Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Bé Hồng Dại

của Andrew Lang

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 14.531 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ngày xửa ngày xưa đã xảy ra những chuyện…
  2. 2:47Con chào cha!
  3. 4:37Gần tới căn nhà nhỏ của mình, ông đặt…
  4. 8:00Sáng ra, đại bàng bố về, thấy dưới gốc…
  5. 10:39Hoàng tử lắp tên vào cung, giương lên nhắm.…
  6. 12:37Tôi chỉ được cho các ông thiếu nữ sống…
  7. 13:18Bà lão xin:
  8. 14:39Bà lão cầm cái ấm treo lên một cành…

Ngày xửa ngày xưa đã xảy ra những chuyện trong câu chuyện này, mà nếu chúng không xảy ra thì câu chuyện chẳng bao giờ được kể. Ấy là cái thời sói và cừu non nằm yên lành bên nhau trong một chuồng, và những người chăn cừu ngồi ăn với vua chúa trên những bờ cỏ xanh.

Vậy thì ngày xửa ngày xưa, các cháu ngoan yêu quý của ta ơi, có một ông lão. Ông lão ấy thật ra đã một trăm tuổi, nếu không nói là một trăm hai mươi. Vợ ông cũng già lắm rồi, già bao nhiêu thì ta không biết, nhưng có người bảo bà già bằng cả nữ thần Vệ Nữ. Suốt ngần ấy năm, hai ông bà sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng giá có con thì còn hạnh phúc hơn. Già cả thế rồi mà hai ông bà vẫn chưa đành lòng sống không con. Nhiều khi hai người ngồi bên bếp lửa, bàn với nhau xem sẽ nuôi dạy con cái thế nào, giá mà có đứa nào tới nhà mình.

Một hôm, ông lão có vẻ buồn rầu, đăm chiêu hơn mọi ngày. Cuối cùng ông bảo vợ:

— Nghe tôi nói này, bà nó!

— Ông muốn gì?

— Bà lấy ít tiền trong rương cho tôi, tôi đi một chuyến xa, đi khắp thế gian, xem có tìm được một đứa con không. Lòng tôi đau lắm khi nghĩ rằng mình chết đi thì nhà cửa rơi vào tay người dưng. Mà tôi nói cho bà biết: nếu không tìm được đứa con nào thì tôi sẽ không về nữa.

Rồi ông lão lấy một cái túi, nhét đầy đồ ăn và tiền, quàng lên vai, chào từ biệt vợ.

Ông lang thang mãi, lang thang mãi, lang thang mãi, mà chẳng thấy đứa trẻ nào. Rồi một buổi sáng, bước chân lang thang đưa ông tới một khu rừng cây cối rậm rạp tới mức chẳng tia sáng nào lọt qua được cành lá. Thấy chốn ghê sợ ấy, ông lão dừng lại, lúc đầu không dám vào. Nhưng rồi ông nhớ ra rằng, như tục ngữ nói, "chuyện chẳng ngờ mới là chuyện xảy ra", và biết đâu giữa chốn tối tăm này ông lại tìm được đứa con mình đang tìm. Thế là ông lấy hết can đảm, mạnh dạn bước vào.

Ông đi trong rừng bao lâu thì chính ông cũng chẳng nói được, cho tới khi cuối cùng ông tới miệng một cái hang, nơi bóng tối như còn tối hơn khu rừng gấp trăm lần. Ông lại dừng bước. Nhưng ông thấy như có cái gì đó thôi thúc mình đi vào, và ông bước vào, tim đập thình thịch.

Mấy phút liền, sự im lặng và bóng tối làm ông khiếp sợ tới mức ông đứng nguyên chỗ cũ, không dám tiến lên một bước. Rồi ông gắng hết sức đi thêm vài bước, và bỗng nhiên, tít đằng trước, ông thấy một ánh sáng le lói. Lòng ông vững lại, ông đi thẳng về phía những tia sáng mờ nhạt ấy, cho tới khi nhìn thấy, ngồi bên ánh sáng, là một vị ẩn sĩ già râu dài bạc trắng.

Vị ẩn sĩ hoặc không nghe thấy người khách tới, hoặc giả vờ không nghe, vì ông chẳng để ý gì, cứ tiếp tục đọc sách. Kiên nhẫn chờ một lúc, ông lão quỳ xuống, nói:

— Con chào cha!

Nhưng nói thế cũng như nói với vách đá.

— Con chào cha!

Ông lại nói, to hơn lần trước một chút, và lần này vị ẩn sĩ ra hiệu cho ông lại gần. Ẩn sĩ thì thầm, giọng vang dội khắp hang:

— Con ơi, điều gì đưa con tới chốn tối tăm hiu quạnh này? Đã hàng trăm năm nay mắt ta chưa nhìn thấy mặt người, ta cứ ngỡ chẳng bao giờ còn nhìn thấy nữa.

Ông lão đáp:

— Chính nỗi khổ đã đưa con tới đây. Con không có con, cả đời vợ chồng con mong mỏi có một đứa. Vì thế con bỏ nhà đi khắp thế gian, mong ở đâu đó tìm được điều mình đang tìm.

Vị ẩn sĩ nhặt dưới đất lên một quả táo, đưa cho ông, bảo:

— Con hãy ăn một nửa quả táo này, nửa còn lại đưa cho vợ con, và thôi đừng lang thang khắp thế gian nữa.

Ông lão cúi xuống hôn chân vị ẩn sĩ vì mừng quá, rồi rời khỏi hang. Ông vượt qua khu rừng nhanh hết mức bóng tối cho phép, cuối cùng tới những cánh đồng đầy hoa, sáng rực tới loá mắt. Bỗng ông khát khô cả cổ, cổ họng nóng rát. Ông tìm một con suối, nhưng chẳng thấy con suối nào, mà lưỡi ông mỗi lúc một khô khốc hơn. Cuối cùng mắt ông rơi vào quả táo nãy giờ vẫn cầm trên tay. Khát quá, ông quên lời vị ẩn sĩ dặn, không chỉ ăn nửa phần mình mà ăn luôn cả nửa phần của bà lão. Ăn xong, ông lăn ra ngủ.

Khi tỉnh dậy, ông thấy có cái gì đó lạ lùng nằm trên một bờ đất cách đấy không xa, giữa những dây hồng màu hồng phấn buông dài. Ông lão đứng dậy, dụi mắt, đi lại xem là gì. Ông vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ thấy đó là một bé gái chừng hai tuổi, da hồng hồng trắng trắng như những bông hồng phía trên. Ông nhẹ nhàng bế bé lên, nhưng bé chẳng có vẻ gì sợ hãi, chỉ nhún nhảy, bi bô vì thích thú. Ông lão quấn áo choàng quanh bé, rồi cắm cúi về nhà nhanh hết sức đôi chân cho phép.

Gần tới căn nhà nhỏ của mình, ông đặt đứa bé vào một cái thùng gỗ để cạnh cửa, rồi chạy vào nhà kêu lên:

— Bà nó ơi, ra nhanh lên, nhanh lên, tôi mang về cho bà một đứa con gái đây, tóc vàng như tơ, mắt sáng như sao!

Nghe tin kỳ diệu ấy, bà lão chạy như bay xuống thang, suýt ngã nhào vì nóng lòng được nhìn báu vật. Nhưng khi ông lão dẫn bà tới chỗ cái thùng thì nó trống trơn! Ông lão kinh hãi gần như phát điên, còn bà vợ ngồi sụp xuống khóc nức nở vì đau đớn, thất vọng. Quanh đó chẳng chỗ nào là họ không tìm, nghĩ biết đâu đứa bé đã bò ra khỏi thùng trốn đi chơi. Nhưng bé gái chẳng có ở đó, cũng chẳng để lại dấu vết gì.

Ông lão tuyệt vọng rên rỉ:

— Con bé đâu rồi? Ôi, sao mình lại bỏ nó lại, dù chỉ một lát thôi chứ? Tiên bắt nó đi rồi, hay thú dữ tha mất nó rồi?

Rồi hai ông bà lại đi tìm lại từ đầu. Nhưng họ chẳng gặp tiên, cũng chẳng gặp thú dữ nào. Cuối cùng, lòng đau như cắt, họ đành thôi tìm, buồn bã quay vào túp lều.

Thế còn đứa bé thì sao? Này nhé, thấy mình bị bỏ lại một mình ở chỗ lạ, bé khóc thét lên vì sợ. Một con đại bàng đang lượn gần đó nghe thấy, bay tới xem tiếng ấy từ đâu ra. Thấy cái sinh vật hồng hồng trắng trắng mũm mĩm, nó nghĩ ngay tới lũ con đang đói ở nhà. Nó sà xuống quắp bé vào móng, chỉ thoáng sau đã bay qua những ngọn cây. Mấy phút sau, nó về tới cái cây nơi nó làm tổ, đặt bé Hồng Dại, ông lão đã đặt tên cho bé như thế, vào giữa lũ đại bàng con lông tơ mềm mại, rồi bay đi.

Lũ đại bàng con dĩ nhiên khá ngạc nhiên trước con vật lạ bỗng dưng rơi vào giữa chúng. Nhưng thay vì bắt đầu ăn thịt bé như bố chúng mong, chúng lại rúc sát vào bé, xoè đôi cánh bé xíu che nắng cho bé.

Trong lòng khu rừng nơi đại bàng làm tổ có một con suối nước độc. Bên bờ suối có một con thuồng luồng bảy đầu ghê tởm. Con thuồng luồng đã nhiều lần nhìn con đại bàng bay quanh ngọn cây, mang mồi về cho lũ con, nên nó canh chừng rất kỹ cái lúc lũ đại bàng con bắt đầu tập bay, rời khỏi tổ. Dĩ nhiên, nếu đại bàng bố có mặt để bảo vệ chúng thì đến con thuồng luồng to khoẻ là thế cũng biết mình chẳng làm gì được. Nhưng hễ đại bàng bố đi vắng, chú đại bàng con nào dám bay xuống gần mặt đất là thế nào cũng mất hút trong cổ họng con quái vật.

Những đứa anh em còn ở lại trong tổ, vì còn quá non yếu chưa được đi xem thế giới, chẳng biết gì về những chuyện ấy, chỉ nghĩ chẳng bao lâu nữa sẽ tới lượt mình được đi chơi. Mấy hôm sau, mắt chúng cũng mở, cánh chúng cũng nóng lòng vỗ vỗ, chúng khao khát được bay lên trên những ngọn cây đung đưa, bay tới núi non và mặt trời rực rỡ đằng xa.

Nhưng ngay nửa đêm hôm ấy, con thuồng luồng đói bụng không chờ được bữa tối, từ dưới suối trườn lên ào ào, đi thẳng tới cái cây. Hai con mắt rực lửa bò lại gần, gần mãi, hai cái lưỡi lửa vươn ra sát mãi, sát mãi về phía lũ chim non đang run rẩy co ro ở góc tổ xa nhất. Nhưng đúng lúc hai cái lưỡi gần chạm tới chúng thì con thuồng luồng rú lên một tiếng khủng khiếp, quay người ngã ngửa ra sau. Rồi từ dưới đất vọng lên tiếng giao tranh, cái cây rung chuyển dù chẳng có gió, tiếng gầm tiếng gừ trộn lẫn vào nhau, tới mức lũ đại bàng con còn sợ hơn bao giờ hết, tưởng giờ tận số đã tới. Chỉ có bé Hồng Dại là chẳng biết gì, cứ ngủ ngon lành suốt từ đầu tới cuối.

Sáng ra, đại bàng bố về, thấy dưới gốc cây có dấu vết một trận đánh nhau, chỗ này một nhúm bờm vàng, chỗ kia một thứ vảy cứng. Thấy thế nó mừng lắm, vội bay lên tổ.

Nó hỏi lũ con:

— Ai đã giết con thuồng luồng thế?

Con nó đông tới mức ban đầu nó chẳng thấy thiếu hai đứa đã bị con thuồng luồng ăn thịt. Nhưng lũ đại bàng con đáp rằng chúng không biết, chỉ biết mình đã suýt mất mạng, và vào phút cuối thì được cứu. Bấy giờ một tia nắng xuyên qua đám cành rậm, chiếu vào mái tóc vàng của bé Hồng Dại đang nằm cuộn tròn trong góc tổ. Đại bàng nhìn bé mà thầm nghĩ, liệu có phải cô bé đã đem lại may mắn cho mình, có phải phép màu của cô bé đã giết kẻ thù của mình không.

Nó bảo:

— Các con, ta mang con bé về để các con ăn thịt, mà các con chẳng động tới nó. Thế là nghĩa làm sao?

Nhưng lũ đại bàng con chẳng trả lời. Bé Hồng Dại mở mắt ra, trông đẹp hơn trước gấp bảy lần.

Từ hôm ấy, bé Hồng Dại sống như một nàng công chúa nhỏ. Đại bàng bay khắp rừng gom thứ rêu mềm nhất, xanh nhất để làm giường cho bé, rồi lấy mỏ ngắt những bông hoa rực rỡ nhất, xinh nhất trên đồng, trên núi về trang trí. Nó làm khéo tới mức chẳng nàng tiên nào trong rừng lại không thích được ngủ trên chiếc giường ấy, được làn gió trên ngọn cây ru đưa qua đưa lại. Khi lũ con đã bay được khỏi tổ, nó dạy chúng tìm những thứ quả, thứ dâu mà bé thích.

Thời gian cứ thế trôi qua. Năm này qua năm khác, bé Hồng Dại lớn lên, mỗi năm một cao hơn, đẹp hơn. Cô sống vui vẻ trong tổ, chẳng bao giờ muốn ra ngoài, chỉ đứng ở mép tổ lúc hoàng hôn ngắm nhìn thế giới tươi đẹp. Bầu bạn với cô là tất cả chim chóc trong rừng, chúng tới trò chuyện với cô. Đồ chơi của cô là những bông hoa lạ chim mang từ xa về, và những cánh bướm nhảy múa cùng cô. Ngày tháng cứ thế lặng lẽ trôi, và cô đã mười bốn tuổi.

Một buổi sáng, con trai hoàng đế đi săn. Chàng chưa đi được bao xa thì một con hươu từ dưới lùm cây vụt chạy ra trước mặt. Hoàng tử lập tức đuổi theo. Con hươu chạy tới đâu chàng theo tới đó, cho tới khi chàng thấy mình đã ở tận sâu trong rừng, nơi chưa người nào từng đặt chân tới.

Cây cối rậm rạp, rừng tối tới mức chàng phải dừng lại một lúc, lắng tai nghe xem có âm thanh nào phá vỡ sự im lặng gần như làm chàng sợ hãi. Nhưng chẳng có gì, đến tiếng chó săn sủa hay tiếng tù và cũng không. Chàng đứng yên, phân vân không biết có nên đi tiếp không. Ngẩng lên, chàng thấy như có một dòng ánh sáng tuôn ra từ ngọn một cây cao. Trong những tia sáng ấy, chàng thấy cái tổ với lũ đại bàng con đang ngó qua mép tổ nhìn mình.

Hoàng tử lắp tên vào cung, giương lên nhắm. Nhưng chưa kịp bắn, thì một tia sáng khác làm chàng loá mắt. Nó sáng rực tới mức cây cung rơi khỏi tay chàng, chàng phải lấy tay che mặt. Khi cuối cùng chàng dám nhìn lên, thì Hồng Dại, mái tóc vàng xoã quanh người, đang nhìn chàng. Đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy một con người.

Chàng kêu lên:

— Nói cho ta biết làm sao lên được chỗ nàng?

Nhưng Hồng Dại chỉ mỉm cười lắc đầu, rồi lặng lẽ ngồi xuống.

Hoàng tử thấy chẳng ích gì, đành quay lại tìm đường ra khỏi rừng. Nhưng chàng về cũng như không, chẳng giúp gì được cho vua cha, vì lòng chàng tràn đầy nhớ mong Hồng Dại. Hai lần chàng trở lại khu rừng mong tìm thấy cô, nhưng lần nào vận may cũng không mỉm cười với chàng, và chàng lại buồn bã trở về.

Cuối cùng, hoàng đế không hiểu vì sao con trai lại đổi khác như vậy, bèn cho gọi tới hỏi có chuyện gì. Hoàng tử thú thật rằng hình bóng Hồng Dại đã choán đầy tâm hồn chàng, không có cô thì chàng chẳng bao giờ hạnh phúc được. Lúc đầu hoàng đế hơi phiền lòng. Ngài ngờ rằng một cô gái từ ngọn cây xuống liệu có thành một hoàng hậu tốt không. Nhưng ngài thương con quá, nên hứa sẽ làm mọi cách để tìm cô.

Sáng hôm sau, các sứ giả được phái đi khắp nước, hỏi xem có ai biết chỗ nào có một thiếu nữ sống trên ngọn cây giữa rừng không, hứa sẽ thưởng giàu sang và một chức vị trong triều cho ai tìm được cô. Nhưng chẳng ai biết cả. Mọi cô gái trong vương quốc đều có nhà trên mặt đất, và họ cười nhạo cái ý nghĩ được nuôi lớn trên ngọn cây. Họ hất hàm khinh khỉnh, nói y như hoàng đế đã nói:

— Thế thì thành một hoàng hậu ra trò đấy!

Vì đọc nhiều sách, họ đoán ra người ta tìm cô gái ấy để làm gì.

Các sứ giả gần như tuyệt vọng thì một bà lão bước ra khỏi đám đông, tới nói chuyện với họ. Bà không chỉ già lắm mà còn xấu xí lắm, lưng gù, đầu hói. Thấy bà, các sứ giả phá lên cười chế giễu.

Bà nói:

— Tôi chỉ được cho các ông thiếu nữ sống trên ngọn cây.

Nhưng họ chỉ càng cười to hơn.

— Cút đi, mụ phù thuỷ già! Mụ sẽ đem xui xẻo tới cho chúng ta mất!

Nhưng bà lão vẫn đứng vững, một mực nói rằng chỉ mình bà biết tìm thiếu nữ ấy ở đâu.

Cuối cùng, vị sứ giả lớn tuổi nhất bảo:

— Cứ đi với mụ. Lệnh hoàng đế đã rõ ràng, ai biết điều gì về thiếu nữ ấy thì phải tới ngay triều đình. Đưa mụ lên xe, mang theo.

Thế là bà lão được đưa vào triều như vậy.

Hoàng đế ngồi trên ngai, hỏi:

— Ngươi đã tuyên bố rằng ngươi đưa được thiếu nữ trong rừng về đây phải không?

— Vâng, tâu bệ hạ, và già sẽ giữ lời.

— Vậy thì mang cô ấy về ngay.

Bà lão xin:

— Trước hết bệ hạ cho già một cái ấm và một cái kiềng ba chân.

Hoàng đế truyền mang tới ngay. Bà lão cầm lấy, cắp vào nách, rồi lên đường, đi cách một quãng sau đám thợ săn của hoàng đế, còn đám thợ săn thì đi theo hoàng tử.

Ôi, bà lão vừa đi vừa ồn ào biết bao! Bà vừa đi vừa lẩm bẩm một mình nhanh như máy, khua cái ấm loảng xoảng tới mức người ta tưởng có cả một đoàn người ồn ã sắp hiện ra ở khúc quanh. Nhưng tới khu rừng, bà bảo mọi người chờ ở ngoài, rồi một mình bước vào rừng tối.

Bà dừng lại ngay dưới gốc cây nơi thiếu nữ ở, nhặt ít cành khô nhóm lửa. Kế đó bà đặt cái kiềng lên trên lửa, rồi đặt cái ấm lên trên kiềng. Nhưng cái ấm cứ trục trặc thế nào ấy. Bà lão vừa đặt nó vào chỗ là nó lại lăn khỏi kiềng, rơi xuống đất đánh xoảng một cái.

Trông nó cứ như bị bỏ bùa thật. Chẳng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu Hồng Dại, nãy giờ vẫn ngó ra khỏi tổ, không mất kiên nhẫn vì cái vụng về của bà lão mà kêu lên:

— Cái kiềng không đứng được trên cái mô đất ấy đâu, bà phải dời nó đi!

Bà lão ngước lên tổ, một tay cố giữ cái ấm, một tay giữ cái kiềng, hỏi:

— Nhưng dời đi đâu hả cháu?

Hồng Dại nói, sốt ruột hơn trước:

— Cháu đã bảo làm thế chẳng ích gì mà. Bà nhóm lửa gần một cái cây, rồi treo ấm lên một cành cây ấy.

Bà lão cầm cái ấm treo lên một cành nhỏ, cành gãy ngay, cái ấm lại rơi xuống đất.

Bà bảo:

— Giá cháu chỉ cho bà làm thì may ra bà mới hiểu.

Nhanh như chớp, thiếu nữ tuột xuống theo thân cây trơn nhẵn, đứng bên cạnh bà lão vụng về để dạy bà làm cho đúng cách. Nhưng chỉ trong nháy mắt, bà lão đã tóm lấy cô gái, vác lên vai, chạy nhanh hết sức ra bìa rừng, nơi bà đã để hoàng tử chờ. Thấy họ tới, chàng háo hức lao ra đón, ôm thiếu nữ vào lòng, hôn cô âu yếm trước mặt mọi người.

Rồi người ta mặc cho cô một bộ áo vàng, kết ngọc trai lên tóc cô, đưa cô lên ngồi trong cỗ xe của hoàng đế do sáu con ngựa trắng nhất thế gian kéo, chở thẳng một mạch tới cổng cung điện, chẳng dừng lại lấy hơi. Ba ngày sau, đám cưới được cử hành, tiệc cưới được dọn ra. Ai thấy cô dâu cũng đều nói rằng, nếu ai muốn tìm một người vợ hoàn hảo, thì cứ lên tận ngọn cây mà tìm.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian Ru-ma-ni, theo bản Đức Rumänische Märchen của Mite Kremnitz, 1882; dịch từ bản tiếng Anh Little Wildrose, Andrew Lang, The Crimson Fairy Book, 1903
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →