Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ông cha xứ biết chèo thuyền

Cánh đồng ô liu · Chương 1/4 · của Guy de Maupassant

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 11.636 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Khi những người đàn ông ở bến, bến cảng…
  2. 1:26Năm người đánh cá đã lại gần con thuyền,…
  3. 2:42Dưới chân cha Vin-boa, một đám bụi mịn, thứ…
  4. 4:53Nhưng rồi, sau vài lần gặp gỡ ở nhà…
  5. 6:48Đừng giết em. Nó không phải con anh, nó…
  6. 7:12Phải.
  7. 7:57Cô vâng lời, thất bại, và bỏ đi.
  8. 9:47Thế là ông trở lại với những dự định…

Chương 1: Ông cha xứ biết chèo thuyền

Khi những người đàn ông ở bến, bến cảng nhỏ Ga-răng-đu xứ Prô-văng-xơ, nằm sâu trong vịnh Pi-xca, giữa Mác-xây và Tu-lông, trông thấy con thuyền của cha Vin-boa đánh cá trở về, họ xuống bãi để giúp kéo thuyền lên.

Cha xứ ngồi một mình trong thuyền, chèo như một thuỷ thủ thực thụ, sức lực hiếm có dù đã năm mươi tám tuổi. Tay áo xắn lên trên những cánh tay vạm vỡ, vạt áo chùng vén lên kẹp giữa hai đầu gối, hơi cởi khuy trước ngực, chiếc mũ ba góc đặt trên băng ghế bên cạnh, đầu đội chiếc mũ chuông bằng bần bọc vải trắng, trông ông như một tu sĩ kỳ lạ và rắn rỏi của xứ nóng, sinh ra để phiêu lưu hơn là để dâng lễ.

Thỉnh thoảng ông ngoái lại để nhận cho đúng chỗ cập bến, rồi lại chèo tiếp, đều đặn, có phương pháp và mạnh mẽ, để một lần nữa cho đám thuỷ thủ tồi của miền Nam thấy dân miền Bắc chèo thuyền thế nào.

Con thuyền lao tới chạm cát, trượt lên như sắp leo lên khắp bãi, sống thuyền cày sâu vào cát. Rồi nó dừng phắt lại, và năm người đàn ông đang đứng nhìn ông cha xứ về liền lại gần, niềm nở, vui vẻ, đầy thiện cảm với vị linh mục.

- Thế nào, một người hỏi với giọng Prô-văng-xơ nặng trịch, hôm nay được mẻ lớn chứ, thưa cha?

Cha Vin-boa thu mái chèo vào, bỏ chiếc mũ chuông ra mà đội mũ ba góc lên, kéo tay áo xuống, cài lại khuy áo chùng. Rồi khi đã lấy lại dáng vẻ và phong thái của ông cha xứ làng, ông tự hào đáp:

- Được, được, mẻ lớn lắm, ba con cá vược, hai con cá chình biển và mấy con cá bàng chài.

Năm người đánh cá đã lại gần con thuyền, cúi người qua mạn mà xem xét, với vẻ sành sỏi, những con cá đã chết: những con cá vược béo múp, những con cá chình đầu bẹt, giống rắn biển gớm ghiếc, và những con cá bàng chài tím có những sọc vàng ngoằn ngoèo màu vỏ cam.

Một người nói:

- Để con mang về căn nhà vườn cho cha.

- Cảm ơn con.

Bắt tay mọi người xong, ông linh mục lên đường, một người đàn ông đi theo, những người khác ở lại lo cất thuyền cho ông.

Ông bước những bước dài và chậm, dáng mạnh mẽ và đường bệ. Vì người vẫn còn nóng sau khi chèo hăng như thế, thỉnh thoảng đi qua bóng râm thưa của những cây ô liu, ông lại bỏ mũ ra để làn gió chiều, vẫn ấm áp nhưng đã dịu đi đôi chút nhờ một làn gió nhẹ ngoài khơi, thổi lên vầng trán vuông phủ tóc bạc dựng đứng và cắt ngắn của ông, vầng trán của một sĩ quan hơn là của một linh mục. Ngôi làng hiện ra trên một mô đất, giữa một thung lũng rộng thoai thoải xuống đồng bằng về phía biển.

Đó là một buổi chiều tháng Bảy. Mặt trời chói chang, sắp chạm tới đỉnh răng cưa của những ngọn đồi xa xa, kéo dài chéo trên con đường trắng, con đường phủ một tấm khăn liệm bằng bụi, cái bóng dài vô tận của ông linh mục. Cái mũ ba góc to quá khổ in xuống cánh đồng bên cạnh một vệt tối rộng như đang đùa nghịch, leo thoăn thoắt lên mọi thân cây ô liu nó gặp, rồi lại rơi ngay xuống đất, bò giữa những gốc cây.

Dưới chân cha Vin-boa, một đám bụi mịn, thứ bột không sờ thấy được phủ trên những con đường Prô-văng-xơ vào mùa hè, bốc lên, như khói quanh tà áo chùng, phủ lên và nhuộm vạt dưới của nó một màu xám mỗi lúc một nhạt. Ông bước đi, giờ đã mát mẻ, tay đút túi, với dáng đi chậm rãi và mạnh mẽ của một người miền núi đang leo dốc. Đôi mắt điềm tĩnh của ông nhìn ngôi làng, ngôi làng của ông, nơi ông làm cha xứ đã hai mươi năm, ngôi làng do chính ông chọn, xin mãi mới được, nơi ông định sẽ chết. Nhà thờ, nhà thờ của ông, ngự trên đỉnh cái khối hình nón rộng gồm những ngôi nhà chen chúc quanh nó, với hai ngọn tháp bằng đá nâu, vuông vức và không đều nhau, dựng lên trong thung lũng miền Nam tươi đẹp ấy những bóng dáng cổ kính giống những tháp canh của một pháo đài hơn là tháp chuông của một nơi thờ phụng.

Ông cha xứ hài lòng, vì ông đã bắt được ba con cá vược, hai con cá chình biển và mấy con cá bàng chài.

Ông sẽ có thêm một chiến thắng nho nhỏ trước con chiên của mình. Người ta kính trọng ông nhất là vì có lẽ, dù đã có tuổi, ông vẫn là người cơ bắp rắn chắc nhất vùng. Những thói tự đắc nho nhỏ vô hại ấy là thú vui lớn nhất của ông. Ông bắn súng lục giỏi đến mức cắt đứt được cuống hoa, thỉnh thoảng đấu kiếm với ông bán thuốc lá láng giềng, một cựu huấn luyện viên kiếm thuật của trung đoàn, và ông bơi giỏi hơn ai hết trên cả dải bờ biển.

Vả lại ông vốn là một người thượng lưu, ngày trước rất nổi tiếng, rất thanh lịch, nam tước đờ Vin-boa, người đã đi tu năm ba mươi hai tuổi sau một nỗi đau tình.

Xuất thân từ một dòng họ lâu đời ở Pi-các-đi, bảo hoàng và mộ đạo, nhiều thế kỷ nay vẫn cho con trai đi lính, làm quan toà hay làm tu sĩ, thoạt đầu ông định vào dòng tu theo lời khuyên của mẹ. Rồi theo lời nài nỉ của cha, ông quyết định chỉ lên Pa-ri học luật, rồi sau đó tìm một chức vụ quan trọng nào đó ở toà án.

Nhưng trong khi ông đang học nốt, cha ông mất vì sưng phổi sau những chuyến đi săn ở đầm lầy, và mẹ ông, đau buồn quá, cũng mất ít lâu sau. Vậy là bỗng nhiên được thừa kế một gia tài lớn, ông từ bỏ mọi dự định về sự nghiệp để chỉ sống như một người giàu có.

Một chàng trai đẹp, thông minh dù đầu óc bị bó hẹp bởi những niềm tin, những truyền thống, những nguyên tắc cha truyền con nối như chính cơ bắp của một nhà quý tộc nhà quê xứ Pi-các-đi, ông được ưa chuộng, thành công trong giới nghiêm trang, và hưởng thụ cuộc đời như một người đàn ông trẻ, nghiêm cẩn, giàu có và được kính trọng.

Nhưng rồi, sau vài lần gặp gỡ ở nhà một người bạn, ông đem lòng yêu một nữ diễn viên trẻ, một cô học trò còn rất trẻ của Nhạc viện vừa ra mắt rực rỡ ở nhà hát Ô-đê-ông.

Ông yêu cô với tất cả sự mãnh liệt, tất cả sự bồng bột của một người sinh ra để tin vào những ý niệm tuyệt đối. Ông yêu cô khi nhìn cô qua cái vai diễn lãng mạn đã mang lại cho cô một thành công lớn ngay hôm đầu tiên cô ra mắt công chúng.

Cô xinh đẹp, hư hỏng bẩm sinh, với cái vẻ ngây thơ như trẻ nhỏ mà ông gọi là vẻ thiên thần của cô. Cô biết cách chinh phục ông hoàn toàn, biến ông thành một trong những kẻ cuồng si mê sảng, những kẻ điên trong cơn ngây ngất mà một ánh mắt hay một tà váy đàn bà thiêu đốt trên giàn hoả của những Đam mê chết người. Thế là ông nhận cô làm nhân tình, bắt cô bỏ sân khấu, và yêu cô suốt bốn năm với một nhiệt tình mỗi lúc một tăng. Hẳn nhiên, bất chấp dòng họ và những truyền thống danh dự của gia đình, rốt cuộc ông sẽ cưới cô, nếu một ngày kia ông không phát hiện ra rằng cô đã lừa dối ông từ lâu với chính người bạn đã giới thiệu cô với ông.

Tấn bi kịch càng khủng khiếp hơn vì cô đang có mang, và ông đang chờ đứa bé ra đời để quyết định chuyện cưới xin.

Khi đã cầm trong tay bằng chứng, những bức thư bắt gặp trong một ngăn kéo, ông trách cô bội bạc, phản trắc, đê tiện, với tất cả sự thô bạo của con người nửa man rợ trong ông.

Nhưng cô, đứa con của vỉa hè Pa-ri, trơ trẽn cũng như lẳng lơ, tin chắc vào người đàn ông kia cũng như vào người đàn ông này, lại táo tợn như những cô gái bình dân leo lên chiến luỹ chỉ vì muốn tỏ ra gan dạ, đã thách thức và lăng nhục ông. Và khi ông giơ tay lên, cô chỉ vào bụng mình.

Ông dừng lại, tái mặt, nghĩ rằng một kẻ nối dõi của ông đang ở đó, trong cái xác thịt nhơ nhuốc ấy, trong cái thân thể đê tiện ấy, trong cái sinh vật bẩn thỉu ấy, một đứa con của ông! Thế là ông lao vào cô để nghiền nát cả hai, xoá sạch cái nhục kép ấy. Cô sợ hãi, cảm thấy mình đã tiêu, và khi cô lăn lộn dưới nắm đấm của ông, khi cô thấy bàn chân ông sắp giậm xuống cái bụng phồng đang chứa một bào thai người, cô hét lên, giơ tay ra để chặn những cú đánh:

- Đừng giết em. Nó không phải con anh, nó là con người kia.

Ông nhảy lùi lại, sững sờ, choáng váng đến nỗi cơn giận của ông treo lửng lơ như chính gót chân ông, và ông lắp bắp:

- Mày... mày nói gì?

Cô, bỗng phát điên vì sợ trước cái chết thoáng thấy trong đôi mắt và cử chỉ khủng khiếp của người đàn ông ấy, nhắc lại:

- Nó không phải con anh, nó là con người kia.

Ông thì thầm, nghiến răng, rã rời:

- Đứa bé à?

- Phải.

- Mày nói dối.

Và một lần nữa, ông lại bắt đầu cái cử chỉ của bàn chân sắp nghiền nát một ai đó, trong khi cô nhân tình, đã nhổm dậy quỳ gối, cố lùi lại, vẫn lắp bắp:

- Em đã bảo anh nó là con người kia mà. Nếu là con anh, thì chẳng phải em đã có nó từ lâu rồi sao?

Lý lẽ ấy đánh vào ông như chính sự thật. Trong một trong những tia chớp của ý nghĩ, khi mọi lập luận hiện ra cùng một lúc với một sự sáng tỏ rực rỡ, chính xác, không thể bác bỏ, dứt khoát, không cưỡng nổi, ông tin chắc, ông biết chắc rằng mình không phải là cha của đứa con khốn khổ của ả đàn bà ti tiện mà cô đang mang. Và nhẹ nhõm, được giải thoát, bỗng gần như yên lòng, ông từ bỏ ý định huỷ diệt cái sinh vật đê tiện ấy.

Thế là ông nói với cô bằng một giọng bình tĩnh hơn:

- Đứng dậy, cút đi, và đừng bao giờ để tao thấy mặt mày nữa.

Cô vâng lời, thất bại, và bỏ đi.

Ông không bao giờ gặp lại cô nữa.

Về phần mình, ông cũng ra đi. Ông xuống phía Nam, về phía mặt trời, và dừng lại ở một ngôi làng đứng giữa một thung lũng nhỏ, bên bờ Địa Trung Hải. Ông thích một quán trọ nhìn ra biển, thuê một phòng và ở lại đó. Ông ở mười tám tháng, trong buồn đau, trong tuyệt vọng, trong cô độc hoàn toàn. Ông sống với kỷ niệm thiêu đốt về người đàn bà phản bội, về sức quyến rũ của cô, về cái cách cô quấn lấy ông, cái bùa mê không thể thú nhận của cô, và với nỗi tiếc nuối sự có mặt và những vuốt ve của cô.

Ông lang thang khắp những thung lũng Prô-văng-xơ, dạo dưới ánh nắng lọt qua những tán lá ô liu xám bạc, mang theo cái đầu bệnh hoạn tội nghiệp, nơi một nỗi ám ảnh đang trú ngụ.

Nhưng những ý nghĩ mộ đạo xưa kia, lòng nhiệt thành đã nguội đi đôi chút của đức tin ban đầu, nhẹ nhàng trở về trong lòng ông giữa cảnh cô độc đau đớn ấy. Tôn giáo, ngày xưa ông thấy như một chốn nương náu khỏi cuộc đời chưa biết, giờ đây hiện ra với ông như một chốn nương náu khỏi cuộc đời dối trá và giày vò. Ông vẫn giữ thói quen cầu nguyện. Trong nỗi đau, ông bám lấy nó, và lúc chạng vạng ông thường đến quỳ trong ngôi nhà thờ tối dần, nơi chỉ có một đốm lửa sáng tận cuối gian cung thánh, ngọn đèn canh thiêng liêng của thánh đường, biểu tượng của sự hiện diện thần thánh.

Ông giãi bày nỗi khổ với Chúa, với Chúa của ông, và kể với Ngài mọi nỗi khốn cùng của mình. Ông xin Ngài lời khuyên, lòng thương xót, sự cứu giúp, sự che chở, sự an ủi, và trong lời cầu nguyện lặp lại mỗi ngày một sốt sắng hơn, mỗi lần ông lại đặt vào đó một xúc cảm mạnh mẽ hơn.

Trái tim bầm dập của ông, bị tình yêu một người đàn bà gặm nhấm, vẫn mở ra và rung động, luôn khao khát yêu thương. Và dần dần, nhờ cầu nguyện mãi, nhờ sống như một ẩn sĩ với những thói quen mộ đạo ngày càng tăng, nhờ phó mình cho sự giao cảm thầm kín của những tâm hồn sùng đạo với Đấng Cứu Thế, Đấng an ủi và vẫy gọi những kẻ khốn khổ, tình yêu huyền nhiệm với Chúa đã đi vào ông và chiến thắng tình yêu kia.

Thế là ông trở lại với những dự định ban đầu, và quyết định dâng cho Nhà thờ một cuộc đời đã tan vỡ, mà suýt nữa ông đã dâng nó khi còn trong trắng.

Vậy là ông đi tu. Nhờ gia đình, nhờ quan hệ, ông được bổ làm cha xứ của chính ngôi làng Prô-văng-xơ nơi tình cờ đã đưa ông đến. Đã dành một phần lớn gia tài cho các công việc từ thiện, chỉ giữ lại đủ để có thể đến chết vẫn giúp ích và cứu trợ được người nghèo, ông nương náu trong cuộc sống êm đềm của những việc đạo đức và của lòng tận tuỵ với đồng loại.

Ông là một linh mục tầm nhìn hẹp, nhưng tốt bụng, một thứ người dẫn đường tôn giáo với tính khí nhà binh, một người dẫn đường của Nhà thờ dùng sức mà đưa nhân loại lầm lạc, mù quáng, lạc lối trong khu rừng cuộc đời này, nơi mọi bản năng, mọi sở thích, mọi ham muốn của chúng ta đều là những lối mòn dẫn đi lạc, trở về con đường ngay. Nhưng nhiều phần của con người ngày xưa vẫn còn sống trong ông. Ông không thôi yêu những môn luyện tập mạnh mẽ, những môn thể thao cao quý, những vũ khí. Và ông ghét đàn bà, ghét tất cả, với một nỗi sợ như của trẻ con trước một mối nguy bí ẩn.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cánh đồng ô liu

  1. 1Ông cha xứ biết chèo thuyền10 phút
  2. 2Gã lang thangĐang thu âm
  3. 3Bữa tối trong căn nhà hồngĐang thu âm
  4. 4Tiếng cồng trong đêmĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1890
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Champ d'oliviers, in trên báo Le Figaro năm 1890, tập L'Inutile Beauté, theo bản Conard 1908
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →