thứ mật mía ngon nhất vụ đầu. Có chuyện gì về bánh kếp à?

Thấy tôi không có ý ám chỉ gì, Giớt dịu ngay xuống. Anh mang từ xe đồ ăn ra mấy cái túi với hộp sắt tây bí ẩn, đặt dưới bóng cây sếu nơi tôi đang nằm. Tôi nhìn anh thong thả bày chúng ra và cởi vô số sợi dây buộc.

— Không, chẳng phải chuyện gì đâu, Giớt vừa làm vừa nói, chỉ là những tiết lộ hợp lô-gích trong vụ việc giữa tôi với cái thằng mắt hồng ẻo lả ở Thung Lũng Lừa Sa Lầy và cô Uy-le-la Li-rai. Kể anh nghe cũng chẳng sao.

Hồi ấy tôi chăn bò cho lão Bin Tu-mi, ở vùng sông Xan Mi-ghen. Một hôm tôi bị vướng vào khát vọng được ăn thứ đồ hộp nào đó chưa từng biết rống bò, kêu be be, ủn ỉn, hay bị đong bằng thúng. Thế là tôi nhảy lên con ngựa non, phóng như gió tới cửa hàng của chú Em-xli Ten-phe ở bến lội Pi-mi-en-ta trên sông Nu-ê-xét.

Khoảng ba giờ chiều, tôi vắt dây cương lên một cành cây gai, đi bộ hai chục mét cuối vào cửa hàng chú Em-xli. Tôi ngồi lên quầy hàng, bảo chú Em-xli rằng mọi dấu hiệu đều cho thấy vụ trái cây của cả thế giới sắp bị tàn phá. Một phút sau, bên cạnh tôi đã có một túi bánh quy với một cái thìa cán dài, và mỗi thứ một hộp mơ, dứa, anh đào, mận xanh đã mở, trong khi chú Em-xli đang bận lấy rìu bổ hộp đào vàng. Tôi thấy mình như ông A-đam trước vụ náo loạn quả táo. Tôi đang thúc đinh thúc ngựa vào thành quầy, hì hục với cái thìa dài sáu tấc, thì tình cờ nhìn qua cửa sổ ra sân nhà chú Em-xli ngay sát cửa hàng.

Có một cô gái đứng ở đó, một cô gái nhập từ nơi khác về, ăn vận diêm dúa, đang cầm cái vồ chơi bóng cửa, vừa đùa nghịch vừa thích thú ngắm cái phong cách cổ vũ ngành công nghiệp đồ hộp của tôi.

Tôi trượt xuống khỏi quầy, nộp cái xẻng lại cho chú Em-xli.

"Đó là cháu gái tôi", chú nói, "cô Uy-le-la Li-rai, ở Pa-le-xtin xuống chơi. Anh có muốn tôi giới thiệu không?"

"Đất Thánh à", tôi nghĩ bụng, đầu óc quay cuồng một chút trong khi tôi cố lùa chúng vào chuồng. "Sao lại không? Ở Pa-le-xtin chắc chắn là có thiên thần... À vâng, chú Em-xli", tôi nói to lên, "cháu sẽ được khai sáng ghê lắm nếu được gặp cô Li-rai."

Thế là chú Em-xli dẫn tôi ra sân, giới thiệu tên tuổi hai người với nhau.

Tôi xưa nay chẳng bao giờ rụt rè với đàn bà. Tôi chẳng bao giờ hiểu nổi tại sao có những gã thuần được ngựa hoang trước bữa sáng, cạo râu được trong bóng tối, mà hễ thấy một xấp vải hoa quấn quanh cái thứ thuộc về nó là trở nên vụng về, mồ hôi mồ kê đầm đìa, rồi xin lỗi lia lịa. Chưa tới tám phút, tôi với cô Uy-le-la đã cùng nhau đánh mấy quả bóng cửa lăn lóc, thân mật như anh em họ. Cô trêu tôi về chỗ hoa quả đóng hộp tôi vừa chén, và tôi đáp trả ngay tắp lự, rằng chính một bà tên là Ê-va đã gây ra rắc rối về trái cây trong đồng cỏ tự do đầu tiên. "Ở bên Pa-le-xtin, phải không nhỉ?" Tôi nói, dễ dàng trôi chảy như quăng thòng lọng một con bê một tuổi.

Thế là tôi có được thiện cảm với những gì thuộc về cô Uy-le-la Li-rai, và thời gian càng qua thì cái thiện cảm ấy càng lớn. Cô đang ở lại bến lội Pi-mi-en-ta vì sức khoẻ, mà sức khoẻ cô thì rất tốt, và vì khí hậu, mà khí hậu ở đây thì nóng hơn Pa-le-xtin bốn mươi phần trăm. Một dạo, mỗi tuần tôi cưỡi ngựa sang thăm cô một lần. Rồi tôi tính ra rằng nếu tôi tăng gấp đôi số chuyến đi, thì tôi sẽ được gặp cô nhiều gấp đôi.

Có một tuần tôi lén thêm chuyến thứ ba. Và đó chính là lúc cái vụ bánh kếp với thằng mắt hồng ẻo lả xông vào cuộc chơi.

Tối hôm ấy, trong khi ngồi trên quầy với một quả đào và hai quả mận trong miệng, tôi hỏi chú Em-xli xem cô Uy-le-la thế nào.

"Ồ", chú Em-xli nói, "nó đi cưỡi ngựa với Giắc-xơn Bớt, cái anh nuôi cừu ở mạn Thung Lũng Lừa Sa Lầy ấy."

Tôi nuốt chửng hột đào với hai hột mận. Chắc là có ai đã giữ cương cái quầy cho tôi trèo xuống. Rồi tôi bước thẳng ra ngoài, cứ thế đi cho tới khi húc đầu vào cái cây gai chỗ buộc con ngựa lông đỏ của tôi.

"Cô ấy đi cưỡi ngựa", tôi thì thầm vào tai con ngựa, "với Giắc-xơn Bớt, thằng nuôi cừu ở cái xứ lừa sa lầy. Mày nghe thấy không, cái đồ Da Bọc Vó Ngựa già kia?"

Con ngựa của tôi khóc, theo cách của nó. Nó được nuôi lớn làm ngựa chăn bò, nên nó chẳng ưa gì bọn ẻo lả.

Tôi quay vào bảo chú Em-xli: "Chú bảo là một tay nuôi cừu à?"

"Tôi bảo là một tay nuôi cừu", chú Em-xli nhắc lại. "Hẳn là anh có nghe nói tới Giắc-xơn Bớt. Anh ta có tám khoảnh đồng cỏ với bốn nghìn con cừu lông mịn đẹp nhất từ Bắc Cực trở xuống."

Tôi đi ra, ngồi bệt xuống đất dưới bóng cửa hàng, dựa lưng vào một bụi xương rồng. Tôi vô thức vốc cát đổ vào ủng, trong khi lẩm bẩm độc thoại một hồi về con chim mang bộ lông Giắc-xơn trong cái tên ấy. Mà anh biết đấy, Bớt trong tiếng Anh nghĩa là con chim.

Xưa nay tôi chưa bao giờ tin vào chuyện làm hại dân nuôi cừu. Có lần tôi thấy một gã ngồi trên lưng ngựa đọc sách ngữ pháp La-tinh, mà tôi có đụng tới gã đâu! Họ chưa bao giờ làm tôi khó chịu như làm khó chịu phần lớn dân chăn bò. Ai lại đi làm hại, làm xấu xí những gã ẻo lả ăn cơm trên bàn, đi đôi giày bé tí, và nói chuyện với anh về đủ thứ đề tài, phải không? Tôi xưa nay vẫn để họ đi qua, như để một con thỏ rừng đi qua, chào một câu lịch sự, đoán vài câu về thời tiết, nhưng chẳng dừng lại đổi bi-đông nước với nhau. Tôi chưa bao giờ thấy đáng để thù địch với một gã ẻo lả. Thế mà chính vì tôi đã khoan dung, để chúng sống, nên giờ đây có một gã đi cưỡi ngựa với cô Uy-le-la Li-rai!

Khi mặt trời còn cách chân trời chừng một tiếng thì họ phi nước kiệu nhỏ quay về, dừng lại ở cổng nhà chú Em-xli. Gã nuôi cừu đỡ cô xuống ngựa. Rồi họ đứng đó ném cho nhau những câu nói hoạt bát, khôn ngoan một lúc. Rồi cái gã Giắc-xơn có lông vũ ấy bay lên yên, nhấc cái mũ nhỏ như cái nồi hầm, rồi cho ngựa chạy nước kiệu về phía trại cừu của gã. Lúc ấy tôi đã đổ hết cát ra khỏi ủng và gỡ mình ra khỏi bụi xương rồng. Khi gã đi ra khỏi Pi-mi-en-ta được nửa dặm, thì tôi đã cưỡi ngựa nước kiệu đều tới sát bên gã.

Tôi bảo gã ẻo lả ấy mắt hồng, nhưng thật ra không phải. Đôi mắt gã xám thì xám thật, nhưng lông mi gã màu hồng, tóc thì màu cát, nên trông như vậy. Nuôi cừu ư? Cùng lắm gã chỉ là tay nuôi cừu non, một thằng nhãi cổ quấn khăn lụa vàng, giày buộc dây thắt nơ.

"Chào anh!" Tôi bảo gã. "Anh đang cưỡi ngựa cạnh một kị sĩ mà người ta thường gọi là Giớt-xơn Chắc Chắn Chết, vì cách tôi bắn súng. Khi muốn một người lạ biết mình, tôi bao giờ cũng tự giới thiệu trước khi rút súng, vì tôi chẳng bao giờ thích bắt tay với ma."

"À", gã nói, đúng như thế. "À, rất vui được biết anh, anh Giớt-xơn. Tôi là Giắc-xơn Bớt, ở trại Lừa Sa Lầy."

Đúng lúc ấy một mắt tôi thấy một con chim cu đất đang chạy nhảy xuống đồi, mỏ ngậm một con nhện độc non, còn mắt kia để ý thấy một con diều hâu bắt thỏ đậu trên một cành chết của cây du ven nước. Tôi lần lượt bắn rơi hai con, chỉ để biểu diễn cho gã xem. "Ba phát trúng hai", tôi nói. "Đi tới đâu, chim chóc cũng cứ tự nhiên hút đạn của tôi."

"Bắn đẹp đấy", gã nuôi cừu nói, chẳng chút xao động. "Nhưng có khi nào anh bắn trượt phát thứ ba không? Trận mưa tuần trước tuyệt quá cho cỏ non nhỉ, anh Giớt-xơn?" Gã nói.

"Này chú chim non", tôi nói, cưỡi ngựa áp sát con ngựa của gã, "cha mẹ chú có thể mê muội mà đặt cho chú cái tên Giắc-xơn, nhưng chú chắc chắn đã thay lông thành một con chim ríu rít. Ta hãy gác cái chuyện phân tích mưa gió thời tiết lại, mà nói những chuyện ngoài vốn từ của con vẹt. Cái thói đi cưỡi ngựa với các cô gái trẻ ở Pi-mi-en-ta là một thói xấu đấy. Tôi biết có những con chim", tôi nói, "chỉ vì chuyện còn nhỏ hơn thế mà đã bị dọn lên đĩa với bánh mì nướng. Cô Uy-le-la", tôi nói, "chẳng bao giờ muốn một cái tổ làm bằng lông cừu của một con chim sẻ thuộc nhánh Giắc-xơn trong ngành điểu học đâu. Vậy giờ chú chịu thôi, hay chú muốn phi ngựa thẳng vào cái biệt danh Chắc Chắn Chết gắn với tên tôi, cái biệt danh đủ cho hai gạch nối và ít nhất một đám ma?"

Giắc-xơn Bớt hơi đỏ mặt lên, rồi bật cười.

"Ồ, anh Giớt-xơn", gã nói, "anh hiểu nhầm rồi. Tôi có tới thăm cô Li-rai vài lần, nhưng không phải vì mục đích như anh tưởng. Mục đích của tôi thuần tuý là chuyện ăn uống."

Tôi với tay lấy súng.

"Thằng chó sói nào", tôi nói, "dám khoe khoang chuyện đốn mạt..."

"Khoan đã", cái gã Bớt nói, "để tôi giải thích. Tôi lấy vợ làm gì? Giá anh được thấy cái trại của tôi! Tôi tự nấu ăn, tự vá víu lấy. Ăn uống, đó là niềm vui duy nhất tôi có được từ nghề nuôi cừu. Anh Giớt-xơn, anh đã bao giờ nếm món bánh kếp cô Li-rai làm chưa?"

"Tôi á? Chưa", tôi bảo gã. "Tôi chưa từng được báo là cô ấy có tài nấu nướng gì."

"Đó là ánh nắng vàng", gã nói, "được những ngọn lửa thần tiên của các bậc sành ăn nướng cho vàng nâu như mật. Tôi sẵn sàng đổi hai năm cuộc đời để có được công thức làm món bánh kếp ấy. Đó là lí do tôi tới gặp cô Li-rai", Giắc-xơn Bớt nói, "nhưng tôi chưa xin được nó từ cô ấy. Đó là một công thức cổ đã được truyền trong gia đình bảy mươi lăm năm nay. Họ truyền từ đời này sang đời khác, nhưng không cho người ngoài. Nếu tôi có được công thức ấy, để tự làm món bánh kếp ấy ở trại mình, thì tôi sẽ là một người hạnh phúc", Bớt nói.

"Anh có chắc", tôi nói với gã, "rằng thứ anh muốn không phải là bàn tay nhào bột bánh kếp không?"

"Chắc chắn", Giắc-xơn nói. "Cô Li-rai là một cô gái rất dễ thương, nhưng tôi có thể cam đoan với anh rằng ý định của tôi không vượt quá chuyện ẩm..." Nhưng gã thấy tay tôi đang thõng xuống bao súng, nên gã đổi cách nói: "... không vượt quá mong muốn có được một bản chép công thức làm bánh kếp", gã nói nốt.

"Chú cũng không đến nỗi tệ lắm", tôi nói, cố tỏ ra công bằng. "Tôi đã định biến lũ cừu của chú thành trẻ mồ côi, nhưng lần này tôi để chú bay đi. Nhưng chú cứ bám lấy bánh kếp cho chặt", tôi nói, "chặt như cái bánh ở giữa chồng. Đừng có nhầm tình cảm với nước đường, không thì sẽ có tiếng hát đưa đám ở trại chú, mà chú thì chẳng nghe thấy đâu."

"Để anh tin là tôi thành thật", gã nuôi cừu nói, "tôi sẽ nhờ anh giúp tôi. Cô Li-rai với anh là bạn thân thiết hơn, có lẽ cô ấy sẽ làm cho anh điều mà cô ấy không làm cho tôi. Nếu anh xin được cho tôi một bản công thức làm bánh kếp ấy, tôi xin hứa danh dự là sẽ không bao giờ tới thăm cô ấy nữa."

"Thế là sòng phẳng", tôi nói, và tôi bắt tay Giắc-xơn Bớt. "Nếu được tôi sẽ xin cho anh, rất sẵn lòng giúp." Rồi gã rẽ xuống cánh đồng xương rồng lớn bên sông Pi-ê-đra, về phía Lừa Sa Lầy, còn tôi thì lái ngựa về hướng tây bắc, về trại của lão Bin Tu-mi.

Năm ngày sau tôi mới lại có dịp cưỡi ngựa sang Pi-mi-en-ta. Tôi với cô Uy-le-la qua một buổi tối thật thú vị ở nhà chú Em-xli. Cô hát mấy bài, và hành hạ cây đàn dương cầm khá nhiều bằng những đoạn trích từ các vở nhạc kịch. Tôi bắt chước tiếng rắn đuôi chuông, kể cho cô nghe về cách lột da bò mới của thằng Rắn Mác-phi, và tả lại chuyến đi Xanh Lu-i của tôi hồi trước. Chúng tôi đang lên điểm trong mắt nhau rất tốt. Tôi nghĩ bụng, giờ mà thuyết phục được Giắc-xơn Bớt di cư đi chỗ khác, thì tôi thắng. Tôi nhớ lại lời hứa của gã về công thức bánh kếp, và tôi nghĩ tôi sẽ dỗ cô Uy-le-la cho nó rồi đưa cho gã. Rồi nếu tôi còn bắt gặp con chim non ấy bay ra khỏi trại Lừa Sa Lầy lần nữa, thì tôi sẽ cho nó nhảy khỏi cành.

Vậy là khoảng mười giờ, tôi nở một nụ cười nịnh nọt mà nói với cô Uy-le-la: "Này, nếu có cái gì tôi thích hơn cảnh một con bò đỏ trên cỏ xanh, thì đó là vị một cái bánh kếp nóng hổi ngập mật mía."

Cô Uy-le-la hơi nhảy dựng lên trên chiếc ghế đàn, nhìn tôi tò mò.

"Vâng", cô nói, "bánh ấy ngon thật. Anh bảo con phố ở Xanh Lu-i chỗ anh đánh mất mũ tên là gì ấy nhỉ, anh Ô-đơm?"

"Đại lộ Bánh Kếp", tôi nói, nháy mắt một cái, để cô biết rằng tôi đang nhắm tới công thức gia truyền, và không ai lùa tôi ra khỏi đề tài ấy được. "Nào, cô Uy-le-la", tôi nói, "cho tôi nghe cô làm chúng thế nào đi. Bánh kếp cứ quay tròn trong đầu tôi như bánh xe bò. Nào, bắt đầu đi, một cân bột, tám tá trứng, vân vân. Danh mục các thành phần thế nào?"

"Xin lỗi anh một lát", cô Uy-le-la nói, liếc nhanh tôi một cái kiểu nghiêng nghiêng, rồi trượt xuống khỏi ghế. Cô đi sang phòng bên, và ngay sau đó chú Em-xli bước vào, mặc áo sơ mi, cầm một bình nước. Chú quay lại lấy cái cốc trên bàn, và tôi thấy một khẩu súng cỡ bốn mươi lăm trong túi quần sau của chú. "Ôi trời đất!" Tôi nghĩ bụng. "Đây là một gia đình coi trọng công thức nấu nướng ghê, đến mức phải bảo vệ nó bằng súng. Tôi biết có những gia tộc gặp chuyện thù truyền kiếp cũng chẳng làm được đến thế."

"Uống cái này đi", chú Em-xli nói, đưa cho tôi cốc nước. "Hôm nay anh cưỡi ngựa xa quá rồi, Giớt, nên anh bị kích động quá đấy. Cố nghĩ sang chuyện khác đi."

"Chú có biết làm món bánh kếp ấy không, chú Em-xli?" Tôi hỏi.

"À, tôi không am hiểu cấu tạo của chúng bằng người khác", chú Em-xli nói, "nhưng tôi đoán là người ta lấy một rây thạch cao, với chút bột nhào, bột nở với bột ngô, rồi trộn với trứng và sữa bơ như thường lệ. Mùa xuân này lão Bin lại chở bò lên Can-dát Xi-ti à, Giớt?"

Đó là toàn bộ đặc tả về bánh kếp mà tối hôm ấy tôi moi được. Tôi chẳng lạ gì khi Giắc-xơn Bớt thấy đó là việc khó như leo dốc. Thế là tôi bỏ đề tài ấy, nói chuyện với chú Em-xli một lúc về bệnh sừng rỗng của bò với lốc xoáy. Rồi cô Uy-le-la ra chúc ngủ ngon, và tôi phóng ngựa về trại.

Khoảng một tuần sau, tôi gặp Giắc-xơn Bớt cưỡi ngựa ra khỏi Pi-mi-en-ta đúng lúc tôi cưỡi ngựa vào, và chúng tôi dừng lại bên đường nói vài câu bông lơn.

"Lấy được bản kê khai chi tiết món bánh kếp ấy chưa?" Tôi hỏi gã.

"Chưa", Giắc-xơn nói. "Hình như tôi chẳng có chút thành công nào trong việc lấy được nó. Anh đã thử chưa?"

"Thử rồi", tôi nói, "mà cứ như cố dùng vỏ lạc đào con sóc đất ra khỏi hang. Cái công thức bánh kếp ấy chắc phải là bảo bối gì ghê gớm lắm, mới giữ khư khư thế."

"Tôi gần như sắp bỏ cuộc rồi", Giắc-xơn nói, giọng chán nản tới mức tôi thấy tội nghiệp cho gã, "nhưng tôi đã muốn biết cách làm món bánh kếp ấy để ăn ở cái trại cô quạnh của tôi lắm", gã nói. "Đêm nào tôi cũng nằm thao thức nghĩ tới chúng ngon thế nào."

"Cứ cố tiếp đi", tôi bảo gã, "tôi cũng thế. Thế nào chẳng có đứa quăng được dây thòng lọng vào sừng nó. Thôi, chào nhé, Giắc-xơn."

Anh thấy đấy, tới lúc ấy chúng tôi đã hoàn toàn hoà hảo với nhau. Khi thấy gã không theo đuổi cô Uy-le-la, tôi dễ chịu hơn nhiều khi nghĩ về cái gã ẻo lả tóc màu cát ấy. Để giúp tham vọng của cái dạ dày gã, tôi cứ tiếp tục cố xin cô Uy-le-la cái công thức ấy. Nhưng hễ tôi nói tới "bánh kếp" là cô lại có vẻ xa xăm, mắt bồn chồn, rồi tìm cách lái sang chuyện khác. Nếu tôi cứ bám riết, thì cô lại lẻn đi, lùa chú Em-xli tới với bình nước và khẩu đại bác trong túi quần sau.

Một hôm tôi phi ngựa tới cửa hàng với một bó hoa cỏ roi ngựa xanh tím rất đẹp mà tôi cắt từ một đàn hoa dại trên đồng cỏ Chó Trúng Độc. Chú Em-xli nhắm một mắt nhìn chúng, rồi nói:

"Anh chưa nghe tin gì à?"

"Giá bò lên à?" Tôi hỏi.

"Hôm qua Uy-le-la với Giắc-xơn Bớt đã làm đám cưới ở Pa-le-xtin rồi", chú nói. "Sáng nay tôi mới nhận được thư."

Tôi thả bó hoa vào thùng đựng bánh quy, để cái tin ấy rỉ vào tai, chảy xuống phía túi áo ngực bên trái, rồi xuống tận bàn chân.

"Chú làm ơn nói lại một lần nữa được không, chú Em-xli?" Tôi nói. "Có khi tai cháu nghe nhầm, mà chú chỉ nói là bò cái tơ loại một đang giá bốn đô-la tám mươi một con, hay đại loại thế."

"Cưới hôm qua rồi", chú Em-xli nói, "rồi đi tuần trăng mật ở Oa-cô với thác Ni-a-ga-ra. Ơ hay, suốt thời gian qua anh không thấy chút dấu hiệu nào à? Giắc-xơn Bớt đã tán tỉnh Uy-le-la từ cái hôm nó đưa con bé đi cưỡi ngựa ấy."

"Thế thì", tôi nói, gần như hét lên, "cái mớ lăng nhăng về bánh kếp mà gã nói với cháu là cái gì? Chú nói cho cháu biết đi."

Khi tôi nói tới "bánh kếp", chú Em-xli hơi né người, lùi lại.

"Có đứa đã chia cho cháu bánh kếp từ dưới đáy cỗ bài", tôi nói, "và cháu sẽ tìm ra. Cháu tin là chú biết. Nói đi", tôi nói, "không thì mình nhào ngay một chảo bột ở đây bây giờ."

Tôi trượt qua quầy đuổi theo chú Em-xli. Chú chộp lấy khẩu súng, nhưng nó nằm trong ngăn kéo, và chú với hụt năm phân. Tôi túm lấy ngực áo chú, đẩy chú vào góc.

"Nói về bánh kếp đi", tôi nói, "không thì bị cán dẹt thành bánh kếp. Cô Uy-le-la có làm bánh kếp không?"

"Cả đời nó chưa làm cái nào, mà tôi cũng chưa thấy cái nào bao giờ", chú Em-xli nói, giọng dỗ dành. "Bình tĩnh nào, Giớt, bình tĩnh nào. Anh bị kích động rồi, cái vết thương trên đầu đang làm hỏng trí khôn của anh đấy. Cố đừng nghĩ tới bánh kếp nữa."

"Chú Em-xli", tôi nói, "đầu cháu chẳng có vết thương nào, trừ phi bản năng nhận thức tự nhiên của cháu hơi còi cọc. Giắc-xơn Bớt bảo cháu rằng gã tới thăm cô Uy-le-la là để tìm hiểu cách cô ấy làm bánh kếp, và gã nhờ cháu giúp gã lấy bản kê khai các nguyên liệu. Cháu đã làm thế, với kết quả như chú thấy đấy. Cháu đã bị cái thằng mắt hồng ẻo lả ấy chôn vùi dưới đám cỏ dại rồi phải không?"

"Anh nới tay khỏi cái áo sơ mi diện của tôi ra", chú Em-xli nói, "rồi tôi kể anh nghe. Phải, có vẻ như Giắc-xơn Bớt đã lừa anh một vố. Hôm sau cái ngày nó đi cưỡi ngựa với Uy-le-la, nó quay lại dặn tôi với con bé phải coi chừng anh mỗi khi anh nói tới chuyện bánh kếp. Nó bảo có lần anh ở một trại nọ đang làm bánh kếp, rồi một thằng trong bọn lấy chảo rán phang vào đầu anh. Giắc-xơn bảo hễ anh bị nóng quá hay bị kích động là cái vết thương ấy lại hành anh, làm anh hơi điên điên, rồi anh cứ lảm nhảm về bánh kếp. Nó dặn chúng tôi cứ lái anh ra khỏi đề tài ấy cho anh dịu xuống, thì anh sẽ không nguy hiểm. Thế nên tôi với Uy-le-la đã cố hết sức đối xử tốt với anh. Chà, chà", chú Em-xli nói, "cái thằng Giắc-xơn Bớt ấy đúng là một tay ẻo lả hiếm có."

Trong khi kể chuyện, Giớt đã chậm rãi nhưng khéo léo trộn một số thứ lấy từ các túi và các hộp của anh. Gần cuối câu chuyện, anh đặt trước mặt tôi thành phẩm: hai chiếc bánh kếp nóng hổi, vàng ươm đậm đà trên một chiếc đĩa sắt tây. Từ một chỗ cất giấu bí mật nào đó, anh còn mang ra một miếng bơ tuyệt hảo và một chai nước đường vàng óng.

— Chuyện ấy xảy ra cách đây bao lâu rồi? Tôi hỏi anh.

— Ba năm, Giớt nói. Giờ họ đang sống ở trại Lừa Sa Lầy. Nhưng từ đó tôi chẳng gặp ai trong hai người cả. Người ta bảo Giắc-xơn Bớt đã sửa sang trại của gã rất đẹp, nào ghế bập bênh, nào rèm cửa sổ, đúng trong thời gian gã đang lừa tôi trèo lên cây bánh kếp. Ồ, rồi một thời gian sau tôi cũng nguôi. Nhưng bọn trong trại thì cứ trêu mãi.

— Anh làm mấy cái bánh này theo cái công thức nổi tiếng ấy à? Tôi hỏi.

— Tôi chẳng đã bảo anh là chẳng có công thức nào cả đấy sao? Giớt nói. Bọn trong trại cứ gào bánh kếp mãi tới khi chúng nó thèm bánh kếp thật, thế là tôi cắt cái công thức này trên một tờ báo. Món ấy ăn thế nào?

— Ngon tuyệt, tôi đáp. Sao anh không ăn với tôi, Giớt?

Tôi chắc chắn là mình đã nghe thấy một tiếng thở dài.

— Tôi á? Giớt nói. Tôi chẳng bao giờ ăn thứ ấy.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Pimienta Pancakes, O. Henry, in trong tuyển tập Heart of the West
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →