Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Buổi học cuối cùng

của Alphonse Daudet

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 8.765 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Chuyện kể của một cậu bé xứ An-dát.
  2. 0:51“Lại có chuyện gì nữa đây?”
  3. 1:21“Im lặng một chút nào!”
  4. 2:37Trong khi tôi đang ngạc nhiên vì những điều…
  5. 3:39Tội nghiệp thầy!
  6. 5:15Rồi hết chuyện này sang chuyện khác, thầy Ha-men…
  7. 7:45Bỗng đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ,…
  8. 8:10“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!”

Chuyện kể của một cậu bé xứ An-dát.

Sáng hôm ấy, tôi đến trường rất muộn, và tôi sợ bị mắng lắm, nhất là thầy Ha-men đã dặn sẽ hỏi bài về phân từ, mà tôi thì chẳng thuộc lấy một chữ. Có lúc tôi đã nghĩ hay là trốn học, chạy rong ngoài đồng.

Trời sao mà ấm áp, sao mà trong trẻo thế!

Tôi nghe tiếng chim sáo hót ven rừng, và thấy trên đồng cỏ Ríp-pe, sau xưởng cưa, lính Phổ đang tập. Tất cả những cái đó cám dỗ tôi hơn nhiều so với quy tắc về phân từ. Nhưng tôi đủ sức cưỡng lại, và chạy thật nhanh đến trường.

Khi qua trước trụ sở xã, tôi thấy có nhiều người đứng trước tấm bảng dán cáo thị có lưới che. Từ hai năm nay, chính từ chỗ ấy đã đến với chúng tôi mọi tin chẳng lành, những trận thua, những lần trưng thu, những mệnh lệnh của bộ chỉ huy Đức. Và không dừng lại, tôi nghĩ bụng:

“Lại có chuyện gì nữa đây?”

Lúc tôi chạy băng qua quảng trường, bác phó rèn Oát-stơ đang đứng đọc cáo thị cùng cậu thợ học việc, gọi to bảo tôi:

“Đừng vội thế, cháu ơi. Thế nào cháu cũng đến trường kịp chán!”

Tôi tưởng bác chế giễu mình, và hổn hển bước vào khoảng sân nhỏ của trường thầy Ha-men.

Mọi khi, lúc bắt đầu buổi học, ồn ào như vỡ chợ, ngoài phố cũng nghe thấy. Tiếng ngăn bàn đóng mở, tiếng học bài nhắc đi nhắc lại rất to, đồng thanh, lấy tay bịt tai cho dễ thuộc, và tiếng thước kẻ to của thầy gõ xuống bàn:

“Im lặng một chút nào!”

Tôi định lợi dụng cảnh ồn ào ấy để lẻn vào chỗ ngồi mà không ai thấy. Nhưng đúng hôm ấy, mọi sự đều bình lặng như một buổi sáng chủ nhật. Qua cửa sổ mở, tôi thấy các bạn đã ngồi vào chỗ của mình, và thầy Ha-men đi đi lại lại, cây thước sắt khủng khiếp kẹp dưới nách. Tôi phải mở cửa bước vào giữa lúc lặng ngắt như thế. Các bạn thử nghĩ xem, mặt tôi đỏ bừng và tôi sợ biết chừng nào!

Thế mà không! Thầy Ha-men nhìn tôi chẳng giận dữ gì, và bảo tôi rất dịu dàng:

“Phờ-răng ơi, vào chỗ nhanh lên con. Lớp sắp bắt đầu học mà vắng con đấy.”

Tôi bước qua ghế dài và ngồi ngay xuống bàn của mình. Chỉ đến lúc ấy, đã hơi hoàn hồn, tôi mới để ý thấy thầy giáo chúng tôi mặc chiếc áo rơ-đanh-gốt màu xanh lục đẹp, diềm áo lá sen gấp nếp mịn, và đội cái mũ tròn bằng lụa đen thêu, những thứ thầy chỉ dùng vào những hôm có thanh tra hoặc phát phần thưởng. Vả lại, cả lớp học có cái gì đó khác thường và trang trọng. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là trông thấy ở cuối lớp, trên những hàng ghế mọi khi vẫn bỏ trống, dân làng ngồi lặng lẽ giống như chúng tôi. Cụ già Hô-de với chiếc mũ ba sừng, ông cựu xã trưởng, ông cựu phát thư, rồi nhiều người khác nữa. Ai nấy đều có vẻ buồn rầu. Và cụ Hô-de mang theo một quyển sách vỡ lòng cũ đã sờn mép, cụ để mở rộng trên đầu gối, đặt cặp kính lớn ngang qua trang sách.

Trong khi tôi đang ngạc nhiên vì những điều ấy, thầy Ha-men đã bước lên bục, và vẫn bằng cái giọng dịu dàng và trang trọng như lúc đón tôi, thầy nói với chúng tôi:

“Các con ơi, đây là lần cuối cùng thầy dạy các con. Lệnh từ Béc-lin đã đến, từ nay các trường ở An-dát và Lo-ren chỉ được dạy tiếng Đức thôi… Thầy giáo mới sẽ đến vào ngày mai. Hôm nay là bài học tiếng Pháp cuối cùng của các con. Thầy mong các con hết sức chú ý.”

Mấy lời ấy làm tôi choáng váng. A! Quân khốn nạn, thì ra đó là điều chúng đã niêm yết ở trụ sở xã.

Bài học tiếng Pháp cuối cùng của tôi!…

Mà tôi thì mới biết viết tập toạng! Vậy là tôi sẽ chẳng bao giờ được học nữa! Vậy là phải dừng ở đấy thôi! Giờ đây tôi tự giận mình biết bao về thời gian đã bỏ phí, về những buổi trốn học đi bắt tổ chim hoặc trượt trên sông Xa-rơ! Những cuốn sách vừa nãy tôi còn thấy chán, thấy nặng khi mang, quyển ngữ pháp, quyển thánh sử của tôi, giờ đây dường như là những người bạn cũ mà tôi sẽ rất đau lòng khi phải giã từ. Thầy Ha-men cũng vậy. Ý nghĩ thầy sắp ra đi và tôi sẽ không còn gặp thầy nữa làm tôi quên cả những lúc bị phạt, bị thước kẻ gõ.

Tội nghiệp thầy!

Chính là để tôn vinh buổi học cuối cùng này mà thầy đã mặc bộ quần áo đẹp ngày chủ nhật, và bây giờ thì tôi hiểu vì sao các cụ già trong làng lại đến ngồi ở cuối lớp. Dường như điều đó muốn nói rằng các cụ tiếc đã không năng tới ngôi trường này hơn. Đó cũng như một cách để cảm ơn thầy giáo chúng tôi về bốn mươi năm phục vụ tận tuỵ, và để tỏ lòng thành kính với Tổ quốc đang ra đi…

Tôi đang mải suy nghĩ thì nghe thấy gọi tên mình. Đến lượt tôi đọc bài. Tôi sẽ chẳng tiếc gì để được đọc trôi chảy từ đầu đến cuối cái quy tắc phân từ trứ danh ấy, thật to, thật rõ ràng, không phạm một lỗi nào! Nhưng tôi lúng túng ngay từ những chữ đầu, và tôi đứng đung đưa người bên ghế, lòng rầu rĩ, không dám ngẩng đầu lên. Tôi nghe thầy Ha-men nói với tôi:

“Thầy không mắng con đâu, Phờ-răng bé bỏng ạ, chắc con bị phạt thế là đủ rồi… Con thấy đấy. Ngày nào người ta cũng tự nhủ: Chà! Còn đủ thì giờ chán. Mai ta sẽ học. Và rồi con thấy điều gì xảy ra… Ôi! Tai hoạ lớn của xứ An-dát chúng ta là bao giờ cũng hoãn việc học đến ngày mai. Giờ đây những kẻ kia có quyền bảo chúng ta: Thế nào! Các anh tự cho mình là người Pháp, vậy mà các anh chẳng biết nói, cũng chẳng biết viết tiếng của các anh!… Dù sao thì, Phờ-răng tội nghiệp ạ, con chưa phải là người đáng trách nhất đâu. Tất cả chúng ta ai cũng có phần đáng chê trách.

Cha mẹ các con không thiết tha lắm với việc thấy các con được học hành. Họ thích cho các con đi làm đồng hay vào làm nhà máy sợi để có thêm dăm đồng xu. Cả thầy nữa, thầy há chẳng có gì đáng tự trách mình sao? Thầy há chẳng từng nhiều lần bắt các con tưới vườn cho thầy thay vì học hành? Và khi thầy muốn đi câu cá hồi, thầy há chẳng ngại ngần gì mà cho các con nghỉ học?…”

Rồi hết chuyện này sang chuyện khác, thầy Ha-men nói với chúng tôi về tiếng Pháp, bảo rằng đó là ngôn ngữ hay nhất thế giới, trong sáng nhất, vững vàng nhất. Rằng phải giữ lấy nó giữa chúng ta và đừng bao giờ quên nó, bởi vì khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nắm được chìa khoá chốn lao tù… Rồi thầy cầm quyển ngữ pháp đọc bài học cho chúng tôi nghe. Tôi kinh ngạc thấy sao mình hiểu đến thế. Tất cả những điều thầy nói, tôi thấy thật dễ dàng, dễ dàng. Tôi cũng nghĩ là mình chưa bao giờ chăm chú nghe đến thế, và cả thầy giáo nữa, chưa bao giờ thầy giảng giải kiên nhẫn đến thế. Cứ như thể trước khi ra đi, con người tội nghiệp muốn truyền hết tri thức của mình, muốn đưa ngay một lúc tất cả vào đầu óc chúng tôi.

Xong bài học, chuyển sang tập viết. Hôm ấy, thầy Ha-men đã chuẩn bị cho chúng tôi những tờ mẫu mới tinh, trên đó viết bằng nét chữ tròn thật đẹp: Pháp, An-dát, Pháp, An-dát. Những tờ mẫu treo trên thanh sắt ngang bàn học, trông như những lá cờ nhỏ bay phấp phới khắp xung quanh lớp. Phải thấy ai nấy chăm chú hết sức, và cả lớp im phăng phắc! Chỉ nghe thấy tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy. Có lúc những con bọ dừa bay vào, nhưng chẳng ai để ý, ngay cả những trò nhỏ nhất cũng vậy, các em đang chăm chú tô những nét sổ với một tấm lòng, một ý thức như thể đó cũng là tiếng Pháp… Trên mái nhà trường, chim bồ câu gù thật khẽ, và tôi vừa nghe vừa tự nhủ:

“Liệu người ta có bắt cả chúng cũng phải hót bằng tiếng Đức không nhỉ?”

Thỉnh thoảng, khi ngước mắt lên khỏi trang giấy, tôi thấy thầy Ha-men đứng lặng im trên bục và đăm đăm nhìn những đồ vật quanh mình như muốn mang theo trong ánh mắt toàn bộ ngôi trường nhỏ bé của thầy… Các bạn nghĩ mà xem! Từ bốn mươi năm nay, thầy vẫn ở đấy, ở chỗ ấy, với khoảng sân trước mặt và lớp học y nguyên như thế. Chỉ có những chiếc ghế dài, những bàn học đã nhẵn bóng, cọ sát vì dùng lâu ngày. Những cây óc chó ngoài sân đã lớn lên, và cây hu-blông chính tay thầy trồng nay đã leo thành tràng hoa quanh cửa sổ tới tận mái nhà. Thật là đứt ruột cho con người tội nghiệp khi phải từ biệt tất cả những thứ ấy, và nghe tiếng bà chị thầy đi đi lại lại trên phòng gác, đang đóng mấy chiếc hòm! Vì ngày mai hai chị em phải ra đi, vĩnh biệt xứ này mãi mãi.

Vậy mà thầy vẫn đủ can đảm dạy chúng tôi đến hết buổi. Tập viết xong, chúng tôi học bài lịch sử. Rồi các em nhỏ cùng nhau hát bài ba, bê, bi, bô, bu. Ở cuối phòng, cụ già Hô-de đã đeo kính lên, và hai tay cầm quyển sách vỡ lòng, cụ đánh vần từng chữ theo các em. Cụ cũng chăm chú, giọng cụ run run vì xúc động, và nghe cụ đọc thật là buồn cười, khiến tất cả chúng tôi muốn cười, lại muốn khóc. Ôi! Tôi sẽ nhớ mãi buổi học cuối cùng này…

Bỗng đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ, rồi đến chuông cầu nguyện buổi trưa. Cùng lúc ấy, tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về vang lên ngoài cửa sổ… Thầy Ha-men đứng dậy, người tái nhợt, trên bục. Chưa bao giờ tôi thấy thầy lớn lao đến thế.

Thầy nói:

“Các bạn ơi, các bạn ơi, tôi… tôi…”

Nhưng có cái gì nghẹn lại trong cổ thầy. Thầy không nói được hết câu.

Thế là thầy quay về phía tấm bảng, cầm một hòn phấn và, ấn mạnh hết sức, thầy cố viết thật to:

“NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!”

Rồi thầy đứng đó, đầu dựa vào tường, không nói, giơ tay ra hiệu cho chúng tôi:

“Hết rồi… các con về đi.”

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1873
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Dernière Classe, trong tập Les Contes du lundi, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →