Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một. Cái mũi trong ổ bánh mì

Cái mũi · Chương 1/3 · của Nikolai Gogol

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 15.913 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày hai mươi lăm tháng ba, ở Pê-téc-bua xảy…
  2. 2:11Khoan đã, bà Pra-xcốp-ia Ô-xi-pốp-na! Tôi sẽ lấy giẻ…
  3. 4:59Người công dân đáng kính ấy giờ đã ở…
  4. 6:05Không, anh bạn, chuyện vớ vẩn! Ta đã có…
  5. 8:01Thiếu tá Cô-va-li-ốp có thói quen ngày nào cũng…
  6. 10:14Hai phút sau, cái mũi quả nhiên đi ra.…
  7. 11:51"Làm sao nói rõ với nó được?" Cô-va-li-ốp nghĩ,…
  8. 12:56Cô-va-li-ốp hoàn toàn bối rối, chẳng biết phải làm…

Chương 1: Phần một. Cái mũi trong ổ bánh mì

Ngày hai mươi lăm tháng ba, ở Pê-téc-bua xảy ra một chuyện kỳ lạ khác thường. Ông thợ cạo I-van I-a-cốp-lê-vích, sống trên đại lộ Vô-dơ-nê-xen-xki, họ của ông đã thất lạc, ngay trên tấm biển hiệu của ông, vẽ một quý ông má đầy bọt xà phòng với dòng chữ "Có trích huyết", cũng chẳng ghi thêm gì nữa. Ông thợ cạo I-van I-a-cốp-lê-vích thức dậy khá sớm, và ngửi thấy mùi bánh mì nóng. Nhổm người dậy trên giường một chút, ông thấy vợ mình, một bà khá đáng kính, rất thích uống cà phê, đang lấy ra khỏi lò mấy ổ bánh mì vừa nướng xong.

– Hôm nay, bà Pra-xcốp-ia Ô-xi-pốp-na ạ, tôi sẽ không uống cà phê, I-van I-a-cốp-lê-vích nói. Thay vào đó, tôi thèm ăn một ổ bánh mì nóng với hành.

Thật ra I-van I-a-cốp-lê-vích muốn cả hai thứ, nhưng biết rằng đòi hai thứ một lúc thì hoàn toàn không thể, vì bà Pra-xcốp-ia Ô-xi-pốp-na rất ghét những ý thích như thế.

"Cứ để thằng ngốc ăn bánh mì," bà vợ nghĩ thầm, "càng tốt cho mình, còn thừa ra một phần cà phê." Rồi bà ném một ổ bánh mì lên bàn.

Cho đứng đắn, I-van I-a-cốp-lê-vích mặc áo đuôi tôm ra ngoài áo sơ mi, ngồi vào bàn, rắc muối, chuẩn bị hai củ hành, cầm dao, làm ra vẻ mặt quan trọng, rồi bắt đầu cắt bánh mì. Cắt đôi ổ bánh, ông nhìn vào giữa, và ngạc nhiên thấy có cái gì trăng trắng. I-van I-a-cốp-lê-vích cẩn thận lấy dao khều khều, rồi lấy ngón tay sờ thử.

"Đặc chắc!" Ông tự nói một mình. "Cái gì thế này nhỉ?"

Ông thọc ngón tay vào, lôi ra… một cái mũi!… I-van I-a-cốp-lê-vích buông thõng cả hai tay. Ông dụi mắt, sờ nắn: một cái mũi, đúng là một cái mũi! Mà hình như còn là mũi của người quen nào đó nữa. Nỗi kinh hãi hiện lên trên mặt I-van I-a-cốp-lê-vích. Nhưng nỗi kinh hãi ấy chẳng thấm vào đâu so với cơn phẫn nộ xâm chiếm vợ ông.

– Đồ súc sinh, mày cắt cái mũi này ở đâu ra? Bà giận dữ hét lên. Đồ lừa đảo! Đồ say rượu! Chính tao sẽ tố mày với cảnh sát. Đồ kẻ cướp! Tao đã nghe ba người bảo rồi đấy, rằng lúc cạo râu mày kéo mũi người ta ghê quá, chỉ còn dính tí tẹo thôi.

Nhưng I-van I-a-cốp-lê-vích hồn xiêu phách lạc. Ông nhận ra cái mũi này chẳng phải của ai khác, mà là của viên hội thẩm ngạch tám Cô-va-li-ốp, người mà ông vẫn cạo râu mỗi thứ tư và chủ nhật.

– Khoan đã, bà Pra-xcốp-ia Ô-xi-pốp-na! Tôi sẽ lấy giẻ gói nó lại, để vào một góc. Cứ để nó nằm đó một chút, rồi tôi mang đi.

– Tao chẳng thèm nghe! Tao mà để một cái mũi bị cắt nằm trong phòng tao à?… Đồ bánh mì khô cháy! Chỉ biết mài dao cạo trên dây da, chứ chẳng mấy nữa đến bổn phận của mình cũng không làm nổi, đồ lăng nhăng, đồ vô lại! Tao mà lại phải chịu trách nhiệm thay mày trước cảnh sát à?… Ôi cái đồ bẩn thỉu, đồ khúc gỗ ngu ngốc! Mang nó đi! Đi! Mang đi đâu thì mang! Đừng để tao ngửi thấy hơi nó nữa!

I-van I-a-cốp-lê-vích đứng chết lặng. Ông nghĩ, nghĩ mãi, mà chẳng biết nghĩ ra sao.

– Quỷ biết vì sao lại thế, cuối cùng ông nói, đưa tay gãi sau tai. Hôm qua mình về có say hay không, thật mình chẳng dám chắc. Nhưng xét mọi lẽ thì đây phải là chuyện không thể xảy ra được: vì bánh mì là thứ nướng chín, còn mũi thì hoàn toàn khác. Chẳng hiểu ra làm sao cả!…

I-van I-a-cốp-lê-vích im lặng. Ý nghĩ cảnh sát sẽ tìm thấy cái mũi ở nhà ông và buộc tội ông khiến ông mất hết hồn vía. Ông đã thấy thấp thoáng trước mắt cái cổ áo đỏ chói thêu chỉ bạc đẹp đẽ, thanh gươm… và ông run lẩy bẩy cả người. Cuối cùng ông lấy quần áo lót và ủng ra, mặc tất cả mớ đồ tồi tàn ấy vào người, rồi kèm theo những lời răn dạy chẳng mấy dễ nghe của bà Pra-xcốp-ia Ô-xi-pốp-na, ông lấy giẻ gói cái mũi lại, đi ra phố.

Ông muốn nhét nó vào đâu đó: vào cái cột đá dưới cổng, hoặc làm như vô tình đánh rơi rồi rẽ vào ngõ. Nhưng khốn thay, ông cứ gặp người quen, người nào cũng hỏi ngay: "Đi đâu đấy?" hay: "Sớm thế đã đi cạo râu cho ai à?" Thành ra I-van I-a-cốp-lê-vích chẳng sao chọn được lúc nào. Có lần ông đã đánh rơi hẳn nó, nhưng người lính gác từ xa đã chĩa cây kích chỉ vào, nói thêm: "Nhặt lên! Kia, anh đánh rơi cái gì kìa!" Và I-van I-a-cốp-lê-vích đành nhặt cái mũi lên giấu vào túi. Nỗi tuyệt vọng xâm chiếm ông, nhất là vì người qua lại ngoài phố mỗi lúc một đông, khi các cửa hàng, cửa hiệu bắt đầu mở cửa.

Ông quyết định đi đến cầu I-xa-ki-ép: biết đâu ném được nó xuống sông Nê-va?… Nhưng tôi có lỗi đôi chút là đến giờ chưa kể gì về I-van I-a-cốp-lê-vích, một con người về nhiều mặt rất đáng kính.

I-van I-a-cốp-lê-vích, như mọi người thợ thủ công Nga tử tế, là một tay nghiện rượu khủng khiếp. Và tuy ngày nào cũng cạo cằm cho người khác, cái cằm của chính ông thì chẳng bao giờ được cạo. Chiếc áo đuôi tôm của I-van I-a-cốp-lê-vích, ông chẳng bao giờ mặc áo choàng dài, thì loang lổ. Tức là nó màu đen, nhưng lốm đốm toàn những vết nâu vàng và xám. Cổ áo bóng nhẫy, còn thay cho ba chiếc khuy chỉ lủng lẳng mấy sợi chỉ.

I-van I-a-cốp-lê-vích là một kẻ rất trơ tráo. Khi viên hội thẩm Cô-va-li-ốp lúc cạo râu thường bảo ông: "I-van I-a-cốp-lê-vích này, tay anh lúc nào cũng hôi!" thì I-van I-a-cốp-lê-vích hỏi lại: "Sao nó lại hôi được ạ?" "Tôi không biết, anh bạn ạ, chỉ biết là nó hôi," viên hội thẩm nói. Thế là I-van I-a-cốp-lê-vích hít một nhúm thuốc lá, rồi vì câu ấy mà xoa xà phòng khắp cả má, dưới mũi, sau tai, dưới cằm ông ta, nói tóm lại là chỗ nào ông thích.

Người công dân đáng kính ấy giờ đã ở trên cầu I-xa-ki-ép. Trước hết ông nhìn quanh. Rồi ông cúi người lên lan can, làm như nhìn xuống gầm cầu xem cá có bơi nhiều không, và lặng lẽ ném cái gói giẻ có cái mũi đi. Ông thấy như cùng một lúc mười pút nặng vừa trút khỏi người mình. I-van I-a-cốp-lê-vích thậm chí còn mỉm cười.

Thay vì đi cạo cằm cho các viên chức, ông đến một quán có biển "Cơm và trà" để gọi một cốc rượu pân-sơ, thì bỗng thấy ở đầu cầu một viên cảnh sát khu phố dáng vẻ đường bệ, râu quai nón rộng, đội mũ ba sừng, đeo gươm. Ông chết điếng. Trong khi ấy, viên cảnh sát ngoắc ngón tay gọi ông, nói:

– Này, lại đây, anh bạn!

I-van I-a-cốp-lê-vích biết phép tắc, từ xa đã bỏ mũ ra, nhanh nhẹn bước đến, nói:

– Chúc quan lớn mạnh khoẻ ạ!

– Không, không, anh bạn, không phải quan lớn đâu. Nói xem anh làm gì ở đằng kia, đứng trên cầu ấy?

– Có trời chứng giám, thưa ông, tôi đi cạo râu cho khách, chỉ ngó xem dòng sông chảy có xiết không thôi ạ.

– Nói dối, nói dối! Không thoát được bằng câu ấy đâu. Trả lời đi!

– Tôi sẵn lòng cạo râu cho ngài mỗi tuần hai lần, hay thậm chí ba lần, không dám nói một lời nào, I-van I-a-cốp-lê-vích đáp.

– Không, anh bạn, chuyện vớ vẩn! Ta đã có ba ông thợ cạo cạo râu, mà họ còn coi đó là vinh dự lớn. Kể đi, anh đã làm gì ở đằng ấy?

I-van I-a-cốp-lê-vích tái mặt… Nhưng đến đây sự việc hoàn toàn bị sương mù che phủ, và chuyện gì xảy ra sau đó thì tuyệt nhiên không ai biết.

Viên hội thẩm ngạch tám Cô-va-li-ốp thức dậy khá sớm, chép môi một cái "brừ…", điều ông vẫn làm mỗi khi thức dậy, dù chính ông cũng chẳng giải thích được vì sao. Cô-va-li-ốp vươn vai, bảo người đưa cho mình chiếc gương nhỏ đặt trên bàn. Ông muốn ngắm cái mụn mới mọc trên mũi tối hôm qua. Nhưng ông sửng sốt tột độ khi thấy chỗ cái mũi chỉ còn một khoảng phẳng lì! Hoảng hốt, Cô-va-li-ốp bảo mang nước lại, lấy khăn lau mắt: đúng thật, không có mũi! Ông bắt đầu lấy tay sờ, xem mình có đang ngủ không. Hình như không ngủ. Viên hội thẩm Cô-va-li-ốp nhảy khỏi giường, lắc mình: không có mũi!… Ông bảo mang quần áo đến ngay, rồi phóng thẳng đến ông cảnh sát trưởng thành phố.

Nhưng trong lúc ấy cũng cần nói đôi điều về Cô-va-li-ốp, để bạn đọc thấy viên hội thẩm này thuộc hạng người nào. Những viên hội thẩm có được hàm ấy nhờ bằng cấp học vấn thì không thể so với những viên hội thẩm được phong hàm ở vùng Cáp-ca-dơ. Đó là hai giống hoàn toàn khác nhau. Những viên hội thẩm có học… Nhưng nước Nga là một xứ sở kỳ lạ, hễ nói về một viên hội thẩm ngạch tám, thì mọi viên hội thẩm ngạch tám từ Ri-ga đến Cam-sát-ca đều nhất định nhận là nói mình. Mọi chức tước phẩm hàm khác cũng phải hiểu như thế.

Cô-va-li-ốp là viên hội thẩm phong ở Cáp-ca-dơ. Ông mới giữ hàm ấy được hai năm, nên không lúc nào quên được nó. Và để tăng thêm vẻ sang trọng, oai vệ, ông chẳng bao giờ tự xưng là hội thẩm, mà luôn xưng là thiếu tá.

– Này cô em, ông thường nói khi gặp ngoài phố một bà bán cổ áo giả, cứ đến nhà tôi. Nhà tôi ở phố Xa-đô-vai-a. Chỉ cần hỏi: thiếu tá Cô-va-li-ốp có ở đây không? Ai cũng chỉ cho.

Còn nếu gặp cô nào xinh xinh, thì ông còn dặn riêng thêm:

– Em yêu, em cứ hỏi nhà thiếu tá Cô-va-li-ốp nhé.

Chính vì thế mà từ nay về sau chúng tôi cũng sẽ gọi viên hội thẩm này là thiếu tá.

Thiếu tá Cô-va-li-ốp có thói quen ngày nào cũng đi dạo trên đại lộ Nép-xki. Cổ áo giả của ông bao giờ cũng cực kỳ sạch sẽ, hồ cứng. Bộ râu quai nón của ông thuộc loại mà đến giờ vẫn còn thấy ở các ông đạc điền tỉnh và huyện, các kiến trúc sư, các bác sĩ trung đoàn, những người làm đủ thứ việc cảnh sát, và nói chung mọi ông chồng má đầy đặn hồng hào, đánh bài bô-xtông rất giỏi: râu ấy chạy ngay giữa má, rồi thẳng một mạch lên tới mũi.

Thiếu tá Cô-va-li-ốp đeo vô số con dấu bằng đá mã não, có cái khắc huy hiệu, có cái khắc chữ thứ tư, thứ năm, thứ hai, vân vân. Thiếu tá Cô-va-li-ốp lên Pê-téc-bua có việc, cụ thể là để tìm một chỗ làm xứng với phẩm hàm của mình: nếu được thì chức phó tỉnh trưởng, không thì chức quản lý ở một bộ nào đó có tiếng. Thiếu tá Cô-va-li-ốp cũng chẳng phản đối chuyện lấy vợ, nhưng chỉ khi cô dâu có kèm theo hai trăm nghìn tiền vốn. Vậy nên giờ bạn đọc có thể tự phán xét tình cảnh của viên thiếu tá này ra sao, khi thay cho cái mũi khá xinh xắn, vừa phải của mình, ông thấy một khoảng phẳng lì, nhẵn nhụi, ngớ ngẩn hết mức.

Khốn thay, ngoài phố chẳng có lấy một chiếc xe ngựa thuê, ông đành phải đi bộ, quấn mình trong chiếc áo choàng, lấy khăn tay che mặt, làm như đang chảy máu mũi.

"Nhưng biết đâu chỉ là mình tưởng tượng ra thế. Mũi đâu có thể mất đi một cách vớ vẩn như thế được," ông nghĩ, rồi rẽ vào một hiệu bánh kẹo, cốt để soi gương. May thay, trong hiệu chẳng có ai. Mấy cậu bé đang quét nhà, xếp ghế. Vài cậu mắt còn ngái ngủ bưng ra những khay bánh nóng. Trên bàn ghế vương vãi những tờ báo hôm qua dính đầy cà phê.

– Tạ ơn Chúa, chẳng có ai, ông nói, giờ thì nhìn được rồi.

Ông rụt rè đến gần tấm gương, nhìn vào.

– Quỷ biết là cái gì, đồ bỏ đi! Ông nhổ toẹt một cái, nói. Giá mà có cái gì đó thay cho cái mũi, đằng này chẳng có gì cả!…

Bực bội cắn môi, ông ra khỏi hiệu bánh, quyết định trái với thói quen, không nhìn ai, không cười với ai nữa. Bỗng ông đứng sững như trời trồng trước cửa một ngôi nhà. Trước mắt ông diễn ra một hiện tượng không sao giải thích nổi: một cỗ xe dừng trước lối vào, cửa xe mở, một quý ông mặc quân phục khom người nhảy xuống, chạy lên cầu thang.

Cô-va-li-ốp vừa kinh hoàng vừa sửng sốt biết bao khi nhận ra đó chính là cái mũi của mình! Trước cảnh tượng khác thường ấy, ông thấy như mọi thứ trước mắt đảo lộn cả. Ông cảm thấy mình gần như không đứng vững. Nhưng ông quyết định bằng mọi giá phải chờ nó quay lại xe, người run lên như lên cơn sốt.

Hai phút sau, cái mũi quả nhiên đi ra. Nó mặc quân phục thêu chỉ vàng, cổ đứng to. Nó mặc quần da hoẵng, bên hông đeo gươm. Nhìn chiếc mũ cắm lông chim, có thể đoán nó mang hàm cố vấn nhà nước. Xem mọi vẻ thì thấy nó đang đi thăm viếng đâu đó. Nó nhìn sang hai bên, hét với người đánh xe: "Đánh xe lại!" rồi ngồi lên xe đi mất.

Cô-va-li-ốp tội nghiệp suýt phát điên. Ông chẳng biết phải nghĩ sao về một chuyện kỳ lạ như thế. Mà thật thế, làm sao có thể có chuyện cái mũi, mới hôm qua còn nằm trên mặt ông, không đi được, không xe ngựa được, mà giờ lại mặc quân phục! Ông chạy theo cỗ xe. May thay nó đi chẳng xa, dừng lại trước nhà thờ lớn Ca-dan.

Ông vội vào nhà thờ, len qua hàng bà già ăn mày mặt quấn kín chỉ chừa hai lỗ cho mắt, những người mà trước kia ông vẫn hay cười, rồi bước vào trong. Bên trong người cầu nguyện chẳng có mấy, tất cả chỉ đứng ở chỗ cửa vào. Cô-va-li-ốp thấy mình rối bời đến nỗi không sao cầu nguyện nổi, cứ đưa mắt tìm quý ông kia khắp các góc. Cuối cùng ông thấy nó đứng ở một bên. Cái mũi đã giấu hẳn mặt vào chiếc cổ áo đứng to, đang cầu nguyện với vẻ hết sức sùng kính.

"Làm sao lại gần nó được nhỉ?" Cô-va-li-ốp nghĩ. "Nhìn mọi thứ, nhìn quân phục, nhìn mũ, thì thấy nó là cố vấn nhà nước. Quỷ biết phải làm thế nào!"

Ông bắt đầu đứng cạnh nó mà ho khe khẽ. Nhưng cái mũi không rời tư thế sùng kính lấy một phút, cứ cúi lạy mãi.

– Thưa ngài… Cô-va-li-ốp nói, trong lòng cố ép mình mạnh dạn lên. Thưa ngài…

– Ông cần gì? Cái mũi quay lại đáp.

– Tôi thấy lạ, thưa ngài… Tôi nghĩ là… ngài phải biết chỗ của mình chứ. Thế mà bỗng tôi lại gặp ngài, mà gặp ở đâu kia chứ? Ở nhà thờ. Ngài cũng phải đồng ý là…

– Xin lỗi ông, tôi không sao hiểu ông muốn nói gì… Ông nói rõ đi.

"Làm sao nói rõ với nó được?" Cô-va-li-ốp nghĩ, rồi lấy hết can đảm bắt đầu:

– Tất nhiên tôi… Mà nói cho cùng, tôi là thiếu tá. Tôi mà đi đứng không có mũi thì, ngài phải đồng ý, như thế là không đứng đắn. Một bà bán cam bóc vỏ trên cầu Phục Sinh thì có thể ngồi không có mũi. Nhưng tôi đang trông được… lại quen biết các bà ở nhiều nhà: bà cố vấn nhà nước Chếch-ta-rê-va, và nhiều bà khác… Ngài cứ xét mà xem… Tôi chẳng biết nữa, thưa ngài.

Đến đây thiếu tá Cô-va-li-ốp nhún vai.

– Xin lỗi… nếu xét chuyện này theo đúng phép tắc của bổn phận và danh dự… thì chính ngài cũng có thể hiểu…

– Tôi tuyệt nhiên không hiểu gì cả, cái mũi đáp. Ông giải thích cho thoả đáng hơn đi.

– Thưa ngài… Cô-va-li-ốp nói, đầy ý thức về phẩm giá của mình. Tôi không biết phải hiểu lời ngài thế nào… Ở đây mọi chuyện có vẻ hoàn toàn rõ ràng… Hay là ngài muốn… Ngài chính là cái mũi của tôi đấy!

Cái mũi nhìn viên thiếu tá, hàng lông mày hơi cau lại.

– Ông nhầm rồi, thưa ông. Tôi là tôi. Vả lại giữa chúng ta không thể có quan hệ thân thiết gì. Xét theo hàng khuy trên bộ đồng phục của ông, thì ông hẳn làm ở một ngành khác.

Nói xong, cái mũi quay đi, tiếp tục cầu nguyện.

Cô-va-li-ốp hoàn toàn bối rối, chẳng biết phải làm gì, thậm chí chẳng biết phải nghĩ gì. Đúng lúc ấy có tiếng sột soạt dễ chịu của áo đàn bà. Một bà đứng tuổi trang điểm toàn đăng-ten đi tới, cùng một cô gái mảnh mai mặc áo trắng tôn dáng người thon thả rất dễ thương, đội chiếc mũ màu rơm nhẹ như bánh ngọt. Sau họ, một gã hầu cao lớn có râu quai nón to và cả tá cổ áo dừng lại, mở hộp thuốc lá hít.

Cô-va-li-ốp tiến lại gần hơn, kéo cổ áo giả bằng vải lanh mịn ra, sửa lại mấy con dấu đeo trên sợi xích vàng, rồi vừa mỉm cười tứ phía vừa chú ý đến cô gái mảnh mai. Cô như một bông hoa mùa xuân, khẽ nghiêng người, đưa bàn tay trắng muốt với những ngón tay gần như trong suốt lên trán. Nụ cười trên mặt Cô-va-li-ốp càng toét rộng khi ông thấy dưới vành mũ chiếc cằm tròn trắng ngần và một phần má phớt màu hoa hồng đầu xuân.

Nhưng bỗng ông nhảy lùi lại như bị bỏng. Ông nhớ ra rằng chỗ cái mũi của mình hoàn toàn chẳng có gì, và nước mắt ông ứa ra. Ông quay lại, định nói thẳng với quý ông mặc quân phục rằng hắn chỉ giả làm cố vấn nhà nước, hắn là đồ đểu, đồ vô lại, và hắn chẳng là gì khác ngoài cái mũi của chính ông… Nhưng cái mũi đã không còn đó. Nó đã kịp phóng đi, có lẽ lại đến thăm ai đó.

Điều đó khiến Cô-va-li-ốp tuyệt vọng. Ông quay ra, dừng lại một phút dưới hàng cột, chăm chú nhìn khắp bốn phía xem có thấy cái mũi đâu không. Ông nhớ rất rõ nó đội mũ có lông chim và mặc quân phục thêu chỉ vàng. Nhưng áo khoác của nó thì ông không để ý, cả màu cỗ xe, cả ngựa, thậm chí cả chuyện phía sau xe có người hầu không, mặc chế phục gì. Vả lại xe cộ chạy tới chạy lui nhiều quá, nhanh quá, khó mà để ý được. Mà giả sử có để ý được chiếc nào, ông cũng chẳng có cách gì chặn nó lại.

Hôm ấy trời đẹp, nắng chan hoà. Trên đại lộ Nép-xki người đông nghịt. Cả một thác hoa các bà các cô tràn khắp vỉa hè, từ cầu Cảnh Sát đến cầu A-nhít-skin. Kia là một ông cố vấn triều đình quen biết, người mà ông vẫn gọi là trung tá, nhất là khi có người ngoài. Kia là I-a-rư-ghin, trưởng phòng ở Viện Nguyên lão, bạn thân, người lần nào đánh bô-xtông gọi tám cũng thua. Kia lại một ông thiếu tá khác, cũng được phong hàm hội thẩm ở Cáp-ca-dơ, đang vẫy tay gọi ông lại…

– Ôi, quỷ tha ma bắt! Cô-va-li-ốp nói. Này xà ích, chở thẳng đến ông cảnh sát trưởng thành phố!

— Hết chương 1 —

Mục lục Cái mũi

  1. 1Phần một. Cái mũi trong ổ bánh mì15 phút
  2. 2Phần hai. Đăng báo tìm mũiĐang thu âm
  3. 3Phần ba. Cái mũi trở vềĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảNikolai Gogol (1809 – 1852)
Năm mất1852
Xuất bản lần đầu1836
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Нос, 1836
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →