Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cái cặp của Bích-xi-u

của Alphonse Daudet

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 9.790 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một buổi sáng tháng Mười, vài hôm trước khi…
  2. 1:03Và ông quay về phía tôi hai con ngươi…
  3. 1:32Không, Bích-xi-u ạ, tôi đang ăn sáng. Ông ăn…
  4. 3:03Tôi chỉ xin có thế. Có nhiều nhặn gì…
  5. 5:03Anh có biết còn cái gì khủng khiếp hơn…
  6. 7:11Rồi ông tuôn ra một bài chúc rượu dài…
  7. 9:50Một xấp thư viết trên giấy in hoa, tất…
  8. 10:27Thôi, hỡi dân Pa-ri, các người ai cũng giống…

Một buổi sáng tháng Mười, vài hôm trước khi rời Pa-ri, đang lúc tôi ăn sáng thì có một ông già bước vào nhà. Áo quần sờn rách, chân vòng kiềng, lấm bùn, lưng còng, run lẩy bẩy trên đôi chân dài ngoẵng như một con cò trụi lông. Đó là Bích-xi-u. Vâng, hỡi dân Pa-ri, đó chính là Bích-xi-u của các người, cái anh Bích-xi-u vừa dữ dằn vừa dễ mến, cái tay chế giễu điên cuồng đã làm các người cười nghiêng ngả suốt mười lăm năm nay bằng những bài đả kích và những bức biếm hoạ. Ôi, con người khốn khổ, sao mà thảm hại thế! Giá ông không nhăn mặt một cái lúc bước vào, hẳn tôi đã chẳng nhận ra.

Đầu nghiêng ngả trên vai, ngậm cây gậy ngang miệng như thổi kèn cla-ri-nét, gã hề lừng danh và u ám ấy tiến ra giữa phòng, rồi đổ người vào bàn tôi, rên rỉ:

— Xin thương lấy một người mù đáng thương!

Ông nhại giống đến nỗi tôi không nhịn được cười. Nhưng ông lạnh lùng nói:

— Anh tưởng tôi đùa à... Nhìn mắt tôi đây này.

Và ông quay về phía tôi hai con ngươi trắng dã, to tướng, không có ánh nhìn.

— Tôi mù rồi, anh bạn ạ, mù suốt đời... Viết bằng a xít thì phải thế thôi. Cái nghề hay ho ấy đã đốt cháy mắt tôi. Mà cháy tận gốc nhé, cháy trụi tới tận chân bấc!

Ông vừa nói thêm vừa chỉ cho tôi xem đôi mi mắt cháy sém, không còn lấy bóng một sợi lông mi.

Tôi xúc động đến mức chẳng biết nói gì. Thấy tôi im lặng, ông lo lắng hỏi:

— Anh đang làm việc à?

— Không, Bích-xi-u ạ, tôi đang ăn sáng. Ông ăn với tôi một chút chứ?

Ông không trả lời, nhưng nhìn hai cánh mũi phập phồng, tôi biết ông đang thèm nhận lời lắm. Tôi cầm tay ông, dắt ông ngồi xuống cạnh tôi.

Trong khi người ta dọn đồ ăn cho ông, con người tội nghiệp ấy cứ khụt khịt đánh hơi quanh bàn, cười khẽ:

— Có vẻ ngon cả đấy. Phen này tôi được một bữa thoả thuê. Lâu lắm rồi tôi không còn được ăn sáng! Mỗi sáng một ổ bánh mì một xu, vừa ăn vừa chạy khắp các bộ... Vì anh biết đấy, bây giờ tôi chạy các bộ, đấy là nghề duy nhất của tôi. Tôi đang cố xin cho được một quầy bán thuốc lá. Biết làm sao được! Ở nhà còn phải có cái ăn chứ. Tôi không vẽ được nữa, không viết được nữa... Đọc cho người khác chép ư? Nhưng đọc cái gì? Trong đầu tôi có gì đâu, tôi có biết bịa ra cái gì đâu. Nghề của tôi là nhìn những bộ mặt nhăn nhó của Pa-ri rồi vẽ lại chúng. Bây giờ thì hết đường rồi. Cho nên tôi nghĩ tới một quầy thuốc lá, dĩ nhiên không phải ngoài các đại lộ. Tôi đâu có quyền được hưởng ân huệ ấy, tôi có phải là mẹ một cô vũ nữ hay vợ goá một ông sĩ quan cao cấp đâu. Không! Chỉ một quầy nhỏ ở tỉnh lẻ, ở đâu đó thật xa, một góc núi Vô-giơ. Tôi sẽ có một cái tẩu sứ thật to, tôi sẽ tên là Hăng hay Dê-bê-đê như trong truyện của Éc-man và Sa-tri-ăng, và tôi sẽ tự an ủi chuyện không viết được nữa bằng cách lấy tác phẩm của mấy ông đồng nghiệp ra cuộn thành những gói thuốc lá.

Ông nói tiếp:

— Tôi chỉ xin có thế. Có nhiều nhặn gì đâu, phải không anh? Ấy thế mà khó như lên trời... Vậy mà lẽ ra tôi chẳng thiếu gì người che chở. Ngày trước tôi nổi lắm. Tôi ăn tối ở nhà ông thống chế, ở nhà ông hoàng, ở nhà các ông bộ trưởng. Bọn họ ai cũng muốn mời tôi, vì tôi làm họ vui, hoặc vì họ sợ tôi. Bây giờ thì tôi chẳng làm ai sợ nữa. Ôi đôi mắt của tôi! Đôi mắt tội nghiệp của tôi! Chẳng ai mời tôi đi đâu nữa. Một cái đầu người mù ngồi ở bàn ăn thì buồn lắm. Phiền anh đưa giùm tôi miếng bánh mì... À, lũ cướp! Chúng bắt tôi trả giá đắt cho cái quầy thuốc lá khốn khổ ấy. Sáu tháng nay tôi ôm lá đơn đi khắp các bộ. Sáng tôi tới, vào giờ người ta đốt lò sưởi và dắt ngựa của ngài bộ trưởng đi dạo một vòng trên sân cát. Tối mịt tôi mới về, khi người ta mang những cây đèn lớn vào và nhà bếp bắt đầu bốc mùi thơm phức.

Ông lại nói:

— Cả đời tôi bây giờ trôi qua trên mấy cái hòm đựng củi ở phòng chờ. Thế nên mấy ông mõ toà quen tôi lắm, anh ạ! Ở Bộ Nội vụ, họ gọi tôi là "cái ông hiền lành ấy". Còn tôi, để lấy lòng họ, tôi chơi chữ, hoặc vẽ một nét lên góc tờ giấy thấm của họ những bộ ria to tướng cho họ cười. Đấy, sau hai mươi năm thành công rầm rộ, tôi đến nông nỗi này đây, đoạn cuối của một đời nghệ sĩ là thế đấy! Vậy mà nghĩ xem, trên đất Pháp này có tới bốn vạn thằng ranh con thèm nhỏ dãi cái nghề của chúng ta! Nghĩ xem, ngày nào ở các tỉnh cũng có một đầu máy xe lửa đốt lò để chở lên cho chúng ta từng sọt những thằng ngốc đói khát văn chương và tiếng tăm trên mặt báo! Ôi, cái tỉnh lẻ mơ mộng kia, giá mà cảnh khốn cùng của Bích-xi-u làm ngươi tỉnh ngộ!

Nói xong, ông cúi gí mũi vào đĩa, ăn ngấu nghiến, không nói thêm một lời. Nhìn ông ăn mà thương. Chốc chốc ông lại đánh rơi miếng bánh, cái nĩa, rồi lần mò tìm cái cốc. Tội nghiệp! Ông vẫn còn chưa quen.

Một lúc sau, ông lại nói:

— Anh có biết còn cái gì khủng khiếp hơn nữa với tôi không? Ấy là không đọc được báo nữa. Phải là người trong nghề mới hiểu. Thỉnh thoảng buổi tối, trên đường về, tôi mua một tờ, chỉ để ngửi cái mùi giấy ẩm và tin tức mới tinh ấy. Thích lắm! Mà chẳng có ai đọc cho tôi nghe! Vợ tôi thì đọc được đấy, nhưng bà ấy không chịu. Bà ấy bảo trong mục tin vặt có những chuyện không được đứng đắn. Chao ôi, mấy cô nhân tình cũ ấy, một khi đã thành vợ người ta rồi thì chẳng ai đạo đức giả bằng. Từ khi tôi cưới bà ấy về làm bà Bích-xi-u, bà ấy tưởng mình buộc phải trở nên sùng đạo, mà sùng tới mức nào! Bà ấy còn định bắt tôi lấy nước thánh ở La Xa-lét mà xoa mắt nữa chứ! Rồi bánh thánh, rồi quyên góp, rồi hội Thánh Ấu, rồi quyên tiền cho trẻ con bên Tàu, còn gì nữa tôi chẳng biết. Nhà tôi ngập tới cổ trong việc thiện. Ấy thế mà đọc báo cho tôi nghe cũng là một việc thiện chứ. Vậy mà không, bà ấy không chịu. Giá con gái tôi còn ở nhà thì nó sẽ đọc cho tôi nghe. Nhưng từ khi tôi mù, tôi đã gửi nó vào trường dòng Đức Bà Nghệ Thuật, để bớt đi một miệng ăn.

Ông nói tiếp:

— Lại thêm một đứa làm tôi khoái chí đấy! Mới ra đời chưa được chín năm mà nó đã mắc đủ thứ bệnh rồi. Lại buồn rười rượi! Lại xấu! Xấu hơn cả tôi, nếu có thể được. Một con quái vật! Biết làm sao được! Cả đời tôi chỉ biết vẽ tranh biếm hoạ... Ơ kìa, tôi cũng tốt bụng thật đấy, ngồi kể chuyện nhà mình cho anh nghe. Chuyện ấy thì can hệ gì tới anh? Nào, rót thêm cho tôi chút rượu mạnh nữa đi. Tôi phải lấy hứng đã. Ra khỏi đây tôi sang Bộ Giáo dục, mà mấy ông mõ toà bên ấy khó chọc cười lắm. Toàn là thầy giáo cũ cả.

Tôi rót rượu cho ông. Ông bắt đầu nhấm nháp từng ngụm nhỏ, vẻ mủi lòng. Bỗng nhiên, chẳng biết cơn hứng nào đâm vào, ông đứng dậy, tay cầm cốc, đưa cái đầu như đầu một con rắn độc mù loà ấy nhìn quanh một lượt, với nụ cười dễ mến của một quý ông sắp đọc diễn văn, rồi cất giọng the thé như đang nói trước một bữa tiệc hai trăm khách:

— Vì nghệ thuật! Vì văn chương! Vì báo chí!

Rồi ông tuôn ra một bài chúc rượu dài mười phút, một màn ứng khẩu điên rồ nhất, tuyệt vời nhất từng thoát ra từ cái đầu của gã hề ấy.

Các người hãy hình dung một vở kịch tổng kết cuối năm tên là "Vỉa hè văn chương năm mười tám trăm sáu mươi mấy". Những hội đoàn tự xưng là văn chương của chúng ta, những chuyện ngồi lê đôi mách, những trận cãi vã, tất cả những trò lố bịch của một thế giới lập dị, một đống phân mực, một địa ngục chẳng có gì hùng tráng, nơi người ta cắt cổ nhau, mổ bụng nhau, lột sạch túi nhau, nơi người ta nói chuyện lợi lộc và tiền nong còn nhiều hơn cả giới thị dân, mà vẫn chết đói nhiều hơn mọi nơi khác. Tất cả những trò hèn hạ, tất cả những cảnh khốn cùng của chúng ta. Lão nam tước già nọ cầm cái bát ăn xin, khoác chiếc áo màu xanh hoa thanh cúc, lẽo đẽo tới điện Tuy-lơ-ri mà ê a xin xỏ. Rồi những người chết trong năm, những đám tang làm quảng cáo, bài điếu văn của ông đại biểu, lúc nào cũng y như nhau: "Người bạn thân yêu, đáng tiếc thương! Tội nghiệp người bạn thân yêu!", đọc cho một kẻ khốn khổ mà người ta không chịu trả tiền mua mộ. Rồi những kẻ đã tự tử, những kẻ đã hoá điên. Các người hãy hình dung tất cả những thứ ấy được kể ra, tả tỉ mỉ, diễn bằng điệu bộ bởi một thiên tài nhăn mặt, khi ấy các người sẽ hiểu màn ứng khẩu của Bích-xi-u là thế nào.

Chúc rượu xong, uống cạn cốc, ông hỏi tôi mấy giờ rồi, rồi bỏ đi, vẻ mặt hằm hằm, chẳng chào tôi một câu. Tôi không biết sáng hôm ấy mấy ông mõ toà của ngài bộ trưởng Đuy-ruy-i tiếp ông ra sao. Nhưng tôi biết chắc rằng chưa bao giờ trong đời tôi thấy buồn, thấy bứt rứt như sau khi người mù ghê gớm ấy ra về. Lọ mực làm tôi buồn nôn, cây bút làm tôi ghê sợ. Tôi chỉ muốn bỏ đi thật xa, chạy, nhìn cây cối, ngửi một cái gì thơm tho... Lạy Chúa, căm hờn đến thế! Cay đắng đến thế! Lúc nào cũng thèm nhổ nước bọt lên mọi thứ, bôi nhọ mọi thứ! Chao ôi, cái con người khốn nạn...

Và tôi giận dữ đi tới đi lui trong phòng, tai cứ như còn nghe thấy tiếng cười khẩy ghê tởm của ông lúc nói về đứa con gái.

Bỗng, cạnh chiếc ghế người mù vừa ngồi, tôi thấy có vật gì lăn dưới chân. Cúi xuống, tôi nhận ra cái cặp da của ông, một cái cặp to, bóng loáng, sứt cả các góc, chẳng bao giờ rời người ông, cái mà ông vẫn cười gọi là túi nọc độc. Trong giới chúng tôi, cái túi ấy nổi tiếng chẳng kém gì những tập hồ sơ lừng danh của ông Gi-ra-đanh. Người ta đồn trong đó có những thứ khủng khiếp lắm. Đây là dịp tốt để tôi biết cho chắc. Cái cặp cũ phồng căng quá, rơi xuống thì bục ra, giấy tờ lăn tung toé trên thảm. Tôi đành nhặt lên từng tờ một.

Một xấp thư viết trên giấy in hoa, tất cả đều mở đầu bằng câu "Bố yêu quý của con", và ký tên "Xê-lin Bích-xi-u, con của Đức Mẹ".

Những đơn thuốc cũ chữa bệnh trẻ con: bạch hầu, co giật, tinh hồng nhiệt, sởi... Con bé tội nghiệp chẳng thoát được bệnh nào!

Sau cùng là một phong bì lớn dán kín, từ trong lòi ra, như lòi ra từ chiếc mũ của một bé gái, hai ba sợi tóc vàng xoăn tít. Và trên phong bì, nét chữ to, run run, nét chữ của người mù:

"Tóc của Xê-lin, cắt ngày mười ba tháng Năm, ngày con bé vào trường bên ấy."

Trong cái cặp của Bích-xi-u chỉ có thế.

Thôi, hỡi dân Pa-ri, các người ai cũng giống nhau cả. Ghê tởm, mỉa mai, cười như quỷ, đùa độc ác, để rồi cuối cùng thì: "Tóc của Xê-lin, cắt ngày mười ba tháng Năm".

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1869
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Portefeuille de Bixiou, trong tập Lettres de mon moulin, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →