Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bữa ăn đêm Giáng sinh

của Guy de Maupassant

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 10.396 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi chẳng còn nhớ đúng năm nào nữa. Suốt…
  2. 2:37Chị hầu gái đang dọn chỗ cho chúng tôi…
  3. 4:33"Đi rồi à!"
  4. 5:56"Lúc về ta sẽ ghé," ông anh họ tôi…
  5. 8:18Rầu rĩ, với vẻ buồn thảm và bộ mặt…
  6. 9:24Hai người nông dân, nãy giờ vẫn điềm nhiên,…
  7. 10:16Nhưng người đàn ông, đã quyết rồi, đáp với…
  8. 11:19Lúc ấy người đàn bà bắt đầu sụt sịt,…

Tôi chẳng còn nhớ đúng năm nào nữa. Suốt một tháng trời tôi đi săn say mê, với một niềm vui hoang dại, với cái nhiệt tình người ta vẫn có cho những đam mê mới.

Tôi đang ở Noóc-măng-đi, tại nhà một người bà con chưa vợ, Giuyn đơ Ban-nơ-vin, chỉ có tôi với anh, chị hầu gái, một người đầy tớ và một người gác rừng, trong toà lâu đài của dòng họ anh. Toà lâu đài ấy là một khối nhà cũ màu xám, bao quanh là những cây thông rên rỉ, giữa những hàng sồi dài thăm thẳm nơi gió phi nước đại. Trông nó như đã bị bỏ hoang từ hàng thế kỷ. Chỉ có đồ đạc cổ xưa là sống trong những căn phòng lúc nào cũng đóng kín. Ngày xưa, ở đó, những con người mà nay chỉ còn chân dung treo dọc một hành lang lộng gió chẳng kém gì những hàng cây ngoài kia, từng long trọng tiếp đón các bậc quý tộc láng giềng.

Còn chúng tôi, chúng tôi chỉ đơn giản trú trong nhà bếp, góc duy nhất còn ở được của toà lâu đài. Một gian bếp mênh mông, những góc xa tối om chỉ sáng lên khi người ta ném thêm một bó củi vào cái lò sưởi rộng. Mỗi tối, sau một hồi lơ mơ êm ái bên ngọn lửa, khi đôi ủng ướt sũng của chúng tôi đã bốc hơi một lúc lâu, khi lũ chó săn nằm cuộn tròn giữa chân chúng tôi đã mơ thấy cuộc săn mà sủa lên như những kẻ mộng du, chúng tôi lên phòng ngủ.

Đó là căn phòng duy nhất người ta cho làm trần và trát vữa khắp nơi, vì lũ chuột. Nhưng nó vẫn trơ trụi, chỉ quét vôi trắng, trên tường treo súng, roi chó và tù và săn. Chúng tôi run cầm cập chui vào giường, ở hai góc của cái chòi Xi-bê-ri ấy.

Cách lâu đài chừng một dặm về phía trước, vách đá dựng đứng đổ xuống biển. Những luồng gió mạnh từ đại dương, ngày cũng như đêm, khiến những cây cao còng lưng thở dài, khiến mái nhà và những chiếc chong chóng gió rên rỉ, khiến cả toà nhà cổ kính kêu răng rắc. Gió tràn vào nó qua những viên ngói xô lệch, qua những ống khói rộng như vực thẳm, qua những cửa sổ không còn đóng kín được nữa.

Hôm ấy trời rét khủng khiếp. Đêm đã xuống. Chúng tôi sắp ngồi vào bàn trước ngọn lửa lớn của cái lò sưởi cao, nơi đang quay một khúc lưng thỏ rừng kèm hai con gà gô thơm phức.

Ông anh họ tôi ngẩng lên: "Lúc đi ngủ chắc chẳng ấm áp gì đâu."

Tôi thờ ơ đáp: "Không, nhưng sáng mai ra ao sẽ có vịt trời."

Chị hầu gái đang dọn chỗ cho chúng tôi ở một đầu bàn và chỗ cho đám người làm ở đầu kia, hỏi: "Các ông có biết tối nay là đêm Giáng sinh không ạ?"

Chắc chắn là chúng tôi chẳng biết gì, vì chúng tôi có mấy khi xem lịch. Bạn tôi nói: "Vậy tối nay có lễ nửa đêm. Thảo nào chuông cứ rung suốt cả ngày!"

Chị hầu gái đáp: "Vừa phải vừa không, thưa ông. Người ta còn rung chuông vì ông cụ Phuốc-nen chết rồi."

Ông cụ Phuốc-nen, người chăn cừu già, là một nhân vật nổi tiếng trong vùng. Chín mươi sáu tuổi, ông chưa từng đau ốm bao giờ, cho tới một tháng trước, ông bị nhiễm lạnh vì ngã xuống một cái ao trong một đêm tối trời. Hôm sau ông nằm liệt giường. Từ đó ông cứ hấp hối mãi.

Ông anh họ quay sang tôi: "Nếu chú muốn, lát nữa anh em mình đi thăm mấy người tội nghiệp ấy." Anh muốn nói gia đình ông cụ, gồm anh cháu nội năm mươi tám tuổi và chị vợ kém chồng một tuổi. Thế hệ ở giữa đã không còn từ lâu. Họ ở trong một túp lều thảm hại, ở đầu xóm, bên tay phải.

Nhưng chẳng hiểu sao, cái ý nghĩ về lễ Giáng sinh, giữa chốn cô quạnh này, lại khiến chúng tôi muốn trò chuyện. Hai anh em ngồi riêng với nhau, kể cho nhau nghe những đêm Giáng sinh ngày trước, những cuộc phiêu lưu của cái đêm điên rồ ấy, những cuộc vui đã qua và những buổi thức dậy sáng hôm sau với bao điều bất ngờ.

Thế nên bữa tối kéo dài mãi. Tiếp theo là không biết bao nhiêu tẩu thuốc. Tràn ngập cái niềm vui của những kẻ sống đơn độc, thứ niềm vui dễ lây bỗng nảy sinh giữa hai người bạn thân, chúng tôi nói không ngừng, lục lọi trong lòng mình để kể cho nhau những kỷ niệm riêng tư của trái tim, những điều chỉ thoát ra trong những giờ phút cởi mở.

Chị hầu gái đã đi từ lâu, lại hiện ra: "Tôi đi lễ đây, thưa ông."

"Đi rồi à!"

"Mười hai giờ kém mười lăm rồi ạ."

"Hay là mình cũng đi tới nhà thờ?" Giuyn hỏi. "Lễ Giáng sinh ở thôn quê lạ lắm."

Tôi đồng ý, và chúng tôi lên đường, quấn mình trong những tấm áo lông đi săn.

Cái rét buốt châm chích vào mặt, làm chảy nước mắt. Không khí lạnh tê buốt chộp lấy hai lá phổi, làm khô rát cổ họng. Bầu trời thăm thẳm, trong và cứng, lốm đốm những vì sao tưởng như đã bị sương giá làm cho nhợt đi. Chúng không lấp lánh như những đốm lửa, mà như những tinh tú bằng băng, những tinh thể óng ánh. Đằng xa, trên mặt đất cứng như đồng, khô và vang dội, tiếng guốc của dân quê khua lóc cóc. Khắp chân trời, những quả chuông nhỏ của các làng ngân lên, ném những nốt nhạc mảnh mai, như cũng đang rét run, vào màn đêm giá lạnh mênh mông.

Thôn quê không ngủ. Những con gà trống, bị lừa vì những tiếng động ấy, cất tiếng gáy. Đi dọc những chuồng gia súc, người ta nghe tiếng lũ vật cựa quậy, xao động vì những âm thanh của sự sống.

Gần tới xóm, Giuyn sực nhớ tới nhà Phuốc-nen. "Lều nhà họ đây rồi," anh nói. "Mình vào đi!"

Anh gõ cửa mãi mà chẳng ai mở. Một bà hàng xóm vừa ra khỏi nhà đi lễ, trông thấy chúng tôi, bảo: "Họ đi lễ cả rồi, thưa các ông. Họ đi cầu nguyện cho ông cụ."

"Lúc về ta sẽ ghé," ông anh họ tôi nói.

Vầng trăng đang tàn in hình lưỡi liềm ở mép chân trời, giữa vô vàn những hạt sáng lấp lánh như được vãi từng nắm vào khoảng không. Và khắp cánh đồng đen thẫm, những đốm lửa nhỏ run rẩy từ khắp nơi kéo về phía tháp chuông nhọn đang rung không ngớt. Giữa những sân trại trồng cây, giữa những cánh đồng tối om, những đốm lửa ấy nhảy nhót, là là sát mặt đất. Đó là những chiếc đèn lồng bằng sừng mà đàn ông nhà quê cầm đi trước, theo sau là những bà vợ đội mũ trắng, quấn áo choàng dài màu đen, rồi đến lũ trẻ còn ngái ngủ, nắm tay nhau đi trong đêm.

Qua cửa nhà thờ mở rộng, người ta thấy gian cung thánh sáng rực. Một dây nến loại một xu chạy vòng quanh gian giữa nghèo nàn. Và dưới đất, trong một gian nguyện bên trái, một tượng Chúa Hài Đồng mũm mĩm nằm trên rơm thật, giữa những cành thông, phô tấm thân trần hồng hào và điệu đà.

Buổi lễ bắt đầu. Đàn ông cúi rạp, đàn bà quỳ gối, cầu nguyện. Những con người chất phác ấy, bị đêm lạnh lôi dậy, xúc động nhìn bức tượng sơn phết vụng về, chắp tay lại, vừa ngây thơ tin tưởng vừa rụt rè trước vẻ lộng lẫy khiêm nhường của cảnh bày biện trẻ con ấy.

Không khí giá lạnh làm những ngọn nến chập chờn. Giuyn bảo tôi: "Ra thôi! Ở ngoài còn dễ chịu hơn."

Và trên con đường vắng, trong lúc tất cả dân quê đang phủ phục run rẩy một cách sùng kính, chúng tôi lại kể tiếp những kỷ niệm của mình, lâu đến nỗi khi quay về xóm thì buổi lễ đã tan.

Một vệt sáng mảnh lọt ra dưới cửa nhà Phuốc-nen. "Họ đang canh xác," ông anh họ tôi nói. "Lần này thì vào thăm mấy người tội nghiệp ấy, chắc họ sẽ vui lắm."

Trong lò sưởi, mấy que củi đang hấp hối. Căn phòng tối om, nhẫy bóng vì cáu bẩn, những cây xà mọt ruỗng sạm màu vì năm tháng, đặc sệt một mùi dồi nướng ngột ngạt. Giữa chiếc bàn lớn, bên dưới là cái thùng đựng bánh mì phình ra như một cái bụng suốt chiều dài bàn, một ngọn nến cắm trên cây đèn sắt vặn vẹo đang toả lên tận trần nhà làn khói khét lẹt từ cái bấc cháy thành hình cây nấm. Và hai vợ chồng Phuốc-nen đang ngồi riêng với nhau ăn bữa đêm Giáng sinh.

Rầu rĩ, với vẻ buồn thảm và bộ mặt đờ đẫn của dân quê, họ ăn một cách nghiêm trang, chẳng nói một lời. Trên một cái đĩa duy nhất đặt giữa hai người, một khúc dồi to đang bốc hơi hôi hám. Thỉnh thoảng họ lấy mũi dao xé một mẩu, dí lên bánh mì cắt thành từng miếng, rồi nhai chậm rãi.

Khi cốc của người đàn ông cạn, người đàn bà cầm bình rượu táo rót đầy.

Thấy chúng tôi vào, họ đứng dậy, mời ngồi, mời "ăn cùng cho vui". Chúng tôi từ chối, họ lại ngồi ăn tiếp.

Im lặng được vài phút, ông anh họ tôi hỏi: "Thế nào, anh Ăng-tim, ông cụ mất rồi à?"

"Vâng, thưa ông, ông cụ đi chiều nay rồi."

Im lặng lại bắt đầu. Người đàn bà, vì phép lịch sự, khêu lại bấc nến. Lúc ấy, để nói một câu gì đó, tôi thêm vào: "Ông cụ thọ lắm."

Bà cháu dâu năm mươi bảy tuổi đáp: "Ôi chao! Thời của ông cụ hết rồi, ông cụ chẳng còn việc gì ở đây nữa."

Bỗng tôi nảy ra ý muốn nhìn xác ông cụ trăm tuổi, và tôi xin họ cho xem.

Hai người nông dân, nãy giờ vẫn điềm nhiên, bỗng nhiên xao động. Đôi mắt lo lắng của họ dò hỏi nhau, và họ không đáp.

Ông anh họ tôi, thấy họ bối rối, càng nài.

Lúc ấy người đàn ông mới hỏi, vẻ nghi ngờ và lấm lét:

"Xem để làm gì cơ ạ?"

"Chẳng để làm gì," Giuyn đáp, "nhưng ngày nào người ta chẳng làm thế. Sao anh chị lại không muốn cho xem?"

Bác nông dân nhún vai:

"Ôi, tui thì tui muốn lắm chứ. Có điều, vào giờ này thì khó."

Hàng nghìn phỏng đoán lướt qua đầu chúng tôi. Vì hai đứa cháu của người chết vẫn không nhúc nhích, cứ ngồi đối mặt nhau, mắt nhìn xuống, với cái bộ mặt gỗ của những người không bằng lòng, như muốn nói "Đi đi cho", nên ông anh họ tôi nói bằng giọng ra lệnh: "Nào, anh Ăng-tim, đứng dậy, đưa chúng tôi vào buồng ông cụ."

Nhưng người đàn ông, đã quyết rồi, đáp với vẻ cau có: "Chẳng cần đâu, ông cụ không còn ở trong ấy nữa, thưa ông."

"Thế thì ông cụ ở đâu?"

Người đàn bà cắt ngang lời chồng:

"Để tui nói các ông nghe. Chúng tui để ông cụ trong cái thùng bánh mì tới mai, vì chẳng có chỗ nào."

Rồi bà dọn đĩa dồi đi, nhấc tấm nắp bàn lên, cầm nến cúi xuống soi vào bên trong cái hòm lớn đang há ra. Dưới đáy, chúng tôi thấy một vật gì màu xám, một thứ như cái gói dài, một đầu thò ra một cái đầu gầy guộc với mái tóc bạc rối bù, đầu kia thò ra hai bàn chân trần.

Đó là ông cụ, khô đét, mắt nhắm nghiền, cuộn trong tấm áo choàng chăn cừu, đang ngủ giấc ngủ cuối cùng ở đó, giữa những mẩu bánh mì cũ đen sì, cũng lâu đời như ông.

Con cháu ông đã ăn bữa đêm Giáng sinh ngay trên mình ông!

Giuyn phẫn nộ, run lên vì giận, quát: "Sao các người không để ông cụ nằm trên giường, đồ nhà quê thô lỗ kia?"

Lúc ấy người đàn bà bắt đầu sụt sịt, và nói rất nhanh:

"Để tui nói ông nghe, ông lớn tốt bụng ơi, nhà chúng tui chỉ có mỗi một cái giường. Trước đây chúng tui vẫn ngủ chung với ông cụ, vì cả nhà có ba người. Từ hồi ông cụ ốm nặng, chúng tui nằm đất. Cứng lắm, ông lớn ơi, mà lại vào cái tiết trời này. Thế rồi chiều nay, lúc ông cụ đi rồi, chúng tui mới bảo nhau thế này: Ông cụ không còn đau đớn gì nữa, để ông cụ nằm trên giường thì được ích gì? Mình cứ để ông cụ trong thùng bánh mì tới mai, rồi đêm nay rét thế này, mình lấy lại cái giường mà ngủ. Chứ chúng tui đâu có thể nằm chung với người chết được, các ông lớn ơi!..."

Ông anh họ tôi, điên tiết, đùng đùng bỏ ra ngoài, đóng sầm cửa lại. Còn tôi đi theo anh, cười chảy cả nước mắt.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Un réveillon, in trên báo Gil Blas năm 1882, tập Mademoiselle Fifi, Ollendorff 1898
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →