Chương 1: Đám tang giữa đồng
Tôi đi săn về trên một chiếc xe ngựa nhỏ xóc nảy. Trời hè nhiều mây, oi bức ngột ngạt, mà ai cũng biết những ngày như thế cái nóng thường còn khó chịu hơn ngày nắng ráo, nhất là khi không có gió. Tôi thiu thiu ngủ, người cứ lắc lư theo xe, đành cam chịu một cách lầm lì để mặc cho lớp bụi trắng mịn hành hạ, thứ bụi không ngớt bốc lên từ con đường nện chặt dưới mấy cái bánh xe vênh vẹo kêu cót két. Thì bỗng tôi chú ý tới vẻ bồn chồn khác thường và những cử động cuống quýt của bác xà ích, người cho tới giây phút ấy còn ngủ say hơn cả tôi. Bác bắt đầu giật giật dây cương, nhấp nhổm trên ghế, quát tháo lũ ngựa, mắt cứ nhìn chằm chằm về một phía.
Tôi nhìn quanh. Chúng tôi đang đi qua một cánh đồng cày rộng mênh mông. Những ngọn đồi thấp, cũng đã cày xới, nhấp nhô thoai thoải như những làn sóng dâng lên trên đó. Mắt nhìn bao quát chừng năm dặm đồng không mông quạnh. Xa xa, những ngọn cây tròn lượn sóng của vài lùm bạch dương nhỏ là thứ duy nhất làm gãy đường chân trời gần như thẳng tắp. Những lối mòn hẹp chạy ngang cánh đồng, khuất vào các chỗ trũng, uốn quanh các gò đất. Trên một lối mòn như thế, lối mòn đổ ra đường chúng tôi ở chỗ cách phía trước chừng năm trăm bước, tôi nhận ra có một đoàn người đang đi. Bác xà ích đang nhìn chính đoàn người ấy.
Đó là một đám tang. Đi đầu, trên một chiếc xe nhỏ một ngựa kéo, đi từng bước chậm, là ông cha xứ. Ngồi cạnh ông là người phó tế cầm cương. Sau xe, bốn người nông dân đầu trần khiêng chiếc quan tài phủ vải trắng. Hai người đàn bà đi theo sau quan tài. Tiếng the thé ai oán của một người bỗng vọng tới tai tôi. Tôi lắng nghe. Bà đang kể lể khóc than. Giữa những cánh đồng trống trải, tiếng khóc kể đều đều, ngân nga, buồn thảm tuyệt vọng ấy nghe thê lương lắm.
Bác xà ích quất ngựa. Bác muốn vượt lên trước đoàn người ấy. Đi đường mà gặp người chết là điềm gở. Và bác quả đã phóng kịp qua khỏi lối mòn trước khi đám tang kịp rẽ ra đường cái. Nhưng chúng tôi chưa đi được trăm bước qua chỗ ấy thì bỗng chiếc xe xóc mạnh một cái, nghiêng hẳn sang một bên, suýt nữa lật nhào. Bác xà ích ghìm đàn ngựa đang phi lại, khoát tay, nhổ toẹt một bãi.
— Chuyện gì thế? — Tôi hỏi.
Bác xà ích lẳng lặng, thong thả trèo xuống.
— Nhưng chuyện gì thế?
— Gãy trục rồi... nó bốc lửa. — Bác đáp, giọng rầu rĩ.
Rồi bỗng bác sửa lại cái vòng cổ trên con ngựa kéo bên ngoài, sửa một cách bực tức đến nỗi con ngựa suýt bị xô ngã. Nhưng nó đứng vững được, khịt mũi, lắc mình một cái, rồi thản nhiên lấy răng gãi gãi cẳng chân trước, chỗ dưới đầu gối.
Tôi xuống xe, đứng một lúc trên đường, trong lòng là một cảm giác bất lực mơ hồ và khó chịu. Bánh xe bên phải gần như gập hẳn vào gầm xe, cái moay-ơ của nó như ngửa lên trời trong một nỗi tuyệt vọng câm lặng.
— Bây giờ ta làm thế nào? — Cuối cùng tôi nói.
— Tại cái ấy đấy! — Bác xà ích nói, lấy roi chỉ về đám tang vừa rẽ ra đường cái và đang tiến lại gần chúng tôi. — Tôi để ý chuyện này mãi rồi. — Bác nói tiếp. — Câu nói ấy đúng lắm: "Gặp người chết"... Phải, đúng thế.
Rồi bác lại quay ra hành con ngựa ngoài. Con ngựa, thấy bác đang bực, quyết định đứng yên tuyệt đối, chỉ thỉnh thoảng phẩy đuôi một cái cho kín đáo. Tôi đi đi lại lại một lúc, rồi lại dừng trước cái bánh xe.
Trong lúc ấy đám tang đã tới chỗ chúng tôi. Lặng lẽ rẽ khỏi đường xuống bãi cỏ, đoàn người buồn bã chậm chạp đi qua bên cạnh. Bác xà ích và tôi bỏ mũ, chào ông cha xứ, đưa mắt nhìn những người khiêng. Họ bước đi khó nhọc dưới sức nặng, những bộ ngực rộng nhô lên vì gắng sức. Trong hai người đàn bà đi sau quan tài, một người rất già, xanh xao. Khuôn mặt bất động của bà, dù bị nỗi đau làm méo mó khủng khiếp, vẫn giữ được một vẻ đường bệ nghiêm trang. Bà lặng lẽ bước, thỉnh thoảng đưa bàn tay gầy guộc lên đôi môi mỏng mím chặt. Người kia là một thiếu phụ chừng hai mươi lăm tuổi, mắt đỏ hoe ướt đẫm, cả khuôn mặt sưng húp vì khóc. Lúc đi ngang qua chúng tôi, chị ngừng than khóc, lấy tay áo che mặt... Nhưng khi đám tang đã vòng qua chúng tôi và lại đi lên đường, tiếng khóc kể thảm thiết xé lòng của chị lại cất lên. Bác xà ích lặng lẽ đưa mắt nhìn theo chiếc quan tài đung đưa nhịp nhàng. Rồi bác quay sang tôi.
— Người ta chôn Mác-tưn thợ mộc đấy. — Bác nói. — Mác-tưn người làng Ri-a-bai.
— Sao bác biết?
— Tôi biết nhờ mấy người đàn bà. Bà già là mẹ anh ấy, còn người trẻ là vợ anh ấy.
— Thế anh ấy ốm à?
— Vâng... bị sốt. Hôm kia ông quản lý cho đi mời bác sĩ, nhưng bác sĩ lại không có nhà. Anh ấy là thợ mộc giỏi. Có hơi uống rượu, nhưng là thợ mộc giỏi. Xem chị vợ khổ sở thế kia... Nhưng thôi, nước mắt đàn bà thì rẻ lắm, ai mà chẳng biết. Nước mắt đàn bà chỉ là nước lã thôi... phải, đúng thế.
Rồi bác cúi xuống, chui qua dây kéo của con ngựa ngoài, hai tay túm lấy cái vòng cung gỗ bắc trên đầu ngựa.
— Dù sao thì, — tôi nhận xét, — chúng ta sẽ làm thế nào đây?
Bác xà ích chỉ tì đầu gối lên vai con ngựa giữa, hai lần giật giật cái đai lưng, chỉnh lại tấm đệm yên. Rồi bác lại chui ra khỏi dây kéo của con ngựa ngoài, tiện tay vỗ vào mũi nó một cái, đi đến bên bánh xe. Bác đến gần nó, mắt không rời nó, thong thả lôi trong vạt áo ra một cái hộp, thong thả kéo dây mở nắp, thong thả thọc vào đó hai ngón tay mập mạp, gần như vừa khít cả hộp, vê vê mãi một nhúm thuốc lá bột, rồi nhăn mũi lại từ trước, hít mấy lần liền, lần nào hít cũng kèm một tràng hắt hơi dài. Rồi mắt đẫm nước, chớp chớp yếu ớt, bác chìm vào suy tư sâu xa.
— Thế nào? — Cuối cùng tôi hỏi.
Bác xà ích cẩn thận nhét cái hộp vào túi, không dùng tay mà chỉ hất đầu một cái cho cái mũ sụp xuống trán, rồi rầu rĩ trèo lên ghế.
— Bác làm gì thế? — Tôi hỏi, hơi ngơ ngác.
— Mời cậu ngồi. — Bác bình thản đáp, cầm dây cương lên.
— Nhưng đi thế nào được?
— Bây giờ ta đi.
— Nhưng cái trục...
— Mời cậu ngồi.
— Nhưng cái trục gãy rồi.
— Gãy thì gãy, nhưng ta sẽ đi được tới cái xóm... dĩ nhiên là đi từng bước. Đằng này, qua lùm cây, bên tay phải, có một cái xóm, người ta gọi là Giu-đi-nô.
— Thế bác nghĩ ta tới được đó không?
Bác xà ích không thèm trả lời.
— Thôi tôi đi bộ vậy. — Tôi nói.
— Tuỳ cậu...
Rồi bác vung roi. Lũ ngựa bắt đầu đi.
Chúng tôi quả đã tới được cái xóm, dù bánh trước bên phải gần như sắp long ra, và quay một cách rất kỳ quặc. Lên một gò đất, nó suýt văng hẳn ra ngoài, nhưng bác xà ích quát lên một tiếng đầy bực dọc, và chúng tôi xuống dốc bình yên.
Xóm Giu-đi-nô gồm sáu túp nhà gỗ thấp lè tè, tường đã bắt đầu nghiêng lệch, dù chắc chắn mới dựng chưa lâu. Sân sau của vài túp còn chưa có lấy cái rào. Lúc vào xóm, chúng tôi không gặp một bóng người. Ngoài đường không thấy cả gà lẫn chó, chỉ có một con chó đen cụt đuôi. Thấy chúng tôi đến, nó vội nhảy ra khỏi một cái máng khô khốc trống trơn, nơi hẳn cơn khát đã dồn nó vào, rồi chẳng sủa tiếng nào, lao biến vào gầm một cái cổng.
Tôi đến túp nhà đầu tiên, mở cửa vào gian ngoài, gọi chủ nhà. Không ai đáp. Tôi gọi thêm lần nữa. Sau cánh cửa bên trong vang lên tiếng mèo kêu meo meo vì đói. Tôi lấy chân đẩy cửa. Một con mèo gầy chạy tới chạy lui bên cạnh tôi, đôi mắt xanh lục loé sáng trong bóng tối. Tôi thò đầu vào phòng nhìn quanh. Trống trơn, tối tăm, ám khói. Tôi quay ra sân, ở đấy cũng chẳng có ai... Một con bê rống lên sau hàng rào. Một con ngỗng xám què lạch bạch đi ra xa một chút. Tôi sang túp thứ hai. Túp thứ hai cũng không một bóng người. Tôi đi vào sân...
Ngay giữa sân, dưới ánh nắng chói chang, có một người nằm úp mặt xuống đất, đầu trùm một tấm áo choàng, tôi tưởng là một đứa trẻ. Trong một cái lán lợp rạ cách đó vài bước, một con ngựa nhỏ gầy còm, bộ yên cương rách nát, đang đứng cạnh một cái xe con tồi tàn. Ánh nắng lọt thành từng vệt qua những khe hẹp trên mái lán dột nát, vằn lên bộ lông bờm xờm màu nâu đỏ của nó những dải sáng nhỏ. Phía trên, trong cái tổ chim treo cao, lũ sáo đá đang ríu rít, tò mò nhìn xuống từ ngôi nhà lơ lửng của chúng. Tôi đến bên người đang ngủ, bắt đầu đánh thức ông ta.
Ông ta ngẩng đầu lên, trông thấy tôi, lập tức đứng bật dậy...
— Gì? Ông cần gì? Chuyện gì thế? — Ông ta lẩm bẩm, còn ngái ngủ.
Tôi không đáp ngay. Dáng vẻ ông ta làm tôi sửng sốt quá.
Bạn hãy hình dung một sinh vật bé nhỏ năm mươi tuổi, khuôn mặt nhỏ tròn nhăn nheo, mũi nhọn, đôi mắt nâu ti hí gần như không thấy, mái tóc đen xoăn dày dựng tua tủa trên cái đầu bé xíu như cái mũ trên đầu cây nấm. Cả người ông ta gầy gò, ốm yếu quá mức. Và hoàn toàn không thể nào diễn tả bằng lời cái vẻ kỳ lạ khác thường trên nét mặt ông.
— Ông cần gì? — Ông ta lại hỏi tôi.
Tôi giải thích cho ông nghe chuyện gì đã xảy ra. Ông lắng nghe, chậm rãi chớp mắt, không rời mắt khỏi tôi.
— Vậy là chúng tôi không kiếm được một cái trục mới sao? — Cuối cùng tôi nói. — Tôi sẵn lòng trả tiền.
— Nhưng các ông là ai? Thợ săn à? — Ông hỏi, nhìn tôi từ đầu tới chân.
— Thợ săn.
— Các ông bắn chim trời, phải không?... Bắn muông thú trong rừng?... Mà giết chim của Chúa, làm đổ máu vô tội, chẳng phải là tội lỗi sao?
Ông lão kỳ lạ nói bằng một giọng kéo dài. Giọng ông cũng làm tôi kinh ngạc. Trong đó không hề có chút yếu ớt của tuổi già. Nó ngọt ngào lạ lùng, trẻ trung, mềm mại gần như giọng đàn bà.
— Tôi không có trục. — Ông nói thêm sau một thoáng im lặng. — Cái kia không hợp với ông đâu. — Ông chỉ vào chiếc xe con của mình. — Xe ông chắc là to.
— Thế trong làng có chỗ nào kiếm được không?
— Làng gì cái xóm này!... Ở đây chẳng ai có trục cả... Mà nhà nào cũng vắng, đi làm hết. Ông đi tiếp đi. — Ông bỗng tuyên bố, rồi lại nằm xuống đất.
Tôi hoàn toàn không ngờ cuộc nói chuyện lại kết thúc như thế.
— Này ông lão, — tôi nói, chạm vào vai ông, — làm ơn giúp tôi với.
— Đi đi, nhân danh Chúa! Tôi mệt rồi. Tôi vừa đánh xe lên tỉnh về. — Ông nói, rồi kéo áo choàng trùm kín đầu.
— Nhưng ông làm ơn giúp cho. — Tôi nói. — Tôi... tôi sẽ trả tiền.
— Tôi không cần tiền của ông.
— Nhưng ông lão ơi, ông làm ơn.
Ông nhổm người lên, ngồi dậy, bắt chéo đôi chân bé xíu.
— Có lẽ tôi đưa ông tới chỗ khai rừng được. Có mấy ông lái buôn mua khu rừng ở đây, cầu Chúa phán xét họ! Họ đang đốn rừng, và dựng ở đó một cái nhà kế toán, cầu Chúa phán xét họ! Ông có thể đặt họ làm một cái trục ở đấy, hoặc mua một cái làm sẵn.
— Tuyệt quá! — Tôi reo lên mừng rỡ. — Tuyệt quá! Ta đi thôi.
— Một cái trục gỗ sồi, loại tốt. — Ông nói tiếp, vẫn không nhúc nhích khỏi chỗ.
— Thế chỗ khai rừng ấy có xa không?
— Ba dặm.
— Thế thì đi thôi! Ta đi bằng xe của ông được mà.
— Ồ, không...
— Đi nào, ta đi thôi, ông lão! — Tôi nói. — Bác xà ích đang chờ ngoài đường kia.
Ông lão miễn cưỡng đứng dậy, theo tôi ra đường. Chúng tôi thấy bác xà ích đang bực bội. Bác đã định cho ngựa uống nước, nhưng hình như nước giếng vừa ít vừa dở, mà với người đánh xe thì nước là thứ quan trọng nhất... Tuy vậy, thấy ông lão, bác nhe răng cười, gật đầu, kêu lên:
— A! Ca-xi-a-nu-sca! Chào ông!
— Chào anh, Ê-rô-phây, người ngay thẳng! — Ca-xi-an đáp, giọng rầu rĩ.
Tôi lập tức nói cho bác xà ích biết đề nghị của ông lão. Ê-rô-phây tán thành, đánh xe vào sân. Trong lúc bác thong thả tháo ngựa, ông lão đứng tựa vai vào cổng, buồn rầu nhìn hết bác lại đến tôi. Ông có vẻ phân vân trong lòng. Theo tôi thấy, ông chẳng vui gì lắm vì chuyến ghé thăm đột ngột của chúng tôi.
— Thế người ta cũng đưa ông dời về đây à? — Ê-rô-phây bỗng hỏi, tay nhấc cái vòng cung gỗ lên.
— Ừ.
— Ối chà! — Bác xà ích rít qua kẽ răng. — Ông biết Mác-tưn thợ mộc chứ... Dĩ nhiên là ông biết Mác-tưn làng Ri-a-bai chứ?
— Biết.
— Thế đấy, anh ấy chết rồi. Bọn tôi vừa gặp quan tài anh ấy.
Ca-xi-an rùng mình.
— Chết rồi ư? — Ông nói, và đầu ông gục xuống buồn bã.
— Ừ, chết rồi. Sao ông không chữa cho anh ấy, hả? Người ta bảo ông chữa bệnh cho người ta được cơ mà. Ông là thầy thuốc mà.
Rõ ràng bác xà ích đang cười cợt, chế nhạo ông lão.
— Thế cái xe này là của ông à? — Bác nói thêm, hất vai về phía chiếc xe con.
— Ừ.
— Chà, xe... xe đẹp nhỉ! — Bác nhắc lại, rồi nắm lấy hai càng xe, suýt lật ngửa nó lên. — Xe!... Nhưng ông lấy gì kéo nó ra chỗ khai rừng?... Ngựa của bọn tôi không đóng vào càng này được. Ngựa của bọn tôi to cả.
— Tôi không biết anh lấy gì mà kéo. — Ca-xi-an đáp. — Có lẽ con vật kia. — Ông thở dài nói thêm.
— Con ấy à? — Ê-rô-phây chen vào. Bác đến gần con ngựa nhỏ của Ca-xi-an, lấy ngón giữa bàn tay phải gõ gõ lên lưng nó một cách khinh khỉnh. — Xem kìa, — bác nói thêm, giọng miệt thị, — nó ngủ gật kìa, con bù nhìn!
Tôi bảo Ê-rô-phây đóng ngựa càng nhanh càng tốt. Tôi muốn tự mình cùng Ca-xi-an đi ra chỗ khai rừng. Gà gô thích những chỗ như thế. Khi chiếc xe con đã sẵn sàng, tôi và con chó của tôi đã yên vị trong cái thùng xe đan bằng liễu cong vênh, còn Ca-xi-an thì co rúm người lại thành một cục nhỏ, mặt vẫn rầu rĩ như cũ, ngồi phía trước, thì Ê-rô-phây đến gần tôi, thì thầm với vẻ bí mật:
— Cậu đi với ông ta là phải đấy, thưa cậu. Ông ta là người kỳ quặc lắm. Ông ta gàn dở, cậu biết đấy, biệt danh là Bọ Chét. Tôi chẳng hiểu sao cậu lại hiểu được ông ta...
Tôi định bảo Ê-rô-phây rằng cho tới giờ tôi thấy Ca-xi-an là người rất biết điều. Nhưng bác xà ích đã nói tiếp ngay, vẫn cái giọng ấy:
— Có điều cậu phải để mắt xem ông ta chở cậu đi đâu. Và cậu ơi, cậu chịu khó tự chọn lấy cái trục, chọn cái nào chắc ấy... Này, Bọ Chét, — bác nói to, — vào nhà ông kiếm được mẩu bánh mì không?
— Cứ tìm đi, có khi thấy. — Ca-xi-an đáp. Ông giật dây cương, và chúng tôi lăn bánh.
Con ngựa nhỏ của ông, khiến tôi thật sự kinh ngạc, chạy không tồi chút nào. Suốt dọc đường Ca-xi-an giữ một sự im lặng lì lợm, trả lời câu hỏi của tôi cụt lủn và miễn cưỡng. Chúng tôi tới chỗ khai rừng rất nhanh, rồi tìm đến cái nhà kế toán. Đó là một ngôi nhà gỗ cao, đứng trơ trọi trên một khe nhỏ đã được đắp đập ngăn thành một cái ao. Trong nhà kế toán tôi gặp hai anh thư ký trẻ của nhà buôn, răng trắng như tuyết, mắt ngọt ngào dịu dàng, lời lẽ ngọt ngào khéo léo, nụ cười ngọt ngào ranh mãnh. Tôi mua của họ một cái trục, rồi quay lại chỗ khai rừng. Tôi nghĩ Ca-xi-an sẽ ở lại với con ngựa chờ tôi về. Nhưng ông bỗng đến bên tôi.
— Ông đi bắn chim à? — Ông hỏi.
— Ừ, nếu gặp.
— Tôi đi với ông nhé... Được không?
— Được chứ, được chứ.
Thế là chúng tôi cùng đi. Khoảng đất khai rừng dài chừng một dặm. Phải thú thật là tôi để mắt tới Ca-xi-an nhiều hơn tới lũ chó của mình. Người ta gọi ông là Bọ Chét thật đúng quá. Cái đầu nhỏ đen để trần của ông, mà thật ra mái tóc ấy che đầu cũng tốt như bất cứ cái mũ nào, cứ như loang loáng lúc chỗ này lúc chỗ kia giữa các bụi cây. Ông đi nhanh lạ thường, và lúc nào cũng như nhảy tưng tưng khi bước. Ông luôn cúi xuống hái một thứ cỏ gì đó, nhét vào ngực áo, lẩm bẩm một mình, và luôn nhìn tôi cùng con chó của tôi bằng một ánh mắt dò xét kỳ lạ.
Giữa các bụi cây thấp và những khoảng rừng thưa thường có những con chim nhỏ màu xám, chuyền liên tục từ cây này sang cây khác, vừa vụt bay vừa huýt sáo. Ca-xi-an nhại theo chúng, đáp lại tiếng gọi của chúng. Một con chim cút non bay vụt lên từ giữa hai chân ông, kêu chiêm chiếp, ông cũng chiêm chiếp nhại theo. Một con sơn ca bắt đầu sà xuống trên đầu ông, vỗ cánh hót véo von, Ca-xi-an hoà giọng vào bài hát của nó. Ông chẳng nói với tôi câu nào...
Trời đẹp tuyệt, còn đẹp hơn lúc trước, nhưng cái nóng thì không hề giảm. Trên bầu trời trong vắt, những đám mây mỏng trên cao hầu như không động đậy, trắng ngà như tuyết sót lại cuối xuân, dẹt và dài như những cánh buồm cuộn lại. Chậm chạp nhưng thấy rõ, những mép mây tua tủa, mềm và xốp như bông, thay đổi từng giây. Chúng đang tan dần, những đám mây ấy, và chúng không hề đổ bóng.
Tôi lang thang trên khoảng đất khai rừng với Ca-xi-an rất lâu. Những chồi non, chưa kịp cao quá một thước, vây quanh những gốc cây thấp cháy đen bằng những thân mảnh mai nhẵn bóng. Những cây nấm xốp mép xám, chính thứ người ta dùng làm bùi nhùi, bám vào các gốc cây. Những cây dâu rừng vắt những tua hồng lên trên chúng. Những cây nấm ăn ngồi xổm sát nhau từng cụm. Chân luôn bị vướng, bị quấn vào đám cỏ cao đã cháy khô dưới nắng gắt. Mắt bị chói khắp nơi bởi ánh lấp lánh như kim loại trên những chiếc lá non hơi đỏ của cây cối. Khắp nơi là những chùm đậu tằm xanh lam loang lổ, những đài hoa vàng óng của cây hoàng liên, những bông hoa nửa tím nửa vàng của cây hoa păng-xê.
Ở vài chỗ, gần những lối mòn bỏ hoang mà vết bánh xe hằn thành vệt trên làn cỏ mảnh óng ánh, có những đống củi xếp thành từng khối, đã đen sạm vì gió mưa. Chúng đổ xuống những vệt bóng mờ chéo chéo hình chữ nhật. Ngoài ra chẳng có bóng râm nào. Một làn gió nhẹ nổi lên, rồi lại lặng đi. Bỗng nó thổi thẳng vào mặt, tưởng như sắp mạnh lên. Mọi thứ bắt đầu xào xạc vui vẻ, gật gù, rung rinh quanh mình. Những ngọn dương xỉ mềm mại cúi xuống duyên dáng, và người ta thấy vui hẳn lên. Nhưng rồi gió lại tắt ngay, và mọi thứ lại im lìm. Chỉ có lũ châu chấu đồng thanh rả rích, hăng say như điên, và cái âm thanh khô khốc, sắc nhọn, không ngớt ấy thật mệt mỏi. Nó hợp với cái nóng dai dẳng giữa trưa. Nó như họ hàng với cái nóng ấy, như được cái nóng gọi lên từ lòng đất đang hừng hực.
Chẳng làm bay lên được một đàn chim nào, cuối cùng chúng tôi tới một khoảng khai rừng khác. Ở đây những cây dương lá rung vừa mới bị đốn, nằm dài buồn bã trên mặt đất, đè lên cỏ và cây bụi nhỏ bên dưới. Trên vài cây, lá vẫn còn xanh, dù đã chết, rủ xuống uể oải trên những cành bất động. Trên những cây khác, lá đã nhăn nhúm, khô héo. Những mảnh dăm mới đẽo trắng vàng chất thành đống quanh những gốc cây rịn đầy những giọt nhựa sáng long lanh. Một mùi hăng hắc đặc biệt, rất dễ chịu, bốc lên từ chúng. Xa hơn nữa, gần bìa rừng, vang lên tiếng rìu chặt trầm đục, và thỉnh thoảng một cái cây rậm rạp cúi mình, dang rộng cánh tay, từ từ đổ xuống đất một cách uy nghi.
Mãi lâu tôi chẳng gặp con chim nào. Cuối cùng một con gà nước bay vụt ra từ một bụi sồi non rậm, băng qua đám ngải mọc quanh đó. Tôi bắn. Nó lộn nhào trên không rồi rơi xuống. Nghe tiếng súng, Ca-xi-an vội lấy tay che mắt, và ông không nhúc nhích cho tới khi tôi nạp đạn xong và nhặt con chim lên. Khi tôi đã đi xa hơn, ông đến chỗ con chim bị thương rơi xuống, cúi xuống đám cỏ có lấm tấm vài giọt máu, lắc đầu, rồi nhìn tôi đầy hoảng sợ... Về sau tôi nghe ông thì thầm: "Tội lỗi!... Ôi, phải, tội lỗi quá!"
Cuối cùng cái nóng buộc chúng tôi phải vào rừng. Tôi nằm vật xuống dưới một bụi phỉ cao, bên trên có một cây phong non mảnh dẻ vươn những cành nhẹ nhàng một cách duyên dáng. Ca-xi-an ngồi trên thân to của một cây bạch dương bị đốn. Tôi nhìn ông.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn