Dẫu sống được ba trăm tuổi, vui sướng dư đầy, mà sánh với niềm vui vô tận muôn đời mai sau, thì cũng chỉ như mộng ảo. Đó là lời trong sách Dẫn đường cho kẻ có tội, bản dịch đời Khánh Trường.
Ai đã bước vào đường lành, sẽ nếm được vị ngọt nhiệm mầu ẩn trong lời dạy của Chúa. Đó là lời trong sách Gương Chúa Giê-su, bản dịch đời Khánh Trường.
Thuở trước, ở thành Na-ga-xa-ki nước Nhật, trong ngôi nhà thờ tên là Xan-ta Lu-xi-a, có một thiếu niên người xứ này tên là Lô-ren-xô. Nghe kể rằng vào một đêm lễ Giáng Sinh năm nọ, cậu nằm gục trước cửa nhà thờ, đói lả và kiệt sức. Các tín hữu tới dự lễ săn sóc cậu, rồi cha xứ thương tình, cho cậu được nuôi trong nhà thờ. Nhưng chẳng hiểu sao, hễ ai hỏi về gốc gác, cậu chỉ cười xoà như không có gì, bảo quê mình là thiên đàng, tên cha mình là Đức Chúa Trời, chẳng bao giờ nói thật. Có điều, chỉ cần nhìn tràng hạt ngọc xanh đeo nơi cổ tay cậu, cũng biết ngay rằng cha mẹ cậu không phải hạng người ngoại đạo. Vì thế, cha xứ cùng nhiều thầy dòng cũng nghĩ chắc chẳng phải kẻ đáng ngờ, bèn hết lòng nuôi nấng. Lòng tin của cậu vững vàng chẳng giống tuổi nhỏ chút nào, tới mức các bậc bề trên cũng phải lắc đầu thán phục. Mọi người bảo nhau rằng Lô-ren-xô hẳn là thiên thần đầu thai. Một đứa trẻ chẳng rõ sinh ở đâu, con nhà ai, mà ai nấy hết mực thương yêu.
Lô-ren-xô lại có gương mặt trong sáng như ngọc, giọng nói dịu dàng như con gái, nên càng khiến người ta thương mến. Trong số ấy, có một thầy dòng người xứ này tên là Xi-mê-ôn, coi Lô-ren-xô như em ruột, ra vào nhà thờ lúc nào cũng nắm tay nhau thân thiết. Xi-mê-ôn này vốn xuất thân dòng dõi võ gia, cha ông từng theo hầu một vị lãnh chúa, nổi tiếng với cây giáo. Thầy cao lớn hơn người, lại sẵn sức khoẻ trời cho, nên đã chẳng phải một hai lần che chắn cho cha xứ khỏi những hòn đá, mảnh ngói đám người ngoại đạo ném vào. Cảnh thầy thân thiết với Lô-ren-xô, có thể ví như con đại bàng dữ dằn quấn quýt bên chim câu. Hay ví như cây bách trên núi Li-băng được dây nho quấn quanh, đơm hoa nở rộ.
Thấm thoắt hơn ba năm trôi qua như nước chảy, Lô-ren-xô đã tới tuổi sắp làm lễ trưởng thành. Thì có một lời đồn kỳ lạ lan ra, rằng con gái một ông thợ làm ô trong phố, gần nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, đang thân thiết với Lô-ren-xô. Ông thợ làm ô cũng theo đạo Chúa, nên thường cùng con gái tới nhà thờ. Ngay cả lúc đang cầu nguyện, cô gái cũng chẳng lúc nào rời mắt khỏi Lô-ren-xô đang cầm bình hương. Huống hồ mỗi lần tới nhà thờ, cô bao giờ cũng chải tóc làm đầu thật đẹp, đưa mắt về phía Lô-ren-xô. Tự nhiên các tín hữu cũng để ý, rồi có người bảo cô gái giẫm lên chân Lô-ren-xô khi đi ngang qua, có người lại bảo tận mắt thấy hai người trao thư tình cho nhau.
Có lẽ vì thế mà cha xứ cũng thấy không thể bỏ qua. Một hôm, cha gọi Lô-ren-xô tới, vừa cắn chòm râu bạc vừa dịu dàng hỏi: Ta nghe có lời đồn này nọ giữa con với con gái ông thợ làm ô, nhưng chắc không phải thật. Có đúng không? Lô-ren-xô chỉ buồn bã lắc đầu, giọng nghẹn nước mắt, cứ nhắc đi nhắc lại: Con không hề biết chuyện ấy. Cha xứ cũng đành chịu, nghĩ rằng tuổi tác như thế, lòng tin ngày thường như thế, đã nói tới vậy thì hẳn không có gì dối trá.
Thế là nỗi ngờ của cha xứ tạm được gỡ bỏ. Nhưng giữa những người lui tới nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, lời ra tiếng vào vẫn chẳng dễ gì dứt. Nên Xi-mê-ôn, người vẫn coi cậu như em ruột, lại càng lo hơn ai hết. Thoạt đầu, thầy thấy đem chuyện dâm ô như thế ra mà tra hỏi rình rang thì chính mình cũng xấu hổ, đừng nói hỏi thẳng, đến mặt Lô-ren-xô thầy cũng không dám nhìn. Nhưng có lần, ở khoảng vườn sau nhà thờ, thầy nhặt được một bức thư tình cô gái gửi Lô-ren-xô. Nhân lúc cậu ở một mình trong phòng vắng, thầy chìa bức thư ra trước mặt cậu, vừa doạ vừa dỗ, gặng hỏi đủ điều. Nhưng Lô-ren-xô chỉ đỏ mặt, nói: Cô ấy có để ý tới em, nhưng em chỉ nhận thư thôi, chưa từng nói với cô ấy một lời. Vì còn những lời chê trách của thiên hạ, Xi-mê-ôn vẫn cố gặng hỏi thêm. Lô-ren-xô đưa đôi mắt buồn bã nhìn thầy đăm đăm, rồi buông một câu như trách móc: Hoá ra đến anh cũng coi em là kẻ có thể nói dối. Rồi cậu vụt đứng dậy rời khỏi phòng, nhanh như một cánh én. Nghe vậy, Xi-mê-ôn cũng thấy xấu hổ vì mình đa nghi quá, bèn lủi thủi định bỏ đi. Thì bỗng cậu thiếu niên Lô-ren-xô chạy ào vào, nhào tới ôm lấy cổ thầy, thì thầm hổn hển: Em sai rồi. Anh tha cho em. Rồi chẳng chờ thầy đáp lời nào, như để giấu gương mặt đẫm nước mắt, cậu đẩy thầy ra, lại cắm đầu chạy về phía cũ. Cho nên câu Em sai rồi cậu thì thầm ấy, là sai vì tư tình với cô gái, hay sai vì đã đối xử lạnh nhạt với Xi-mê-ôn, thầy hoàn toàn không sao hiểu nổi.
Chẳng bao lâu sau thì xảy ra chuyện ầm ĩ: cô con gái ông thợ làm ô có mang. Mà cô còn nói rõ trước mặt cha mình rằng cha đứa bé trong bụng là Lô-ren-xô ở nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a. Thế là ông thợ làm ô giận như lửa đốt, lập tức tới chỗ cha xứ kể hết đầu đuôi. Tới nước này, Lô-ren-xô không còn cách gì chối cãi. Ngay hôm ấy, cha xứ cùng các thầy dòng bàn bạc, rồi tuyên bố trục xuất cậu khỏi giáo đoàn. Đã bị trục xuất thì dĩ nhiên cũng bị đuổi khỏi nơi cha xứ cưu mang, chuyện miếng ăn sẽ khốn khó là điều thấy trước mắt. Nhưng giữ một kẻ tội lỗi như thế ở lại nhà thờ thì phạm tới vinh danh Chúa, nên cả những người ngày thường thân thiết cũng đành nuốt nước mắt mà đuổi Lô-ren-xô đi.
Đáng thương nhất là Xi-mê-ôn, người vẫn coi cậu như em ruột. Nỗi giận vì bị Lô-ren-xô lừa dối còn lớn gấp đôi nỗi buồn vì cậu bị đuổi đi. Nên khi cậu thiếu niên đáng thương lủi thủi bước ra khỏi cửa giữa cơn gió bấc đầu đông, thầy từ bên cạnh vung nắm đấm, đánh một cú thật mạnh vào gương mặt xinh đẹp ấy. Bị người khoẻ như thế đánh, Lô-ren-xô ngã sóng soài xuống đất. Nhưng rồi cậu gượng đứng lên, đôi mắt rưng rưng ngước nhìn trời, run giọng cầu nguyện: Lạy Chúa, xin tha thứ cho anh ấy. Anh Xi-mê-ôn không biết việc mình làm. Có lẽ câu ấy làm Xi-mê-ôn chùn lại. Thầy đứng ở cửa một lúc, chỉ vung nắm tay vào khoảng không. Rồi các thầy dòng khác cũng xúm vào can ngăn, nhân đó thầy buông tay, mặt u ám ghê gớm như bầu trời sắp nổi giông, chăm chăm dõi theo như muốn nuốt lấy bóng lưng Lô-ren-xô đang lủi thủi rời khỏi cổng nhà thờ. Nghe những tín hữu có mặt lúc ấy kể lại, thì đúng lúc ấy mặt trời chao trong gió bấc đang lặn xuống phía tây thành Na-ga-xa-ki, sau mái đầu Lô-ren-xô đang cúi gằm bước đi. Dáng người dịu dàng của cậu thiếu niên trông như đứng sững giữa biển lửa rực cả bầu trời.
Từ đó, Lô-ren-xô khác hẳn thuở xưa từng cầm bình hương nơi cung thánh nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, giờ thành một kẻ ăn mày đáng thương nhất đời, ăn ngủ trong túp lều của dân cùng đinh ở rìa thành. Huống hồ trước kia cậu lại là kẻ theo đạo Chúa, bị đám người ngoại đạo khinh như rác. Đi ngoài phố, đã đành bị lũ trẻ vô tâm chế giễu, nghe nói cậu còn nhiều lần bị dao gậy, gạch đá hành hạ. Không chỉ thế, có lần cậu mắc phải trận sốt dịch kinh khủng lan khắp thành Na-ga-xa-ki, bảy ngày bảy đêm nằm lăn lóc bên vệ đường, quằn quại đau đớn. Nhưng lòng thương xót vô biên của Chúa, chẳng những lần nào cũng cứu lấy mạng Lô-ren-xô, mà những lúc không ai bố thí gạo tiền, Chúa lại ban cho cậu trái cây trên núi, cá tôm dưới biển, làm miếng ăn qua ngày. Vì thế, Lô-ren-xô vẫn không quên những lời kinh sớm tối như thuở còn ở nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, tràng hạt đeo nơi cổ tay cũng không phai màu ngọc xanh. Mà nào chỉ có thế. Đêm nào cũng vậy, khi đêm đã khuya, tiếng người đã lặng, cậu thiếu niên lại lén rời túp lều ở rìa thành, giẫm lên ánh trăng, tới nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a quen thuộc, cầu xin Chúa Giê-su phù hộ.
Nhưng các tín hữu cùng tới nhà thờ ấy, hồi đó đã ruồng bỏ Lô-ren-xô hẳn rồi, từ cha xứ trở đi, chẳng một ai còn thương xót cậu. Cũng phải thôi, từ lúc cậu bị trục xuất, ai nấy đều đinh ninh cậu là kẻ phóng túng không biết hổ thẹn, thì làm sao biết được cậu lại là người sùng đạo tới mức đêm nào cũng một mình tới nhà thờ. Đây cũng là một trong muôn vàn sự an bài của Chúa, tuy bảo là vô cớ, nhưng với thân phận Lô-ren-xô, thì thật vừa cao đẹp vừa đáng thương biết mấy.
Còn bên kia là cô con gái ông thợ làm ô. Lô-ren-xô bị trục xuất chẳng bao lâu, cô sinh non một bé gái. Ông bố vốn cứng cỏi, nhưng nhìn mặt đứa cháu đầu lòng thì cũng chẳng ghét nổi, cùng con gái hết lòng chăm bẵm, tự tay bế ẵm, có khi còn mua cho cả búp bê đồ chơi. Ông già thì đã đành. Lạ lùng nhất lại là thầy dòng Xi-mê-ôn. Người đàn ông to lớn tưởng có thể quật ngã cả quỷ dữ ấy, từ khi cô gái sinh con, hễ có lúc rảnh là tới thăm ông thợ làm ô, giơ đôi cánh tay thô kệch bế bổng đứa bé lên, gương mặt cay đắng rưng rưng nước mắt, nhớ thương dáng hình mảnh mai dịu dàng của Lô-ren-xô, người thầy từng thương như em. Riêng cô gái, từ khi Lô-ren-xô rời nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, chẳng hề thấy bóng cậu đâu, nên có vẻ oán hận buồn rầu lắm, đến việc Xi-mê-ôn tới thăm cô cũng có vẻ không vui.
Tục ngữ xứ này có câu bóng ngày qua cửa chẳng ai ngăn. Thoắt cái, hơn một năm đã trôi qua trong chớp mắt. Thì xảy ra một tai biến không ai ngờ: trận hoả hoạn lớn chỉ trong một đêm thiêu rụi nửa thành Na-ga-xa-ki. Cảnh tượng lúc ấy kinh hoàng tới rợn tóc gáy, tưởng như tiếng kèn ngày phán xét cuối cùng đang xé toạc ánh lửa rực trời mà vang dội. Nhà ông thợ làm ô chẳng may ở cuối gió, nên trong nháy mắt đã bị lửa bao trùm. Cả nhà hốt hoảng chạy ra, thì mới hay không thấy đứa bé gái của cô con gái đâu cả. Chắc chắn là đã để nó ngủ trong một gian phòng, rồi quên mất mà chạy ra tới đây. Ông già giậm chân giậm cẳng chửi bới gào thét. Cô gái thì nếu không bị người ta giữ lại, hẳn đã lao vào lửa cứu con. Nhưng gió mỗi lúc một mạnh, lưỡi lửa gầm rú như muốn thiêu cháy cả sao trời. Cho nên dân phố kéo tới chữa cháy cũng chỉ biết nhốn nháo kêu la, ngoài việc giữ chặt cô gái như điên dại, chẳng còn làm gì được nữa. Thì có một người rẽ đám đông chạy tới, chính là thầy dòng Xi-mê-ôn. Thầy là trang trượng phu lực lưỡng, nghe nói từng xông qua cả làn tên mũi đạn, nên vừa thấy cơ sự đã hăng hái lao về phía ngọn lửa. Nhưng có lẽ lửa dữ quá, thầy đành chùn bước. Chỉ thấy thầy xông qua khói hai ba lần, rồi quay lưng chạy một mạch trở ra. Thầy tới trước mặt ông già với cô gái đang đứng đó, nói: Đây cũng là một trong những sự an bài của Chúa, Đấng làm nên muôn sự. Thôi, đành cam lòng vậy. Đúng lúc ấy, từ bên cạnh ông già, có ai đó chẳng rõ là ai, cất tiếng kêu vang: Lạy Chúa, xin cứu giúp! Giọng nói nghe quen quen, Xi-mê-ôn ngoảnh đầu nhìn người vừa kêu, thì kìa, đó chẳng phải ai khác, chính là Lô-ren-xô. Gương mặt gầy guộc thanh khiết rực đỏ trong ánh lửa, mái tóc đen rối bời trong gió dường như đã dài quá vai, nhưng nét mày mắt đẹp đẽ đáng thương ấy, chỉ nhìn một lần là nhận ra ngay. Lô-ren-xô ấy, vẫn trong bộ dạng ăn mày, đứng trước đám đông, mắt không rời ngôi nhà đang cháy rực. Nhưng cảnh ấy chỉ trong một cái chớp mắt. Một cơn gió khủng khiếp thổi qua, quạt lửa bùng lên một hồi, thì bóng Lô-ren-xô đã lao thẳng vào giữa những cột lửa, tường lửa, xà lửa. Xi-mê-ôn bất giác toát mồ hôi khắp người, giơ tay vẽ dấu thánh giá lên trời cao, chính thầy cũng kêu lên: Lạy Chúa, xin cứu giúp! Chẳng hiểu sao lúc ấy, trong mắt lòng thầy lại hiện lên hình bóng Lô-ren-xô đẹp đẽ và buồn bã, đứng sững nơi cổng nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, tắm trong ánh mặt trời chao trong gió bấc.
Nhưng các tín hữu quanh đó, tuy kinh ngạc trước việc làm can đảm của Lô-ren-xô, có lẽ vẫn chưa quên được chuyện phạm giới năm xưa. Chẳng mấy chốc, đủ thứ lời bàn tán theo gió bay qua đám đông xôn xao. Ai đó chẳng rõ là ai lớn tiếng bảo nhau: Quả nhiên tình cha con chẳng chối được. Thằng Lô-ren-xô xấu hổ vì tội mình, chẳng dám bén mảng tới đây, thế mà giờ lại lao vào lửa cứu mạng đứa con duy nhất đấy. Đến ông già cũng có vẻ cùng một lòng nghĩ thế, từ lúc thấy bóng Lô-ren-xô, như để giấu nỗi bồn chồn lạ lùng trong lòng, ông đứng lên ngồi xuống vật vã, lớn tiếng gào lên những lời ngớ ngẩn. Chỉ có cô gái, người trong cuộc, quỳ sụp xuống đất như điên dại, hai tay ôm mặt, một lòng một dạ cầu nguyện, không hề nhúc nhích. Trên đầu cô, tàn lửa rơi như mưa. Khói cũng quét sát mặt đất, táp vào mặt cô. Vậy mà cô vẫn lặng lẽ cúi đầu, quên cả thân mình, đắm chìm trong lời cầu nguyện.
Một lúc sau, đám người tụ trước đám cháy lại cùng lúc ồ lên, thì thấy Lô-ren-xô tóc tai rũ rượi, hai tay ôm đứa bé, từ giữa lửa bay tán loạn hiện ra như từ trời giáng xuống. Nhưng đúng lúc ấy, một cây xà đã cháy rụi bỗng gãy ngang. Một tiếng động kinh hoàng, một luồng khói lửa phụt lên lưng trời, chỉ trong nháy mắt bóng Lô-ren-xô đã biến mất, chỉ còn một cột lửa sừng sững như cành san hô.
Tai hoạ khủng khiếp ấy khiến ai nấy hồn xiêu phách lạc, từ Xi-mê-ôn cho tới ông già, mọi tín hữu có mặt đều hoa cả mắt. Cô gái thét lên thảm thiết, có lúc chồm dậy, quên cả lộ đôi chân, rồi như người bị sét đánh, gục ngay xuống đất. Ấy vậy mà, trong tay cô gái đang gục xuống kia, chẳng biết tự bao giờ, đứa bé gái nhỏ dù chưa biết sống chết ra sao, đang được ôm chặt, thì biết nói sao đây. Ôi, sự khôn ngoan và quyền năng vô biên của Chúa, không lời nào ca ngợi cho xiết. Đứa bé mà Lô-ren-xô, bị xà nhà đang đổ sụp đè lên, đã dốc hết sức tàn ném về phía này, đã may mắn rơi lăn ngay dưới chân cô gái, không hề bị thương.
Thế là cô gái gục xuống đất, nức nở trong nước mắt vui mừng, còn ông già đứng dậy giơ cao hai tay, từ miệng ông trào ra lời ngợi khen lòng nhân từ của Chúa, trang nghiêm tự nhiên. Mà không, đúng ra là lời ấy đã sắp sửa trào ra. Vì trước đó, Xi-mê-ôn đã một lòng muốn cứu Lô-ren-xô, lao thẳng vào giữa cơn bão lửa cuồn cuộn, nên lời ông già lại hoá thành tiếng cầu nguyện thống thiết, đầy lo âu, vang cao lên bầu trời đêm. Mà đâu chỉ có ông già. Các tín hữu vây quanh hai cha con cũng cùng cất tiếng, vừa khóc vừa cầu nguyện: Lạy Chúa, xin cứu giúp! Và Chúa Giê-su của chúng ta, con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Đấng nhìn mọi khổ đau buồn thương của con người như của chính mình, cuối cùng đã nghe lời cầu nguyện ấy. Kìa xem! Lô-ren-xô cháy bỏng thảm thương, được Xi-mê-ôn ôm trong tay, đã được cứu ra khỏi giữa lửa và khói rồi kia.
Nhưng tai biến đêm ấy chưa phải chỉ có thế. Lô-ren-xô thoi thóp, được các tín hữu vội khiêng tới đặt nằm trước cổng nhà thờ, vốn ở đầu gió. Lúc ấy, cô con gái ông thợ làm ô, vẫn ôm chặt đứa bé vào lòng, nước mắt đầm đìa, quỳ sụp dưới chân cha xứ vừa bước ra cổng, rồi ngay trước mắt mọi người, cô xưng tội, một lời xưng tội không ai ngờ tới: Đứa bé này không phải con của Lô-ren-xô đâu ạ. Thật ra con đã tư tình với con trai nhà ngoại đạo bên cạnh, mà sinh ra nó. Giọng cô run rẩy dồn hết tâm can, đôi mắt đẫm lệ sáng rực, khiến không ai nghĩ trong lời xưng tội ấy có một chút gian dối nào. Cũng phải thôi, các tín hữu đứng sát vai nhau quên cả ngọn lửa dữ đang thiêu đốt trời, nín thở không thốt nên lời.
Cô gái nén nước mắt, nói tiếp: Con vẫn thầm thương trộm nhớ Lô-ren-xô, nhưng vì lòng đạo vững vàng, người đối với con lạnh nhạt quá, nên con sinh lòng oán giận, nói dối rằng đứa bé trong bụng là con của người, để người phải biết nỗi cay đắng vì đã phũ phàng với con. Thế nhưng tấm lòng cao cả của người chẳng những không ghét bỏ tội lớn của con, mà đêm nay còn quên cả hiểm nguy cho thân mình, từ giữa biển lửa chẳng khác gì địa ngục, cứu lấy mạng con gái con. Lòng thương xót ấy, việc làm ấy, con chỉ biết quỳ lạy như Chúa Giê-su tái thế. Nghĩ tới tội ác chồng chất của con, thì tấm thân này có bị móng vuốt quỷ dữ xé nát từng mảnh, con cũng chẳng dám oán trách gì. Cô gái chưa xưng tội xong đã gieo mình xuống đất, gục khóc.
Đúng lúc ấy, giữa vòng người vây kín hai ba lớp, tiếng Tử đạo, đó là tử đạo, dâng lên như sóng. Thật đáng quý thay, Lô-ren-xô vì thương xót kẻ có tội, đã bước theo dấu chân Chúa Giê-su, hạ mình tới làm kẻ ăn mày. Vậy mà cha xứ người cậu kính như cha, Xi-mê-ôn người cậu cậy như anh, chẳng ai hiểu lòng cậu. Đó không phải là tử đạo thì còn là gì nữa?
Nhưng chính Lô-ren-xô, nghe lời xưng tội của cô gái, chỉ khẽ gật đầu hai ba lần. Tóc đã cháy, da đã bỏng, tay chân không cử động được, đến sức để nói dường như cũng đã cạn hẳn. Ông già và Xi-mê-ôn, lòng tan nát vì lời xưng tội của cô gái, ngồi chồm hỗm bên gối, săn sóc cậu đủ điều, nhưng hơi thở của Lô-ren-xô mỗi lúc một ngắn lại, giờ phút cuối cùng hẳn chẳng còn xa. Chỉ có đôi mắt sáng như sao đang ngước nhìn trời cao xa thẳm là vẫn như ngày thường.
Rồi cha xứ, đã lắng nghe lời xưng tội của cô gái, để chòm râu bạc bay trong gió đêm thổi lồng lộng, đứng quay lưng về cổng nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, trang nghiêm nói: Phúc cho người biết ăn năn hối cải. Sao lại để tay người đời trừng phạt kẻ có phúc ấy? Từ nay, con hãy khắc ghi lời răn của Chúa vào lòng, an tâm chờ ngày phán xét cuối cùng. Còn Lô-ren-xô, cái chí muốn noi theo Chúa Giê-su trong từng việc làm của mình, dẫu giữa các tín hữu xứ này cũng là đức hạnh hiếm có. Huống hồ lại là một thiếu niên… Ôi, chuyện gì thế này? Cha xứ nói tới đó, bỗng im bặt, như vừa trông thấy ánh sáng thiên đàng, chăm chú nhìn Lô-ren-xô dưới chân mình. Vẻ cung kính ấy là thế nào? Đôi tay run rẩy kia cũng chẳng phải chuyện thường. Ôi, trên đôi má khô héo của cha xứ, nước mắt cứ thế tuôn trào không dứt.
Hãy nhìn đi, Xi-mê-ôn. Hãy nhìn đi, ông thợ làm ô. Tắm trọn trong ánh lửa còn đỏ hơn máu Chúa Giê-su, lặng lẽ nằm trước cổng nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, cậu thiếu niên đẹp đẽ tuyệt vời ấy, qua kẽ áo cháy rách, trên ngực lộ ra đôi bầu vú trong sạch, như ngọc. Giờ đây trên gương mặt cháy bỏng kia, nét dịu dàng tự nhiên cũng không còn cách gì che giấu được nữa. Ôi, Lô-ren-xô là con gái. Lô-ren-xô là con gái. Hãy nhìn đi, hỡi các tín hữu đứng thành vòng như bức tường trước ngọn lửa dữ. Lô-ren-xô, kẻ bị đuổi khỏi nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a vì tội phạm giới dâm ô, cũng như cô con gái ông thợ làm ô, là một người con gái xứ này, đôi mắt kiều diễm.
Thật vậy, nghe kể rằng nỗi kinh hoàng thiêng liêng trong khoảnh khắc ấy, tựa như tiếng Chúa từ bầu trời xa thẳm không thấy cả ánh sao vọng xuống. Thế là các tín hữu đứng trước nhà thờ Xan-ta Lu-xi-a, như những bông lúa mạch rạp trong gió, chẳng biết ai trước ai sau, đều cúi đầu, quỳ xuống quanh Lô-ren-xô. Giữa đó, chỉ nghe tiếng ngọn lửa muôn trượng cháy rực rung chuyển bầu trời. Không, còn nghe cả tiếng ai thút thít khóc, đó là cô con gái ông thợ làm ô chăng? Hay là thầy dòng Xi-mê-ôn, người từng tự coi mình là anh? Rồi làm rung động cả không gian lặng ngắt ấy, tiếng cha xứ đọc kinh, tay giơ cao trên Lô-ren-xô, vọng vào tai mọi người, trang nghiêm mà buồn thương. Và khi tiếng kinh dứt, người con gái trẻ tuổi xứ này, người từng được gọi là Lô-ren-xô, ngước nhìn vinh quang thiên đàng nơi phía bên kia màn đêm còn tối, đôi môi còn đọng một nụ cười bình yên, lặng lẽ tắt thở…
Về cuộc đời người con gái ấy, nghe nói ngoài chừng ấy ra, chẳng ai biết thêm điều gì. Nhưng điều ấy có hề gì? Phàm cái đáng quý của đời người, rốt cuộc nằm ở một khoảnh khắc rung động mà chẳng gì đổi được. Trên bầu trời của lòng phiền não, ví như biển đêm đen tối, phải nổi lên được một con sóng, bắt được ánh trăng còn chưa mọc trong bọt nước, thì mới gọi là một kiếp sống đáng sống. Vậy thì ai biết được giờ phút cuối của Lô-ren-xô, há chẳng phải là người đã biết cả cuộc đời Lô-ren-xô đó sao?
Trong số sách tôi lưu giữ, có một cuốn do dòng Tên ở Na-ga-xa-ki ấn hành, nhan đề là Lê-gien-đa Âu-rê-a, nghĩa là Truyện Tích Vàng. Nhưng nội dung của nó không hẳn là cuốn Truyện Tích Vàng nổi tiếng của phương Tây. Sách ghi chép lời nói việc làm của các thánh tông đồ bên ấy, đồng thời chép thêm cả những sự tích tinh tấn dũng mãnh của các tín đồ đạo Chúa nước ta, hình như nhằm giúp một tay cho việc truyền bá Phúc Âm.
Sách gồm hai quyển thượng và hạ, in trên giấy mỹ nùng, chữ mềm lẫn chữ thảo, nét in mờ tới mức không rõ có phải in bằng chữ rời hay không. Trang đầu quyển thượng có tên sách viết ngang bằng chữ La-tinh, bên dưới viết dọc hai dòng chữ Hán: Khắc in thượng tuần tháng ba năm thứ một nghìn năm trăm chín mươi sáu kể từ khi Chúa giáng thế, tức năm Khánh Trường thứ hai. Hai bên niên hiệu có hình thiên thần thổi kèn. Nét vẽ khá vụng về, nhưng cũng không phải không có cái duyên đáng quý. Quyển hạ, ngoài dòng chữ khắc in trung tuần tháng năm ở trang đầu, thì hoàn toàn giống quyển thượng.
Mỗi quyển chừng sáu mươi trang, chép các truyện tích vàng, quyển thượng tám chương, quyển hạ mười chương. Ngoài ra, đầu mỗi quyển có lời tựa không rõ tác giả, và mục lục có chêm chữ La-tinh. Lời tựa văn chương không được nhã, đôi chỗ lẫn lối nói như dịch thẳng từ tiếng Tây, nhìn qua khiến người ta ngờ là do tay một vị cha cố người phương Tây viết ra.
Truyện Cái chết của người tín đồ chép ở trên là theo chương hai quyển hạ của cuốn Lê-gien-đa Âu-rê-a ấy, có lẽ là bản ghi chép trung thực một sự việc có thật xảy ra ở một nhà thờ đạo Chúa tại Na-ga-xa-ki thuở ấy. Có điều, trận hoả hoạn lớn trong truyện, tra cứu các sách từ Trường Kỳ cảng thảo trở đi, cũng không rõ có hay không, nên năm tháng xác thực của sự việc thì hoàn toàn không sao định được.
Trong truyện Cái chết của người tín đồ, vì cần cho việc công bố, tôi đã dám thêm thắt văn vẻ đôi chút. Nếu nhờ vậy mà lối văn bình dị, thanh nhã của nguyên bản không bị tổn hại nhiều lắm, thì đó là điều tôi hết sức lấy làm may mắn vậy.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn