Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cái hố câu

của Guy de Maupassant

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.247 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Đánh người gây thương tích dẫn đến chết người.…
  2. 2:38Ông quay sang bà, ngây thơ:
  3. 5:35Bà ấy đáp: 'Ông thích thì cứ làm, nhưng…
  4. 7:14'Người biết điều thì phải hỏi tập quán của…
  5. 8:36Rơ-na kêu lên: "Xin lỗi, xin lỗi, tại máu…
  6. 10:44Lão nhỏ thó lại ngồi câu tiếp. Lão câu…
  7. 12:02'Bà gọi chúng tôi là đồ ăn cắp cá…
  8. 14:16Tôi quay lại. Chẳng còn gì. Mặt nước phẳng…

Đánh người gây thương tích dẫn đến chết người. Đó là tội danh khiến ông Lê-ô-pôn Rơ-na, thợ bọc ghế, phải ra toà đại hình.

Quanh ông là các nhân chứng chính: bà Phla-mét, vợ goá của nạn nhân, ông Lu-i La-đuy-rô, thợ đóng đồ gỗ, và ông Giăng Đuya-đăng, thợ sửa ống nước.

Bên cạnh bị cáo là vợ ông, mặc đồ đen, nhỏ thó, xấu xí, trông như con khỉ cái mặc áo bà lớn.

Và đây là cách ông Rơ-na, tên Lê-ô-pôn, kể lại tấn thảm kịch:

"Lạy Chúa, đây là một tai hoạ mà từ đầu tới cuối tôi là nạn nhân đầu tiên, và ý muốn của tôi chẳng dính dáng gì vào đấy. Sự việc tự nó đã nói lên tất cả, thưa ngài chánh án. Tôi là người lương thiện, người lao động, làm nghề bọc ghế trên cùng một con phố mười sáu năm nay, được mọi người biết đến, quý mến, kính trọng, nể vì, như hàng xóm đã làm chứng, cả bà gác cổng, người chẳng phải ngày nào cũng vui vẻ, cũng làm chứng. Tôi yêu lao động, tôi yêu tiết kiệm, tôi yêu những người lương thiện và những thú vui lương thiện. Chính cái đó đã làm hại tôi, đành chịu vậy. Vì ý muốn của tôi không có trong đó, nên tôi vẫn tự trọng như thường.

Vậy là, cứ chủ nhật nào, vợ tôi đây với tôi, đã năm năm nay, cũng đi Poa-xi chơi cả ngày. Để hít thở khí trời, ấy là chưa kể chúng tôi mê câu cá, ôi, mê như mê món ăn khoái khẩu ấy. Chính Mê-li đã truyền cho tôi cái máu mê ấy, cái đồ quái ác, mà bà ấy còn mê hơn tôi nữa, cái đồ đanh đá, vì mọi tai hoạ trong vụ này đều từ bà ấy mà ra, như rồi ngài sẽ thấy.

Tôi ấy à, tôi khoẻ mà hiền, chẳng độc ác tí nào. Nhưng bà ấy! Ôi chao! Trông thì chẳng ra gì, bé tí, gầy nhom. Thế mà còn độc hơn cả con chồn. Tôi không chối là bà ấy có đức tính. Có chứ, mà là những đức tính quan trọng với người buôn bán. Nhưng cái tính khí! Ngài cứ hỏi hàng xóm láng giềng, kể cả bà gác cổng vừa làm chứng giúp tôi lúc nãy... bà ấy sẽ kể cho ngài nghe.

Ngày nào bà ấy cũng trách tôi hiền quá: 'Tôi mà là ông thì tôi chẳng để người ta làm thế này! Tôi mà là ông thì tôi chẳng để người ta làm thế kia!' Mà nghe theo bà ấy, thưa ngài chánh án, thì mỗi tháng tôi phải đấu tay đôi ít nhất ba trận..."

Bà Rơ-na ngắt lời ông: "Cứ nói nữa đi. Cười người hôm trước, hôm sau người cười."

Ông quay sang bà, ngây thơ:

"Thì tôi đổ cho bà được chứ sao, có ai xử bà đâu..."

Rồi quay lại phía chánh án:

"Vậy tôi xin kể tiếp. Vậy là chiều thứ bảy nào chúng tôi cũng đi Poa-xi để sáng sớm hôm sau ra câu. Đó là một thói quen đã thành bản tính thứ hai của chúng tôi, như người ta vẫn nói. Ba năm trước, vào mùa hè, tôi đã khám phá ra một chỗ, mà chỗ gì đâu! Ôi chao! Có bóng mát, nước sâu tám bộ là ít, có khi tới mười, một cái hố, ngài hiểu chứ, với những hốc khoét sâu dưới bờ, đúng là cái tổ cá, một thiên đường cho người đi câu. Cái hố ấy, thưa ngài chánh án, tôi có thể coi như của riêng mình, vì chính tôi là người khám phá ra nó, như ông Cô-lôm-bô khám phá ra châu Mỹ. Cả vùng ai cũng biết, ai cũng công nhận. Người ta bảo: 'Chỗ ấy là chỗ của ông Rơ-na.' Và chẳng ai dám tới đó, kể cả ông Plu-mô, người nổi tiếng, xin nói ra không có ý xúc phạm, là hay chiếm chỗ của người khác.

Vậy là, chắc chắn về chỗ của mình, tôi tới đó như một ông chủ. Thứ bảy vừa tới nơi, tôi đã cùng vợ xuống con Đa-li-la. Đa-li-la là con thuyền nhỏ kiểu Na Uy của tôi, tôi đặt đóng ở xưởng Phuốc-ne, một thứ nhẹ mà chắc. Tôi nói là chúng tôi xuống con Đa-li-la, và đi thả mồi nhử. Về khoản thả mồi nhử, chỉ có tôi thôi, anh em ai cũng biết. Ngài sẽ hỏi tôi nhử bằng gì? Tôi không thể trả lời. Việc ấy chẳng liên quan gì tới tai nạn. Tôi không thể trả lời, đó là bí mật của tôi. Hơn hai trăm người đã hỏi tôi rồi. Người ta mời tôi bao nhiêu là ly rượu nhỏ, bao nhiêu là đĩa cá rán, cá nấu vang để tôi khai ra! Nhưng thử xem lũ cá chày có tới không. Ôi phải, người ta đã vỗ bụng tôi hòng biết được công thức của tôi... Chỉ có vợ tôi biết thôi... mà bà ấy cũng chẳng khai ra đâu, cũng như tôi!... Phải không, Mê-li?..."

Chánh án ngắt lời ông:

"Ông vào thẳng vấn đề càng sớm càng tốt."

Bị cáo nói tiếp: "Tôi vào đây, tôi vào đây. Vậy là thứ bảy ngày tám tháng bảy, đi chuyến tàu năm giờ hai mươi lăm, ngay trước bữa tối chúng tôi đã đi thả mồi nhử như mọi thứ bảy. Thời tiết hứa hẹn tốt. Tôi bảo Mê-li: 'Tuyệt, mai tuyệt đấy!' Bà ấy đáp: 'Có vẻ được.' Chúng tôi chẳng bao giờ nói với nhau nhiều hơn thế.

Rồi chúng tôi về ăn tối. Tôi vui, tôi khát. Đó là nguyên nhân của mọi chuyện, thưa ngài chánh án. Tôi bảo Mê-li: 'Này, Mê-li, trời đẹp thế này, hay tôi làm một chai Mũ Ngủ nhé.' Đó là một thứ rượu trắng nhẹ mà chúng tôi đặt tên như thế, vì uống nhiều quá thì nó làm người ta không ngủ được, đến nỗi phải thay cả cái mũ ngủ. Ngài hiểu chứ.

Bà ấy đáp: 'Ông thích thì cứ làm, nhưng rồi ông lại mệt, và mai lại chẳng dậy nổi.' Điều đó đúng, khôn ngoan, thận trọng, sáng suốt, tôi xin thú nhận. Thế nhưng tôi không biết kiềm chế, và tôi uống chai rượu ấy. Mọi chuyện bắt đầu từ đó.

Vậy là tôi không ngủ được. Trời đất ơi! Cái thứ Mũ Ngủ bằng nước nho ấy nó hành tôi tới hai giờ sáng. Rồi bụp một cái, tôi ngủ thiếp đi, mà ngủ say tới mức thiên thần ngày phán xét có gào lên cũng chẳng nghe thấy.

Tóm lại, sáu giờ vợ tôi đánh thức tôi dậy. Tôi nhảy khỏi giường, vội vàng xỏ quần, khoác áo, vã một vốc nước lên mặt, rồi chúng tôi nhảy xuống con Đa-li-la. Muộn mất rồi. Khi tôi tới cái hố của tôi thì nó đã bị chiếm! Chưa bao giờ có chuyện ấy, thưa ngài chánh án! Chưa bao giờ trong ba năm! Tôi thấy như có kẻ cướp nhà mình ngay trước mắt. Tôi kêu: 'Trời đất quỷ thần ơi!' Thế là vợ tôi bắt đầu dày vò tôi: 'Hả, cái chai Mũ Ngủ của ông! Đấy, đồ bợm rượu! Ông vừa lòng chưa, đồ ngốc to xác!'

Tôi chẳng nói gì. Đúng cả mà.

Dù sao tôi cũng cập bờ gần đó, để cố vớt vát chút gì còn lại. Mà biết đâu cái lão kia chẳng câu được gì? Rồi lão bỏ đi?

Đó là một người nhỏ thó, gầy gò, mặc đồ vải thô trắng, đội mũ rơm rộng vành. Lão cũng có vợ đi cùng, một bà béo ngồi thêu thùa sau lưng lão.

Thấy chúng tôi đặt chỗ gần đấy, bà ta lẩm bẩm:

'Trên sông này chẳng còn chỗ nào khác hay sao?'

Còn bà nhà tôi, đang giận sôi lên, đáp:

'Người biết điều thì phải hỏi tập quán của vùng trước khi chiếm những chỗ đã có người giữ.'

Vì không muốn sinh chuyện, tôi bảo bà ấy:

'Im đi, Mê-li. Mặc kệ, mặc kệ, rồi sẽ biết.'

Vậy là chúng tôi đưa con Đa-li-la vào dưới rặng liễu, lên bờ và ngồi câu, vai kề vai, Mê-li với tôi, ngay sát cạnh hai người kia.

Đến đây, thưa ngài chánh án, tôi phải kể chi tiết.

Chưa được năm phút thì phao của ông hàng xóm chìm xuống hai lần, ba lần, rồi lão kéo lên một con cá chày, to bằng cái đùi tôi, có kém hơn chút đỉnh, nhưng cũng gần bằng! Tôi ấy à, tim tôi đập thình thịch, mồ hôi rịn ra ở thái dương, còn Mê-li thì bảo tôi: 'Hả, đồ bợm rượu, ông thấy con ấy chưa!'

Đúng lúc ấy, ông Bruy, chủ hiệu tạp hoá ở Poa-xi, một tay mê câu cá bống, chèo thuyền đi qua, gọi tôi: 'Người ta chiếm mất chỗ của ông rồi à, ông Rơ-na?' Tôi đáp: 'Vâng, ông Bruy ạ, trên đời này có những người chẳng tế nhị gì, chẳng biết lề lối gì.'

Cái lão áo vải thô bên cạnh làm như không nghe thấy, cả vợ lão cũng thế, cái bà vợ béo ụ ấy, đúng là con bê!"

Chánh án ngắt lời lần thứ hai: "Coi chừng! Ông đang xúc phạm bà Phla-mét, có mặt ở đây."

Rơ-na kêu lên: "Xin lỗi, xin lỗi, tại máu nóng nó bốc lên.

Vậy là chưa được mười lăm phút, lão áo vải thô lại câu được một con cá chày nữa, rồi một con nữa gần như ngay sau đó, rồi thêm một con năm phút sau.

Tôi ấy à, nước mắt tôi rưng rưng. Rồi tôi cảm thấy bà Rơ-na đang sôi sùng sục. Bà ấy cứ châm chọc tôi mãi: 'Ôi, khổ chưa! Ông có thấy nó đang ăn cắp cá của ông không? Có thấy không? Ông sẽ chẳng câu được gì đâu, ông ấy, không được lấy một con ếch, chẳng được gì hết, gì hết. Này, chỉ nghĩ tới thôi là tay tôi đã nóng ran lên rồi.'

Tôi ấy à, tôi nhủ thầm: 'Chờ đến trưa. Rồi lão săn trộm ấy sẽ đi ăn, và mình sẽ lấy lại chỗ của mình.' Vì tôi, thưa ngài chánh án, chủ nhật nào tôi cũng ăn trưa ngay tại chỗ. Chúng tôi mang đồ ăn theo trên con Đa-li-la.

Ôi dào! Chuông điểm mười hai giờ! Lão có con gà gói trong tờ báo, cái lão bất lương ấy, và trong khi lão ăn, lão lại câu thêm một con cá chày nữa!

Mê-li với tôi cũng ăn qua loa vài miếng, chẳng đáng gì, lòng dạ đâu mà ăn.

Rồi cho xuôi bữa, tôi giở tờ báo ra. Chủ nhật nào tôi cũng đọc báo Gin Bla như thế, dưới bóng mát, bên bờ nước. Đó là ngày của Cô-lôm-bin, ngài biết đấy, Cô-lôm-bin chuyên viết bài trên báo Gin Bla. Tôi có thói quen chọc tức bà Rơ-na bằng cách giả vờ quen biết cô Cô-lôm-bin ấy. Chẳng phải thật đâu, tôi không quen cô ấy, chưa bao giờ gặp, nhưng mặc kệ, cô ấy viết hay. Mà cô ấy nói những điều chắc nịch lắm, với một người đàn bà thì thế là giỏi. Tôi thì tôi thích, chẳng mấy người được như cô ấy.

Vậy là tôi bắt đầu chọc tức vợ tôi, nhưng bà ấy nổi giận ngay, mà giận dữ dội nữa. Thế là tôi im.

Chính lúc ấy, ở bờ bên kia, hai nhân chứng của chúng ta đây, ông La-đuy-rô và ông Đuya-đăng, đi tới. Chúng tôi biết mặt nhau.

Lão nhỏ thó lại ngồi câu tiếp. Lão câu được nhiều đến nỗi tôi run cả người. Rồi vợ lão bắt đầu nói: 'Chỗ này tốt ra phết, mình sẽ tới đây mãi, Đê-di-rê nhỉ!'

Tôi ấy à, tôi thấy lạnh toát sống lưng. Còn bà Rơ-na thì cứ nhắc đi nhắc lại: 'Ông chẳng phải đàn ông, ông chẳng phải đàn ông. Trong người ông chỉ có máu gà.'

Tôi bỗng bảo bà ấy: 'Thôi, tôi đi về thì hơn, không thì tôi làm chuyện dại mất.'

Thế là bà ấy rít vào tôi, như thể dí một thanh sắt nung đỏ vào mũi tôi: 'Ông chẳng phải đàn ông. Giờ thì ông bỏ chạy, ông nộp chỗ cho người ta! Đi đi, đồ Ba-dên đầu hàng!'

Đến đây thì tôi thấy nhột. Tuy vậy tôi vẫn không nhúc nhích.

Nhưng lão kia lại giật lên một con cá vền, ôi chao, tôi chưa từng thấy con nào như thế. Chưa bao giờ!

Rồi vợ tôi lại bắt đầu nói to, như thể đang nghĩ thành tiếng. Ngài đoán được cái độc địa rồi đấy. Bà ấy bảo: 'Thế này thì phải gọi là cá ăn cắp, vì chính chúng ta đã thả mồi nhử chỗ này. Ít ra cũng phải trả lại tiền mồi chứ.'

Lúc ấy bà béo vợ lão áo vải thô đến lượt mình lên tiếng: 'Bà nói chúng tôi đấy à?'

'Tôi nói những đứa ăn cắp cá, hưởng tiền người khác bỏ ra.'

'Bà gọi chúng tôi là đồ ăn cắp cá à?'

Thế là hai bà bắt đầu cãi lý, rồi chuyển sang chửi nhau. Trời đất ơi, hai mụ ấy thuộc lắm câu, mà câu nào câu nấy ra trò. Họ gào to đến nỗi hai nhân chứng của chúng ta ở bờ bên kia cũng phải hét sang cho vui: 'Ê, bên ấy, im lặng một tí nào. Các bà làm hỏng buổi câu của chồng bây giờ.'

Sự thật là lão áo vải thô với tôi chẳng nhúc nhích gì hơn hai gốc cây. Chúng tôi cứ ngồi đó, mũi chúi xuống nước, như thể chẳng nghe thấy gì.

Trời đất ơi, thế mà chúng tôi nghe rõ mồn một: 'Đồ nói láo!' 'Đồ mất nết!' 'Đồ hạ tiện!' 'Đồ lăng loàn!' Và cứ thế, cứ thế. Dân thuỷ thủ cũng chẳng thuộc nhiều hơn.

Bỗng tôi nghe có tiếng động sau lưng. Tôi quay lại. Đó là bà kia, bà béo, đang xông vào vợ tôi bằng cây dù che nắng. Bốp! Bốp! Mê-li ăn hai cú. Nhưng Mê-li nổi điên, mà hễ nổi điên là bà ấy đánh. Bà ấy túm tóc bà béo, rồi bốp, bốp, bốp, những cái tát rơi xuống như mưa mận.

Tôi ấy à, tôi định mặc kệ cho họ đánh nhau. Đàn bà với nhau, đàn ông với nhau. Không được đánh lẫn lộn. Nhưng lão áo vải thô đứng phắt dậy như một con quỷ, định nhảy vào vợ tôi. Ồ không! Ồ không! Không có chuyện đó đâu, anh bạn. Tôi đón lão bằng đầu nắm đấm của tôi, cái con chim ấy. Huỵch, huỵch. Một cú vào mũi, một cú vào bụng. Lão giơ tay lên, giơ chân lên, rồi ngã ngửa ra, rơi tõm xuống sông, đúng vào cái hố.

Chắc chắn tôi đã vớt lão lên, thưa ngài chánh án, nếu tôi có thời gian ngay lúc ấy. Nhưng khổ nỗi, bà béo đang chiếm thế thượng phong, và bà ta đang vần Mê-li ra trò. Tôi biết lẽ ra tôi không nên đi cứu vợ trong khi lão kia đang uống nước. Nhưng tôi đâu có nghĩ lão sẽ chết đuối. Tôi nhủ thầm: 'Chà! Cho lão mát người!'

Vậy là tôi chạy tới chỗ hai bà để can. Và tôi lĩnh đủ cả đấm, cả cào, cả cắn. Trời đất ơi, hai mụ quái ác!

Tóm lại, tôi mất năm phút, có khi mười phút, mới gỡ được hai cái đỉa ấy ra.

Tôi quay lại. Chẳng còn gì. Mặt nước phẳng lặng như mặt hồ. Còn mấy người đằng kia thì hét: 'Vớt lão lên, vớt lão lên!'

Nói thì dễ, nhưng tôi có biết bơi đâu, còn lặn thì lại càng không, chắc chắn rồi!

Cuối cùng người gác đập tới, cùng hai ông cầm sào móc, mất đến mười lăm phút dài. Người ta tìm thấy lão dưới đáy hố, dưới tám bộ nước, đúng như tôi đã nói, nhưng lão ở đó thật, cái lão áo vải thô!

Sự việc là như thế, tôi xin thề. Tôi vô tội, tôi lấy danh dự mà thề."

Các nhân chứng khai cũng giống như vậy, và bị cáo được tha bổng.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1886
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Trou, in trên báo Gil Blas năm 1886, tập Le Horla, Ollendorff 1895
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →