Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đi tìm hoàng hậu

Bữa tiệc đêm Lễ Ba Vua · Chương 1/2 · của Guy de Maupassant

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 11.859 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06À, đại uý bá tước đờ Ga-răng nói, tôi…
  2. 3:19Ra lệnh đi chứ, khỉ thật!
  3. 5:15Tôi nhắc lại như tiếng vọng:
  4. 6:08Ông cha xứ à? Để làm gì?
  5. 8:05Tôi tìm thấy ngay ngôi nhà nhỏ của ông…
  6. 9:08Thưa cha, chúng con ở đây có mười một…
  7. 10:59Ông ngần ngừ, suy nghĩ, rồi tuyên bố:
  8. 12:54Bao nhiêu bộ đồ ăn? Mác-sa hỏi ngay khi…

Chương 1: Đi tìm hoàng hậu

- À, đại uý bá tước đờ Ga-răng nói, tôi nhớ chứ, cái bữa tiệc đêm Lễ Ba Vua hồi chiến tranh ấy!

Hồi ấy tôi là trung sĩ kỵ binh khinh giáp, và đã mười lăm ngày nay đi trinh sát trước mặt một đội tiền quân Đức. Hôm trước, chúng tôi đã chém mấy tên kỵ binh U-lan và mất ba người, trong đó có cậu Rô-đơ-vin bé nhỏ tội nghiệp. Các anh còn nhớ chứ, Giô-dép đờ Rô-đơ-vin ấy.

Thế rồi hôm ấy, ông đại uý của tôi ra lệnh cho tôi đem mười kỵ binh đến chiếm và canh giữ suốt đêm làng Poóc-tơ-ranh, nơi người ta đã đánh nhau năm lần trong ba tuần. Trong cái tổ ong vò vẽ ấy không còn tới hai mươi nóc nhà đứng vững và chẳng còn tới mười hai người dân.

Vậy là tôi đem mười kỵ binh lên đường lúc khoảng bốn giờ. Năm giờ, giữa đêm tối, chúng tôi tới những bức tường đầu tiên của làng Poóc-tơ-ranh. Tôi cho dừng lại và ra lệnh cho Mác-sa, các anh biết đấy, Pi-e đờ Mác-sa, người sau này lấy cô bé Mác-ten Ô-vơ-lanh, con gái ngài hầu tước Mác-ten Ô-vơ-lanh, một mình vào làng và mang tin về cho tôi.

Tôi chỉ chọn những người tình nguyện, toàn con nhà tử tế. Trong quân ngũ mà không phải mày tao với bọn thô lỗ thì cũng dễ chịu. Cái cậu Mác-sa này lanh lợi chẳng ai bằng, tinh như cáo và mềm dẻo như rắn. Cậu đánh hơi ra bọn Phổ như chó đánh hơi thỏ, tìm ra lương thực ở những chỗ mà không có cậu thì chúng tôi đã chết đói, và cậu moi được tin tức ở mọi người, những tin tức bao giờ cũng chính xác, với một sự khéo léo không thể tưởng tượng nổi.

Mười phút sau cậu quay lại:

- Ổn cả, cậu bảo. Ba hôm nay không có tên Phổ nào đi qua đây. Cái làng này thê thảm lắm. Tôi đã nói chuyện với một bà phước đang trông bốn năm người ốm trong một tu viện bỏ hoang.

Tôi ra lệnh tiến lên, và chúng tôi đi vào con phố chính. Bên phải, bên trái, người ta lờ mờ thấy những bức tường không mái, khó khăn lắm mới nhìn ra được trong đêm đen đặc. Chỗ này chỗ kia, một ngọn đèn sáng sau ô kính: một gia đình đã ở lại để giữ ngôi nhà còn gần như nguyên vẹn của mình, một gia đình gan dạ hoặc nghèo khổ. Mưa bắt đầu rơi, một cơn mưa lất phất, giá buốt, làm chúng tôi cóng người trước cả khi kịp làm ướt, chỉ cần chạm vào áo choàng. Ngựa vấp phải đá, phải xà nhà, phải đồ đạc. Mác-sa đi bộ dẫn đường phía trước, tay dắt cương ngựa.

- Cậu đưa bọn mình đi đâu thế? tôi hỏi.

Cậu đáp:

- Tôi có chỗ trọ rồi, một chỗ tốt.

Lát sau cậu dừng lại trước một ngôi nhà tư sản nhỏ còn nguyên vẹn, đóng kín cửa, xây sát mặt phố, có khu vườn phía sau.

Dùng một hòn đá to nhặt cạnh hàng rào sắt, Mác-sa phá tung ổ khoá, rồi leo lên thềm, đạp và lấy vai huých tung cửa ra vào, thắp một mẩu nến lúc nào cũng có sẵn trong túi, rồi đi trước dẫn chúng tôi vào một chỗ ở tiện nghi và ấm cúng của một nhà giàu. Cậu dẫn đường đầy tự tin, một sự tự tin đáng phục, như thể cậu đã sống trong ngôi nhà mà cậu mới thấy lần đầu này.

Hai người ở lại bên ngoài trông ngựa.

Mác-sa bảo cậu Pông-đơ-ren to béo đang theo sau:

- Chuồng ngựa chắc ở bên trái đấy, lúc vào tôi thấy rồi. Cậu đi cất ngựa vào đó đi, giờ mình chưa cần chúng.

Rồi quay sang tôi:

- Ra lệnh đi chứ, khỉ thật!

Cái gã này lúc nào cũng làm tôi ngạc nhiên. Tôi cười đáp:

- Tôi đi đặt lính gác quanh làng. Tôi sẽ gặp lại cậu ở đây.

Cậu hỏi:

- Cậu đem theo bao nhiêu người?

- Năm. Mấy người kia sẽ đổi gác lúc mười giờ tối.

- Được. Cậu để lại cho tôi bốn người lo kiếm lương thực, nấu nướng và bày bàn. Còn tôi, tôi sẽ đi tìm chỗ giấu rượu.

Và tôi đi xem xét những con phố vắng tanh đến tận chỗ ra cánh đồng, để đặt lính gác.

Nửa tiếng sau tôi quay về. Tôi thấy Mác-sa nằm dài trong một chiếc ghế bành lớn kiểu Vôn-te mà cậu đã lột tấm vải bọc ra, vì yêu sự xa hoa, cậu bảo thế. Cậu hơ chân bên lửa, hút một điếu xì gà hảo hạng thơm lừng cả phòng. Cậu ngồi một mình, khuỷu tay tì lên tay ghế, đầu rụt vào giữa hai vai, má hồng hào, mắt sáng long lanh, vẻ khoái chí vô cùng.

Ở phòng bên, tôi nghe tiếng bát đĩa. Mác-sa mỉm cười mãn nguyện bảo tôi:

- Ổn rồi. Tôi tìm thấy rượu vang Boóc-đô dưới chuồng gà, sâm banh dưới mấy bậc thềm, rượu mạnh, năm mươi chai cô-nhắc xịn, ở vườn rau, dưới một cây lê mà soi đèn thì tôi thấy nó đứng không được thẳng lắm. Về đồ ăn, ta có hai con gà mái, một con ngỗng, một con vịt, ba con bồ câu và một con sáo đen bắt trong lồng, toàn đồ có lông cả, như cậu thấy đấy. Tất cả đang nấu. Cái vùng này tuyệt vời thật.

Tôi ngồi xuống đối diện cậu. Ngọn lửa trong lò sưởi nướng cháy mũi và má tôi.

- Cậu tìm đâu ra củi thế? tôi hỏi.

Cậu thì thầm:

- Củi tuyệt hảo đấy, cỗ xe ngựa của chủ nhà. Chính lớp sơn làm lửa bùng lên thế, một thứ rượu bốc lửa bằng dầu và véc ni. Nhà tốt thật!

Tôi cười, vì thấy cái thằng cha này buồn cười quá. Cậu nói tiếp:

- Thế mà hôm nay là Lễ Ba Vua đấy! Tôi đã bảo nhét một hạt đậu vào bụng con ngỗng, ai ăn trúng thì làm vua. Nhưng chẳng có hoàng hậu, chán thật!

Tôi nhắc lại như tiếng vọng:

- Chán thật, nhưng cậu muốn tôi làm gì bây giờ?

- Thì đi kiếm về, chứ còn gì!

- Kiếm cái gì?

- Đàn bà.

- Đàn bà à? Cậu điên rồi!

- Tôi còn tìm ra được rượu dưới gốc cây lê, sâm banh dưới bậc thềm, mà có cái gì chỉ đường cho tôi đâu. Còn cậu thì một cái váy là dấu vết chắc chắn rồi. Đi tìm đi, ông bạn.

Cậu có vẻ trang nghiêm, nghiêm túc, tin chắc đến nỗi tôi không biết cậu có đùa không nữa.

Tôi đáp:

- Này Mác-sa, cậu đùa đấy à?

- Trong lúc làm nhiệm vụ tôi không bao giờ đùa.

- Nhưng quỷ thần ơi, cậu muốn tôi kiếm đàn bà ở đâu ra?

- Ở đâu tuỳ cậu. Trong làng chắc còn sót lại hai ba người. Cứ lùng ra mà đem về.

Tôi đứng dậy. Ngồi trước lửa nóng quá. Mác-sa nói tiếp:

- Cậu muốn nghe một ý không?

- Muốn.

- Đi gặp ông cha xứ.

- Ông cha xứ à? Để làm gì?

- Mời ông ấy ăn tối, và nhờ ông ấy dẫn theo một người đàn bà.

- Ông cha xứ! Một người đàn bà! Ha! Ha! Ha!

Mác-sa nói tiếp, nghiêm trang lạ thường:

- Tôi không cười đâu. Cậu đi gặp ông cha xứ, kể cho ông ấy nghe tình cảnh của chúng ta. Chắc ông ấy đang buồn chán kinh khủng, ông ấy sẽ đến. Nhưng cậu bảo ông ấy là chúng ta cần ít nhất một người đàn bà, một người đàn bà đứng đắn, dĩ nhiên rồi, vì chúng ta toàn là người thượng lưu cả. Ông ấy hẳn phải biết rõ các con chiên của mình như lòng bàn tay. Nếu có người nào được, và nếu cậu khéo léo, ông ấy sẽ chỉ cho cậu.

- Này Mác-sa, cậu nghĩ gì thế?

- Ga-răng thân mến, cậu làm được việc đó rất tốt. Thậm chí còn rất vui nữa. Chúng ta biết cách cư xử chứ, khỉ thật! Chúng ta sẽ lịch sự hoàn hảo, sang trọng hết mức. Cậu giới thiệu chúng ta với cha xứ, làm cho ông ấy cười, làm ông ấy mủi lòng, quyến rũ ông ấy, thuyết phục ông ấy!

- Không, không được đâu.

Cậu kéo ghế lại gần, và vì biết những chỗ yếu của tôi, thằng cha ranh mãnh nói tiếp:

- Cậu thử nghĩ xem, làm thế thì oai biết bao, mà kể lại thì vui biết bao. Cả quân đội sẽ nói về chuyện này. Cậu sẽ nổi tiếng ra trò đấy.

Tôi ngần ngừ, bị cuộc phiêu lưu cám dỗ. Cậu nài thêm:

- Đi đi, Ga-răng của tôi. Cậu là chỉ huy toán quân, chỉ có cậu mới đến gặp được người đứng đầu Giáo hội ở vùng này. Tôi xin cậu, đi đi. Tôi sẽ kể lại chuyện này bằng thơ đăng trên Tạp chí Hai Thế giới sau chiến tranh, tôi hứa với cậu. Cậu nợ anh em điều đó. Một tháng nay cậu bắt họ đi bở hơi tai rồi còn gì.

Tôi đứng dậy hỏi:

- Nhà xứ ở đâu?

- Cậu đi phố thứ hai bên trái. Cuối phố có một đại lộ, cuối đại lộ là nhà thờ. Nhà xứ ở ngay bên cạnh.

Tôi đi ra. Cậu gọi với theo:

- Kể thực đơn cho ông ấy nghe để ông ấy thèm nhé!

Tôi tìm thấy ngay ngôi nhà nhỏ của ông linh mục, cạnh một nhà thờ gạch to và xấu xí. Tôi lấy nắm tay đập vào cửa, vì cửa chẳng có chuông cũng chẳng có vòng gõ. Một giọng nói to từ bên trong hỏi vọng ra:

- Ai đấy?

Tôi đáp:

- Trung sĩ kỵ binh khinh giáp.

Tôi nghe tiếng then cài và tiếng khoá xoay, rồi đứng trước mặt tôi là một ông linh mục to cao, bụng phệ, ngực như đô vật, đôi bàn tay to khủng khiếp thò ra từ ống tay áo xắn lên, nước da đỏ au và vẻ mặt hiền hậu.

Tôi giơ tay chào kiểu nhà binh.

- Chào cha.

Ông đã sợ bị đánh úp, sợ bọn lưu manh mai phục, và ông mỉm cười đáp:

- Chào con. Vào đi.

Tôi theo ông vào một căn phòng nhỏ lát gạch đỏ, nơi một ngọn lửa leo lét đang cháy, khác hẳn đống lửa rực của Mác-sa.

Ông chỉ cho tôi một chiếc ghế, rồi hỏi:

- Con cần gì?

- Thưa cha, trước hết xin cha cho phép con được tự giới thiệu.

Rồi tôi đưa danh thiếp cho ông.

Ông cầm lấy và đọc khẽ:

- Bá tước đờ Ga-răng.

Tôi nói tiếp:

- Thưa cha, chúng con ở đây có mười một người, năm người đang đứng gác, sáu người ở trong nhà của một người dân không quen biết. Sáu người ấy là Ga-răng đang đứng đây, Pi-e đờ Mác-sa, Lu-đô-vích đờ Pông-đơ-ren, nam tước đờ Ê-trây-i, Các-lơ Ma-xu-li-nhi, con trai ông hoạ sĩ, và Giô-dép Éc-bông, một nhạc sĩ trẻ. Nhân danh họ và nhân danh con, con đến xin cha cho chúng con được vinh dự mời cha dùng bữa tối. Đó là bữa tiệc mừng Lễ Ba Vua, thưa cha, và chúng con muốn làm cho nó vui vẻ một chút.

Ông linh mục mỉm cười. Ông thì thầm:

- Ta thấy đây chẳng phải lúc để vui chơi.

Tôi đáp:

- Ngày nào chúng con cũng đánh nhau, thưa cha. Mười bốn bạn đồng đội của chúng con đã chết trong một tháng nay, và mới hôm qua thôi lại có ba người nằm xuống. Chiến tranh mà. Lúc nào chúng con cũng đánh cược mạng sống của mình, lẽ nào chúng con không có quyền đánh cược nó một cách vui vẻ? Chúng con là người Pháp, chúng con thích cười, ở đâu chúng con cũng biết cười. Cha ông chúng con còn cười được trên đoạn đầu đài! Tối nay chúng con muốn thư giãn một chút, như những người tử tế, chứ không phải như bọn lính tráng thô lỗ, cha hiểu cho con. Chúng con có sai không?

Ông đáp ngay:

- Con nói đúng, con ạ, và ta nhận lời mời của các con với niềm vui lớn.

Ông gọi to:

- Éc-măng-xơ!

Một bà nông dân già, còng queo, nhăn nheo, xấu kinh khủng, xuất hiện và hỏi:

- Có chuyện gì thế?

- Tối nay tôi không ăn ở nhà đâu, bà ạ.

- Thế cha ăn ở đâu?

- Ăn với các ông kỵ binh.

Tôi đã định nói: "Cha dẫn bà hầu của cha theo đi, để xem cái mặt của Mác-sa thế nào", nhưng tôi không dám.

Tôi nói tiếp:

- Trong số con chiên của cha còn ở lại làng, cha có thấy ông nào hay bà nào mà con có thể mời nữa không?

Ông ngần ngừ, suy nghĩ, rồi tuyên bố:

- Không, chẳng có ai!

Tôi nài:

- Chẳng có ai! Thôi nào, thưa cha, cha nghĩ kỹ xem. Có các quý bà thì thật là lịch sự. Ý con là những đôi vợ chồng! Con biết đâu? Ông thợ làm bánh với vợ, ông chủ hiệu tạp hoá, ông, ông, ông thợ đồng hồ, ông, ông thợ giày, ông dược sĩ với bà dược sĩ. Chúng con có một bữa ăn ngon, có rượu, và chúng con sẽ rất vui được để lại một kỷ niệm đẹp cho người ở đây.

Ông cha xứ lại ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nói, giọng dứt khoát:

- Không, chẳng có ai.

Tôi bật cười:

- Khỉ thật, thưa cha, không có hoàng hậu thì chán quá, vì chúng con có hạt đậu rồi. Cha nghĩ đi. Không có ông thị trưởng nào có vợ, ông phó thị trưởng nào có vợ, ông nghị viên nào có vợ, ông giáo nào có vợ sao?

- Không, các bà đi hết cả rồi.

- Sao, trong cả vùng này không có lấy một bà tư sản hiền lành với ông chồng tư sản của bà ấy, để chúng con có thể mời cho họ vui, vì trong hoàn cảnh này đó sẽ là một niềm vui cho họ, một niềm vui lớn ấy chứ?

Nhưng bỗng nhiên ông cha xứ phá lên cười, một trận cười dữ dội làm rung cả người ông, và ông kêu lên:

- Ha! Ha! Ha! Ta có người cho các con rồi, Chúa ơi, Đức Mẹ ơi, ta có người cho các con rồi! Ha! Ha! Ha! Ta sẽ được cười đây, các con ạ, ta sẽ được cười. Và họ sẽ vui lắm, các con cứ tin ta, vui lắm! Ha! Ha! Các con trọ ở đâu?

Tôi tả ngôi nhà cho ông nghe. Ông hiểu ngay:

- Tốt lắm. Đó là nhà ông Béc-tanh La-vai. Nửa tiếng nữa ta sẽ đến đó cùng bốn quý bà! Ha! Ha! Ha! Bốn quý bà!

Ông đi ra cùng tôi, vẫn cười mãi, rồi chia tay tôi, nhắc đi nhắc lại:

- Thế nhé. Nửa tiếng nữa, nhà Béc-tanh La-vai.

Tôi về thật nhanh, rất ngạc nhiên, rất tò mò.

- Bao nhiêu bộ đồ ăn? Mác-sa hỏi ngay khi thấy tôi.

- Mười một. Sáu kỵ binh chúng ta, cộng thêm cha xứ và bốn quý bà.

Cậu sững sờ. Tôi thì đắc thắng.

Cậu cứ nhắc mãi:

- Bốn quý bà! Cậu nói bốn quý bà à?

- Tôi nói bốn quý bà.

- Đàn bà thật à?

- Đàn bà thật.

- Trời đất! Xin chúc mừng!

- Tôi xin nhận. Tôi xứng đáng mà.

— Hết chương 1 —

Mục lục Bữa tiệc đêm Lễ Ba Vua

  1. 1Đi tìm hoàng hậu13 phút
  2. 2Bốn vị khách nữĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Les Rois, in trên báo Gil Blas năm 1887, tập Le Horla, theo bản Ollendorff 1895
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →