Chương 1: Phần một. Ông thư lại chép giấy
Ở một bộ nọ… nhưng tốt hơn là đừng nói ra bộ nào. Chẳng gì hay giận dỗi bằng các bộ, các trung đoàn, các văn phòng, nói tóm lại là mọi loại giới quan chức. Giờ đây hễ một người riêng nào thấy mình bị động chạm là coi như cả xã hội bị xúc phạm. Nghe nói mới đây có một ông cảnh sát trưởng huyện, chẳng nhớ ở thành phố nào, gửi lên một lá đơn. Trong đơn ông trình bày rõ ràng rằng luật lệ nhà nước đang tiêu vong, rằng danh hiệu thiêng liêng của ông bị người ta gọi bừa bãi. Để làm bằng chứng, ông đính kèm đơn một cuốn sách to tướng, một tác phẩm lãng mạn nào đó, trong đó cứ mười trang lại xuất hiện một ông cảnh sát trưởng huyện, có chỗ còn say bí tỉ. Vậy nên để tránh mọi điều phiền toái, cái bộ mà ta đang nói đến, ta cứ gọi là một bộ nọ.
Vậy là ở một bộ nọ có một viên chức. Một viên chức chẳng thể nói là đáng chú ý lắm: người thấp bé, mặt hơi rỗ, tóc hơi hung, mắt trông cũng hơi kém, trán hói một mảng nhỏ, hai bên má có nếp nhăn, nước da thì như người ta gọi là màu da người mắc bệnh trĩ… Biết làm sao được! Lỗi tại khí hậu Pê-téc-bua cả. Còn về phẩm hàm, vì ở nước ta trước hết phải nói rõ phẩm hàm, thì ông thuộc loại người ta gọi là thư lại hàm chín muôn đời. Cái hạng mà như ai cũng biết, nhiều nhà văn đã chế giễu, châm chọc thoả thích, các nhà văn có cái thói đáng khen là cứ nhè vào những kẻ không biết cắn lại.
Họ của viên chức ấy là Ba-smát-skin. Chỉ nghe họ thôi đã biết nó từ chữ "chiếc giày" mà ra. Nhưng ra từ chiếc giày bao giờ, vào thời nào, bằng cách nào thì chẳng ai biết. Cả cha, cả ông, thậm chí cả anh vợ và tất thảy họ Ba-smát-skin đều đi ủng, mỗi năm chỉ thay đế đôi ba lần.
Tên ông là A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích. Có lẽ bạn đọc thấy cái tên ấy hơi lạ, hơi cầu kỳ. Nhưng có thể đảm bảo rằng chẳng ai đi tìm nó cả, mà tự hoàn cảnh xui khiến, không sao đặt được tên nào khác. Chuyện xảy ra thế này.
A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích ra đời vào lúc gần đêm, nếu trí nhớ không lầm thì vào ngày hai mươi ba tháng ba. Bà mẹ quá cố, vợ một viên chức và là một người đàn bà rất tốt, sửa soạn làm lễ rửa tội cho con như lệ thường. Bà mẹ còn nằm trên giường đối diện cửa ra vào. Bên tay phải là cha đỡ đầu, một người tuyệt vời, ông I-van I-va-nô-vích Ê-rốt-skin, làm trưởng phòng ở Viện Nguyên lão. Còn mẹ đỡ đầu là vợ một viên cảnh sát khu phố, một người đàn bà đức hạnh hiếm có, bà A-ri-na Xê-miô-nốp-na Bê-lô-briu-skô-va.
Người ta để cho sản phụ chọn một trong ba cái tên, muốn tên nào tuỳ ý: Mô-ki, Xốt-xi, hoặc đặt theo tên thánh tử đạo Khốt-đa-dát. "Không," bà mẹ quá cố nghĩ, "toàn những tên gì đâu ấy." Để chiều bà, người ta giở lịch thánh sang chỗ khác. Lại ra ba cái tên: Tri-phi-li, Đu-la và Va-ra-kha-xi.
– Khổ thật, bà già lẩm bẩm. Toàn những tên gì, thật tình tôi chưa nghe bao giờ. Giá mà là Va-ra-đát hay Va-rúc còn được, đằng này lại Tri-phi-li với Va-ra-kha-xi.
Người ta lại lật thêm một trang, ra: Páp-xi-ca-khi và Vác-ti-xi.
– Thôi, tôi hiểu rồi, bà già nói, xem ra số nó là thế. Đã vậy thì thà cứ để nó mang tên cha nó. Cha nó là A-ca-ki, thì con cũng là A-ca-ki.
Thế là có A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích. Đứa bé được rửa tội. Lúc ấy nó khóc, nhăn mặt như thể linh cảm trước rằng mình sẽ làm thư lại hàm chín. Mọi chuyện là như thế. Chúng tôi kể ra đây để bạn đọc tự thấy rằng chuyện ấy hoàn toàn do bắt buộc, không thể nào đặt được tên khác.
Ông vào bộ khi nào, vào thời gian nào, ai đưa ông vào, chẳng ai còn nhớ. Bao nhiêu đời ông vụ trưởng và đủ các ông sếp đã thay nhau, người ta vẫn thấy ông ở đúng một chỗ, đúng một tư thế, đúng một chức vụ, vẫn là viên chức chép giấy. Đến nỗi về sau người ta tin chắc rằng hẳn ông sinh ra đời đã hoàn chỉnh như thế, mặc sẵn đồng phục, đầu hói sẵn.
Ở bộ, chẳng ai tỏ chút kính trọng nào với ông. Bọn lính gác không những không đứng dậy khi ông đi qua, mà còn chẳng buồn nhìn ông, như thể có một con ruồi bay qua phòng chờ. Cấp trên đối xử với ông một cách lạnh lùng chuyên chế. Một ông phó trưởng phòng nào đó dúi thẳng giấy tờ vào mũi ông, chẳng buồn nói "chép đi", hay "có một việc hay hay đây", hay một câu gì dễ nghe như ở những cơ quan có giáo dục. Còn ông thì cầm lấy, chỉ nhìn tờ giấy, chẳng nhìn xem ai đưa và người ấy có quyền đưa hay không. Ông cầm lấy, và lập tức ngồi chép.
Các viên chức trẻ chế giễu, châm chọc ông, cố hết cái óc khôi hài văn phòng của họ. Họ kể ngay trước mặt ông đủ chuyện bịa về ông, về bà chủ nhà của ông, một bà già bảy mươi tuổi. Họ bảo bà ta đánh ông, hỏi bao giờ thì hai người cưới nhau. Họ rắc giấy vụn lên đầu ông, gọi là tuyết rơi. Nhưng A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích không đáp lại một lời, như thể trước mặt ông chẳng có ai. Chuyện ấy thậm chí không ảnh hưởng gì đến công việc của ông: giữa bao nhiêu trò quấy rầy, ông không chép sai một chữ.
Chỉ khi trò đùa quá quắt, khi người ta huých vào tay, không cho ông làm việc, ông mới nói:
– Để tôi yên, sao các anh lại xúc phạm tôi?
Và trong lời nói, trong giọng nói ấy có một cái gì đó lạ lùng. Nó có một cái gì khiến người ta động lòng thương, đến nỗi một chàng trai mới vào làm, đã theo gương người khác mà định cười cợt ông, bỗng sững lại như bị đâm xuyên qua người. Từ đó mọi thứ trước mắt anh như đổi khác, hiện ra dưới một dáng vẻ khác. Một sức mạnh nào đó khác thường đẩy anh ra xa những bạn đồng nghiệp mà anh từng làm quen, tưởng họ là những người lịch sự, tử tế.
Rất lâu về sau, giữa những phút vui vẻ nhất, anh vẫn thấy hiện ra viên chức thấp bé, trán hói, với những lời thấm thía: "Để tôi yên, sao các anh lại xúc phạm tôi?" Và trong những lời thấm thía ấy vang lên những lời khác: "Tôi là anh em của anh." Chàng trai tội nghiệp lấy tay che mặt. Và nhiều lần sau này trong đời, anh rùng mình khi thấy trong con người có biết bao nhiêu điều phi nhân, có biết bao nhiêu thô bạo hung tợn ẩn trong cái lịch thiệp tinh tế, có học thức, và, lạy Chúa! ngay cả trong con người mà thiên hạ cho là cao quý và lương thiện.
Khó mà tìm được ở đâu một người sống với chức vụ của mình như thế. Nói ông làm việc nhiệt tình thì chưa đủ. Không, ông làm việc với tình yêu. Ở đó, trong việc chép giấy ấy, ông thấy cả một thế giới riêng muôn màu và dễ chịu. Niềm khoái lạc hiện ra trên mặt ông. Có những chữ cái là chữ ông ưa thích nhất. Hễ chép đến chúng là ông như không còn là mình nữa: ông cười tủm tỉm, ông nháy mắt, ông mấp máy môi phụ hoạ, đến nỗi nhìn mặt ông, hình như có thể đọc được từng con chữ ngòi bút ông đang viết ra.
Giá người ta khen thưởng tương xứng với lòng hăng say của ông, có khi chính ông cũng ngạc nhiên mà thấy mình lên tới hàm cố vấn nhà nước. Nhưng như mấy anh bạn đồng nghiệp hay đùa của ông vẫn nói, cái ông kiếm được chỉ là một chiếc khuy cài khuyết áo với một chứng đau thắt lưng.
Dù vậy, cũng không thể nói là chẳng ai để ý đến ông. Một ông vụ trưởng tốt bụng, muốn thưởng cho ông vì làm lâu năm, đã ra lệnh giao cho ông một việc gì đó quan trọng hơn chép giấy thường ngày. Cụ thể là từ một hồ sơ đã có sẵn, ông phải soạn một công văn gửi sang một cơ quan khác. Việc chỉ có mỗi thay cái tiêu đề, và chỗ này chỗ kia đổi động từ từ ngôi thứ nhất sang ngôi thứ ba. Việc ấy làm ông vất vả đến mức toát cả mồ hôi, cứ xoa trán mãi, cuối cùng nói:
– Không, xin cho tôi chép cái gì đó thì hơn.
Từ đó người ta để ông chép giấy mãi mãi.
Ngoài việc chép giấy ấy, hình như với ông chẳng còn gì tồn tại. Ông chẳng hề nghĩ đến quần áo. Bộ đồng phục của ông không còn màu xanh, mà là một thứ màu hung hung như bột mì. Cổ áo hẹp và thấp, nên cái cổ của ông, dù chẳng dài gì, thò ra khỏi cổ áo lại trông dài khác thường, như cổ những con mèo thạch cao lắc lư đầu mà những người bán rong ngoại quốc ở nước ta đội hàng chục con trên đầu.
Lúc nào trên bộ đồng phục của ông cũng dính một thứ gì đó: khi thì một cọng cỏ khô, khi thì một sợi chỉ. Thêm nữa, ông có một tài đặc biệt là đi ngoài phố, cứ đến dưới cửa sổ đúng lúc người ta hắt rác ra, nên trên mũ ông lúc nào cũng mang theo vỏ dưa hấu, vỏ dưa vàng và đủ thứ vớ vẩn.
Chưa một lần nào trong đời ông để ý đến những gì diễn ra ngày ngày ngoài phố. Trong khi như ai cũng biết, một anh viên chức trẻ cùng ngạch với ông thì bao giờ cũng nhìn, anh ta tinh mắt đến mức thấy được cả ở bên kia vỉa hè ai bị sứt dây quai ống quần, và điều ấy bao giờ cũng làm anh ta cười ranh mãnh.
Còn A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích, nếu có nhìn vào cái gì, thì trên mọi thứ ông chỉ thấy những dòng chữ sạch sẽ, nắn nót đều đặn của mình. Chỉ khi nào không biết từ đâu, một cái mõm ngựa đặt lên vai ông, phì cả một luồng gió từ lỗ mũi vào má ông, lúc ấy ông mới nhận ra mình không phải đang ở giữa dòng chữ, mà là ở giữa đường.
Về đến nhà, ông ngồi ngay vào bàn, húp vội bát xúp bắp cải, ăn miếng thịt bò với hành, chẳng hề để ý mùi vị. Ông ăn tất cả cùng với ruồi và với bất cứ thứ gì Chúa gửi đến lúc ấy. Thấy bụng bắt đầu căng, ông đứng dậy khỏi bàn, lấy lọ mực ra, chép những giấy tờ mang về nhà. Nếu không có giấy tờ nào, ông cố ý chép một bản cho riêng mình, để tự làm vui, nhất là khi tờ giấy ấy đáng chú ý không phải vì văn hay, mà vì được gửi cho một nhân vật mới hay quan trọng nào đó.
Ngay cả vào những giờ mà bầu trời xám Pê-téc-bua tắt hẳn, khi cả giới quan chức đã ăn uống xong xuôi, mỗi người một kiểu tuỳ theo đồng lương và sở thích. Khi mọi người đã nghỉ ngơi sau những tiếng sột soạt ngòi bút ở bộ, sau những chạy vạy, những việc cần thiết của mình và của người, và tất cả những việc con người không biết nghỉ tự giao cho mình, thậm chí còn nhiều hơn mức cần.
Khi các viên chức vội vàng dâng thời gian còn lại cho thú vui: anh nào sôi nổi thì lao đến nhà hát. Anh thì ra phố ngắm nghía mấy chiếc mũ phụ nữ. Anh thì dành buổi tối để tán tỉnh một cô gái xinh xắn, ngôi sao của một nhóm viên chức nhỏ. Còn anh khác, và chuyện này hay xảy ra nhất, thì đến chơi nhà một bạn đồng ngạch ở tầng bốn hay tầng ba, hai phòng nho nhỏ với một phòng ngoài hoặc bếp, và đôi chút đồ đạc làm dáng theo mốt, một cây đèn hay một món đồ gì đó mà phải hy sinh bao nhiêu bữa ăn, bao nhiêu cuộc dạo chơi mới có được.
Nói tóm lại, ngay cả lúc tất cả viên chức tản về những căn hộ nhỏ của bạn bè để đánh một ván bài huýt, nhấp trà trong cốc với bánh mì khô giá một cô-pếch, rít khói những chiếc tẩu cán dài, vừa chia bài vừa kể một chuyện ngồi lê đôi mách nào đó lọt ra từ giới thượng lưu, cái thú mà người Nga ở cảnh ngộ nào cũng chẳng bao giờ bỏ được. Hoặc khi chẳng còn gì để nói, thì kể lại cái giai thoại muôn thuở về ông chỉ huy được báo tin rằng đuôi con ngựa ở tượng đài của Phan-cô-nê bị chặt mất.
Nói tóm lại, ngay cả lúc mọi người đều tìm cách giải trí, thì A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích cũng chẳng giải trí gì. Chưa ai có thể nói rằng từng thấy ông ở một buổi dạ hội nào. Chép thoả thích rồi, ông đi ngủ, mỉm cười trước khi nghĩ đến ngày mai: không biết mai Chúa sẽ gửi đến cái gì để chép đây.
Cuộc sống yên ổn của một con người với bốn trăm rúp lương mà biết bằng lòng với số phận mình cứ thế trôi đi. Và có lẽ nó đã trôi đến tận tuổi già, nếu không có những tai hoạ rải dọc đường đời, chẳng những của các thư lại hàm chín, mà của cả các cố vấn cơ mật, cố vấn thực thụ, cố vấn triều đình và đủ loại cố vấn, kể cả những người chẳng cố vấn cho ai, cũng chẳng nhận lời cố vấn của ai.
Ở Pê-téc-bua có một kẻ thù đáng sợ của tất cả những ai lĩnh lương bốn trăm rúp một năm hoặc độ chừng ấy. Kẻ thù ấy không ai khác chính là cái giá lạnh phương bắc của chúng ta, dù nghe đâu nó rất tốt cho sức khoẻ. Khoảng hơn tám giờ sáng, đúng lúc phố xá đầy người đi đến bộ, nó bắt đầu búng những cú vừa mạnh vừa buốt vào mọi cái mũi, chẳng phân biệt ai, khiến những viên chức tội nghiệp hoàn toàn chẳng biết giấu mũi vào đâu. Vào lúc ấy, khi ngay cả những người giữ chức cao cũng nhức trán vì rét, nước mắt trào ra, thì những thư lại hàm chín tội nghiệp đôi khi chẳng có gì che chở. Cách cứu mình duy nhất là khoác chiếc áo khoác mỏng dính, chạy thật nhanh qua năm sáu con phố, rồi đến phòng người gác cổng giậm chân thật lực, cho đến khi tan băng hết mọi năng lực và tài cán làm việc đã bị đóng băng dọc đường.
Đã ít lâu nay, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích bắt đầu cảm thấy lưng và vai mình bị rét táp đặc biệt dữ, dù ông đã cố chạy thật nhanh qua quãng đường quy định. Cuối cùng ông nghĩ, hay là chiếc áo khoác của mình có tội lỗi gì chăng. Về nhà xem xét kỹ, ông phát hiện ra ở hai ba chỗ, đúng ở lưng và vai, nó đã thành vải màn thưa: dạ mòn đến thủng ánh sáng, lớp lót thì rách bươm.
Phải biết rằng chiếc áo khoác của A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích cũng là cái đích để các viên chức chế giễu. Người ta còn tước của nó cả cái tên cao quý là áo khoác, mà gọi nó là cái áo choàng ngủ. Quả thật nó có một cấu tạo kỳ lạ: cổ áo mỗi năm một nhỏ lại, vì được cắt ra để vá vào những chỗ khác. Những miếng vá chẳng tỏ chút tay nghề thợ may nào, trông lùng nhùng, xấu xí.
Thấy chuyện đã như thế, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích quyết định phải mang áo đến bác Pê-tơ-rô-vích, thợ may, sống đâu đó trên tầng bốn, lối cầu thang sau. Bác này tuy chột một mắt, mặt rỗ khắp cả, nhưng sửa quần áo, áo đuôi tôm cho viên chức và đủ hạng người khác cũng khá khéo, tất nhiên là những khi bác tỉnh táo và trong đầu không đang ấp ủ một dự định nào khác.
Về bác thợ may này, lẽ ra chẳng nên nói nhiều. Nhưng vì đã thành lệ rằng trong truyện, tính cách mỗi nhân vật đều phải được tả cho đầy đủ, nên đành vậy, xin mời cả bác Pê-tơ-rô-vích ra đây. Lúc đầu bác chỉ tên là Gri-gô-ri, làm nông nô cho một ông chủ nào đó. Bác bắt đầu được gọi là Pê-tơ-rô-vích từ khi được giấy tự do và bắt đầu uống rượu khá nặng vào mọi ngày lễ, lúc đầu là những ngày lễ lớn, rồi chẳng phân biệt gì, cứ ngày nào lịch nhà thờ có đánh dấu thập là uống. Về mặt này, bác trung thành với tục lệ ông cha. Cãi nhau với vợ, bác gọi vợ là đồ đàn bà phàm tục và đồ con mẹ Đức.
Đã lỡ nhắc đến vợ bác, thì cũng phải nói về bà vài lời. Nhưng tiếc thay, về bà chẳng ai biết gì nhiều, ngoại trừ chuyện Pê-tơ-rô-vích có vợ, bà ta còn đội mũ trùm chứ không chít khăn. Còn nhan sắc thì hình như bà chẳng có gì để khoe. Ít ra thì khi gặp bà, chỉ có mấy anh lính cận vệ là ngó vào dưới mũ bà, nháy ria một cái, rồi phát ra một thứ tiếng gì đặc biệt.
Leo lên cầu thang dẫn đến nhà Pê-tơ-rô-vích, cái cầu thang mà phải nói cho công bằng là ướt nhoẹt nước, nước rửa bát, và thấm đẫm cái mùi rượu cay xè mắt mà như ai cũng biết, chẳng bao giờ vắng mặt ở mọi cầu thang sau các ngôi nhà Pê-téc-bua, leo lên cầu thang ấy, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích đã nghĩ xem Pê-tơ-rô-vích sẽ hét giá bao nhiêu, và thầm định không trả quá hai rúp.
Cửa mở, vì bà chủ đang rán cá, làm khói bay mù mịt khắp bếp, đến nỗi chẳng nhìn thấy được cả lũ gián. A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích đi qua bếp, ngay cả bà chủ cũng không nhận ra ông, và cuối cùng bước vào căn phòng, nơi ông thấy Pê-tơ-rô-vích đang ngồi trên một cái bàn gỗ rộng không sơn, hai chân xếp bằng dưới mông như một ông pa-sa Thổ Nhĩ Kỳ. Theo lệ của thợ may khi ngồi làm việc, chân bác để trần.
Trước tiên đập vào mắt là ngón chân cái, ngón chân mà A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích rất quen, với cái móng méo mó, dày và cứng như mai rùa. Trên cổ Pê-tơ-rô-vích vắt một cuộn chỉ lụa và chỉ thường, trên đầu gối là một mớ giẻ gì đó. Đã ba phút nay bác xâu chỉ vào lỗ kim mà không lọt, nên bác cáu lắm với bóng tối, và ngay cả với sợi chỉ, lẩm bẩm:
– Không chịu chui vào, đồ man rợ. Mày làm khổ tao rồi đấy, đồ quỷ sứ!
A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích không vui khi đến đúng lúc Pê-tơ-rô-vích đang cáu. Ông thích đặt Pê-tơ-rô-vích làm gì đó vào lúc bác đã hơi ngà ngà, hay như lời vợ bác nói: "đã ngấm rượu rồi, cái đồ quỷ một mắt." Những lúc ấy Pê-tơ-rô-vích thường rất dễ nhân nhượng, dễ đồng ý, lần nào cũng cúi chào và cám ơn. Thật ra sau đó vợ bác lại đến, khóc lóc rằng chồng bà say nên mới nhận làm rẻ thế. Nhưng chỉ cần thêm một hào là xong chuyện.
Còn lần này Pê-tơ-rô-vích có vẻ đang tỉnh táo, nên cứng rắn, khó nói chuyện, và rất thích hét những cái giá quỷ quái gì đâu. A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích nhận ra điều đó, đã định như người ta nói là rút lui, nhưng việc đã lỡ bắt đầu rồi. Pê-tơ-rô-vích nheo con mắt độc nhất nhìn ông thật chăm chú, và A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích bất giác thốt lên:
– Chào bác, Pê-tơ-rô-vích!
– Chúc ngài mạnh khoẻ ạ, Pê-tơ-rô-vích nói, rồi liếc con mắt xuống tay A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích, muốn dò xem ông mang đến loại mồi gì.
– Tôi đến tìm bác đây, Pê-tơ-rô-vích, cái việc ấy…
Phải biết rằng A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích phần lớn diễn đạt bằng giới từ, trạng từ, và cuối cùng là những hư từ hoàn toàn chẳng có nghĩa gì. Nếu việc rất khó nói, ông còn có thói quen chẳng nói hết câu, nên rất hay mở đầu bằng: "Cái này thật ra hoàn toàn là cái ấy…" rồi sau đó chẳng có gì nữa, và chính ông cũng quên mất, tưởng mình đã nói hết rồi.
– Việc gì thế ạ? Pê-tơ-rô-vích nói, đồng thời đưa con mắt độc nhất nhìn khắp bộ đồng phục của ông, từ cổ áo đến tay áo, lưng áo, vạt áo, khuyết áo, những thứ bác đều rất quen, vì chính tay bác làm ra. Thợ may đều có thói quen ấy, đó là việc đầu tiên họ làm khi gặp ai.
– Tôi đến thì là cái ấy, Pê-tơ-rô-vích… cái áo khoác, cái dạ… bác thấy đấy, mọi chỗ khác đều còn chắc lắm, nó chỉ hơi bám bụi, trông như cũ, chứ nó còn mới. Có điều ở một chỗ thì hơi cái ấy… ở lưng, với lại ở một bên vai hơi sờn một chút, với lại bên vai này cũng một chút… bác thấy đấy, chỉ có thế thôi. Cũng chẳng mất mấy công…
Pê-tơ-rô-vích cầm cái áo choàng, trước hết trải nó ra bàn, xem xét rất lâu, lắc đầu, rồi thò tay lên bậu cửa sổ lấy cái hộp thuốc lá hít tròn có hình một ông tướng nào đó. Ông tướng nào thì không ai biết, vì chỗ có khuôn mặt đã bị chọc thủng bằng ngón tay, rồi được dán đè lên bằng một mảnh giấy vuông. Hít thuốc xong, Pê-tơ-rô-vích căng cái áo choàng trên hai tay, soi ra phía ánh sáng, lại lắc đầu. Rồi bác lật mặt lót lên trên, lại lắc đầu, lại mở cái nắp có ông tướng dán giấy, nhét thuốc vào mũi, đóng lại, cất hộp đi, và cuối cùng nói:
– Không, không sửa được đâu. Đồ hỏng rồi!
Nghe câu ấy, tim A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích thót lại.
– Sao lại không sửa được, Pê-tơ-rô-vích? Ông nói, giọng gần như giọng van xin của một đứa trẻ. Chỉ có ở vai là sờn thôi mà. Chắc bác cũng phải có vài mảnh vải vụn nào đấy chứ…
– Vải vụn thì tìm được, vải vụn thì có, Pê-tơ-rô-vích nói. Nhưng không khâu vào được. Cái áo mục hết rồi, chạm kim vào là nó rách toạc ra.
– Thì rách đâu bác vá ngay chỗ đấy.
– Nhưng làm gì có chỗ mà đặt miếng vá, nó chẳng có gì mà bám vào, sờn quá rồi. Dạ chỉ được cái tiếng là dạ, chứ gió thổi một cái là bay tứ tán.
– Thì bác cứ gắn vào. Thế này thì thật là, cái ấy!…
– Không, Pê-tơ-rô-vích dứt khoát nói. Chẳng làm gì được đâu. Đồ hỏng hẳn rồi. Ngài cứ đợi đến lúc mùa đông giá rét, đem nó cắt ra làm xà cạp mà quấn chân, vì tất thì có ấm gì đâu. Tất là cái thứ bọn Đức nghĩ ra để kiếm thêm tiền.
Pê-tơ-rô-vích thích hễ có dịp là châm chọc người Đức.
– Còn áo khoác thì xem chừng ngài phải may cái mới thôi.
Nghe chữ "mới", mắt A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích hoa lên, và mọi thứ trong phòng đều quay cuồng lẫn lộn trước mặt ông. Ông chỉ thấy rõ có mỗi ông tướng bị dán giấy lên mặt trên nắp hộp thuốc lá của Pê-tơ-rô-vích.
– Mới là thế nào? Ông nói, vẫn như người đang mơ. Tôi làm gì có tiền mà may.
– Vâng, cái mới, Pê-tơ-rô-vích nói, bình thản một cách man rợ.
– Thế nếu phải may cái mới thì nó sẽ cái ấy…
– Tức là ngài hỏi giá bao nhiêu?
– Ừ.
– Ba tờ năm chục, lại phải thêm chút nữa, Pê-tơ-rô-vích nói, rồi mím môi một cách đầy ý nghĩa.
Bác rất thích những hiệu quả mạnh. Bác thích bất thình lình làm người ta sững sờ hoàn toàn, rồi liếc nhìn xem người bị sững sờ sẽ làm cái mặt thế nào sau những lời như thế.
– Một trăm rưỡi rúp một cái áo khoác! A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích tội nghiệp kêu lên. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời ông kêu lên, vì ông vốn nổi tiếng nói nhỏ nhẹ.
– Vâng ạ, Pê-tơ-rô-vích nói. Mà còn tuỳ áo khoác thế nào nữa. Nếu cổ áo viền lông chồn mác-tét, mũ trùm lót lụa, thì phải lên tới hai trăm.
– Pê-tơ-rô-vích, tôi xin bác, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích nói bằng giọng van nài, không nghe và chẳng cố nghe những lời Pê-tơ-rô-vích nói cùng mọi hiệu quả của bác. Bác cứ sửa giùm cách nào đấy, để nó còn dùng được thêm chút nào hay chút ấy.
– Không đâu, làm thế thì vừa phí công vừa tốn tiền vô ích, Pê-tơ-rô-vích nói.
Nghe những lời ấy, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích đi ra, hoàn toàn rã rời. Còn Pê-tơ-rô-vích, khi ông đi rồi, vẫn đứng hồi lâu, mím môi đầy ý nghĩa, chưa bắt tay vào làm, hài lòng vì vừa không tự hạ mình, vừa không bán rẻ tay nghề thợ may.
Ra đến phố, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích như người đang mơ.
– Thế này thì chuyện thế này, ông tự nói một mình. Thật tình tôi không ngờ nó lại thành ra cái ấy…
Rồi im lặng một lúc, ông nói thêm:
– Ra thế! Rốt cuộc thì ra thế này đây, mà thật tình tôi hoàn toàn không thể nào ngờ được là nó lại như thế.
Tiếp theo đó lại là một hồi im lặng dài, rồi ông nói:
– Thế đấy! Đúng là chẳng thể nào ngờ được, cái ấy… cái này thì không đời nào… cái hoàn cảnh như thế này!
Nói xong, thay vì đi về nhà, ông đi về hướng hoàn toàn ngược lại mà không hề hay biết. Dọc đường, một anh thợ cạo ống khói quệt cả cái sườn bẩn thỉu vào người ông, làm đen cả một bên vai. Cả một mũ vôi từ đỉnh một ngôi nhà đang xây đổ xuống người ông. Ông chẳng để ý gì cả. Mãi đến khi va phải một người lính gác đang dựng cây kích bên cạnh, rắc thuốc lá hít từ cái sừng lên nắm tay chai sạn, ông mới tỉnh ra đôi chút, mà cũng chỉ vì người lính gác nói:
– Lao thẳng vào mặt người ta làm gì thế, không có vỉa hè mà đi à?
Câu ấy khiến ông nhìn quanh và quay về nhà. Đến lúc ấy ông mới bắt đầu gom lại các ý nghĩ, nhìn thấy rõ ràng tình cảnh thật của mình, và bắt đầu nói chuyện với chính mình, không còn đứt quãng, mà có lý lẽ và thẳng thắn, như với một người bạn khôn ngoan mà ta có thể bàn về chuyện tâm can gần gũi nhất.
– Không, A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích nói, bây giờ không bàn với Pê-tơ-rô-vích được. Bây giờ bác ấy đang cái ấy… chắc lại bị vợ đánh cho một trận rồi. Tốt hơn là sáng chủ nhật mình đến. Sau tối thứ bảy, bác ấy sẽ lác mắt, ngủ chưa tỉnh, phải uống chút rượu giã rượu, mà vợ thì không cho tiền. Đúng lúc ấy mình dúi vào tay bác ấy một hào, cái ấy, thế là bác ấy sẽ dễ tính hơn, và cái áo khoác lúc ấy sẽ cái ấy…
A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích tự lý luận với mình như thế, tự động viên mình, chờ đến chủ nhật đầu tiên. Nhìn từ xa thấy vợ Pê-tơ-rô-vích đi ra khỏi nhà đâu đó, ông đến thẳng chỗ bác. Quả nhiên sau tối thứ bảy, Pê-tơ-rô-vích lác mắt dữ lắm, đầu gục xuống sàn, ngủ chưa tỉnh hẳn. Nhưng dù thế, vừa biết chuyện là gì, bác liền như bị quỷ xô.
– Không được, bác nói. Xin ngài đặt cái mới.
Đúng lúc ấy A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích dúi vào tay bác một hào.
– Đội ơn ngài, tôi xin uống chút cho lại sức, chúc sức khoẻ ngài, Pê-tơ-rô-vích nói. Còn cái áo khoác thì ngài đừng bận tâm nữa: nó chẳng dùng vào việc gì được nữa đâu. Áo mới thì tôi sẽ may cho ngài thật đẹp, cứ yên tâm về chuyện đó.
A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích còn định nói đến chuyện sửa, nhưng Pê-tơ-rô-vích không nghe hết, nói:
– Áo mới thì nhất định tôi may cho ngài, ngài cứ tin ở tôi, tôi sẽ cố hết sức. Có thể may theo đúng mốt bây giờ, cổ áo cài bằng móc bạc có viền.
Đến lúc ấy A-ca-ki A-ca-ki-ê-vích mới thấy rằng không thể không may áo khoác mới, và ông hoàn toàn suy sụp tinh thần.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn