Chương 1: Đêm hội đèn trước cửa Tuyên Đức
Đời Tống, khoảng năm Thiệu Hưng, có nhà thơ Khang Bá Khả làm một bài từ tả cảnh rằm tháng giêng: khói lành bay trên vườn cấm, cửa son đón xuân về, trăng tròn ánh quế đầy trời, phố hoa chợ hát ngập tiếng ca, đèn bạc như sao rực rỡ, trong đám lụa là hương xạ, đêm ấm gió êm, tiếng cười rộn rã, mừng thấy lại cảnh thái bình ngày cũ của kinh đô. Vua Cao Tông rất khen, ban nhiều vàng lụa. Vì sao bài từ lại nói thấy lại cảnh thái bình ngày cũ? Ấy là vì sau loạn Tĩnh Khang, hai vua Huy Tông, Khâm Tông bị bắt, Trung Nguyên rơi cả vào tay người Kim, may Khang vương chạy sang nam lên ngôi, yên phận một góc, còn muốn bắt chước cảnh thời thịnh, nên nhà thơ ca vịnh như thế, cũng là tự an ủi mình mà thôi.
Đời Tống rất chuộng tết Nguyên tiêu, tức rằm tháng giêng, đèn đuốc giăng khắp nơi, vua thân ra xem, vua tôi cùng vui. Cho nên có câu: quan canh đêm không cấm, đồng hồ ngọc chớ giục. Nhưng vì cả thành trai gái thâu đêm đi chơi, chẳng kiêng kỵ gì, nên trong đó có kẻ hẹn hò lén lút, có kẻ trộm cắp móc túi, sinh ra bao nhiêu chuyện. Đủ thấy đêm rằm tháng giêng, những kẻ nhân lúc đông vui làm việc bất chính kể không xiết. Nay kẻ kể chuyện xin kể một chuyện đêm Nguyên tiêu, làm náo động phủ công hầu, làm nở mặt rồng nhà vua, khiến bọn gian xảo chui xuống đất, cho đứa trẻ con được gặp mặt trời.
Đời Tống Thần Tông có một đại thần là Tương Mẫn công họ Vương tên Thiều, cả nhà ở kinh đô. Thật là phủ tướng đường đường, giàu sang xa hoa, khỏi phải nói. Năm ấy đến tết Nguyên tiêu rằm tháng giêng. Bấy giờ Vương An Thạch chưa được dùng, phép mới chưa thi hành, bốn cõi không giặc, muôn dân vui làm ăn, đúng là thời thái bình. Nhà nhà thắp đèn hoa, từ ngày mười ba trở đi, khắp phố khắp chợ reo hò đến sáng. Đêm rằm là đêm chính, theo lệ năm nào nhà vua cũng thân ra ngắm suốt đêm, cả thành trai gái chỉ chờ được nhìn mặt rồng một lần. Lại thêm đêm ấy hiếm có một vầng trăng sáng giữa trời, soi sáng như ban ngày, ánh lên các thứ đèn hoa khéo léo, xưa nay gọi là đèn trăng soi nhau, cảnh đẹp vô cùng.
Gia quyến Tương Mẫn công, từ phu nhân trở xuống, già trẻ chẳng ai không trang điểm chỉnh tề, chỉ chờ người căng màn che ra phố xem đèn. Các vị thử hỏi vì sao lại dùng màn che? Ấy là vì đàn bà nhà quan sợ người ngoài phố chen lấn cọ quẹt, không ra thể thống, nên dùng lụa hoặc vải căng thành một vòng dài vây quanh, chỉ cốt ngăn người ngoài, còn người đi bên trong vẫn nhìn được bốn phía. Đời Tấn gọi là bộ chướng, tức màn che bước đi. Đó là khuôn phép nhà quyền quý.
Chuyện phiếm tạm gác. Lại nói Tương Mẫn công có một cậu con út, đứng thứ mười ba trong nhà, tên tục là Nam Cai, mới năm tuổi, thông minh lanh lợi, dung mạo khác thường. Cả nhà trong ngoài lớn bé ai cũng yêu, ông bà thì khỏi phải nói. Lúc ấy cậu cũng muốn ra phố xem đèn. Cậu ấm nhà quyền quý ăn mặc chỉnh tề còn là chuyện thường, riêng chiếc mũ trên đầu đã gắn toàn ngọc trai to bằng hạt đậu nành, xâu thành hình hoa mẫu đơn có đôi phượng, chính giữa phía trước là một viên ngọc mắt mèo lấp lánh, xung quanh lại khảm đá quý năm màu, nào lam ngọc, nào lục bảo. Chỉ riêng chiếc mũ ấy cũng đáng cả nghìn quan tiền. Tương Mẫn công dặn một người nhà tên Vương Cát cõng cậu trên lưng, theo gia quyến cùng đi xem đèn.
Vương Cát là người hiểu phép tắc, tự nghĩ mình là đàn ông, không dám đi trong màn, chỉ đi sát bên ngoài màn. Đến trước cửa Tuyên Đức, vừa đúng lúc vua Thần Tông ngự trên lầu cửa Tuyên Đức, thánh chỉ cho dân được ngẩng nhìn, lính cấm vệ không được ngăn. Trên lầu dựng núi đèn hình con ngao, đèn sáng rực rỡ, hương khói ngào ngạt, nhạc ngự tấu lên, sáo trống rộn ràng. Dưới lầu bày trăm trò diễn cho vua xem. Người xem thật là núi người biển người, chen đến không còn kẽ hở.
Lúc ấy Vương Cát chen vào giữa đám đông, vì vai cõng cậu ấm nên rất bất tiện, xem không thoả thích. Bỗng thấy lưng nhẹ hẳn đi, nhất thời xem say quá, quên khuấy mất, duỗi lưng, ngẩng đầu, thấy thật thoải mái, cứ đứng ngây ra nhìn lên. Rồi chợt nghĩ: "Cậu ấm đâu rồi?" Vội ngoảnh lại nhìn, rõ ràng không còn trên lưng nữa. Nhìn bốn phía toàn người lạ, chẳng thấy bóng cậu ấm đâu. Định đi tìm, lại bị chen chặt chân, không đi được. Vương Cát hoảng loạn, dùng hết sức lách người ra, lách đến rã rời xương cốt mới ra được chỗ thưa người. Gặp một tốp người trong phủ, anh hỏi:
— Các anh có thấy cậu ấm không?
Người trong phủ nói:
— Cậu ấm do anh cõng, sao lại hỏi chúng tôi?
Vương Cát nói:
— Đúng lúc chen chúc ồn ào, chẳng biết ai thò tay lên lưng tôi bế đi. Có khi anh em trong phủ thấy tôi vất vả, bế giúp cho tôi nhẹ người cũng nên. Tôi nhất thời ham thoải mái, giữa đám đông không nhìn kỹ, đến lúc tìm thì đã không thấy. Các anh chẳng lẽ không gặp?
Người trong phủ nghe vậy, ai cũng hoảng lên:
— Anh lạ thật, chuyện này có phải chuyện đùa đâu? Sao lại không cẩn thận thế! Anh để mất giữa nghìn vạn người, lại đứng đây hỏi người này người kia, chẳng làm lỡ việc sao! Mau chia nhau quay lại chỗ đông mà tìm.
Một tốp hơn chục người cùng Vương Cát lách ra lách vào, kêu gọi ầm ĩ, nhưng người đông quá, giữa mênh mông biết hỏi ai? Tìm đến hoa cả mắt, gọi đến khản cả cổ, chẳng có tăm hơi. Tìm một hồi, tụ lại, người này hỏi người kia, đều không thấy, cuống cả lên. Có người nói:
— Hay là có ai bế về nhà rồi?
Có người nói:
— Anh em mình đều ở đây cả, còn ai bế đi nữa!
Vương Cát nói:
— Hãy về nhà hỏi xem rồi tính.
Một người nhà già nói:
— Chắc chắn không ở nhà. Đồ trên đầu cậu sáng chói mắt người, bị kẻ gian bắt cóc cả người lẫn của rồi. Chúng ta đừng làm phu nhân sợ, hãy về nhà thưa với tướng công trước, sớm sai người truy bắt mới phải.
Vương Cát nghe nói phải thưa với tướng công, đã sợ mất một nửa, nói:
— Sao trả lời tướng công được? Hãy thong thả dò hỏi, đừng nóng vội thì hơn!
Người trong phủ ai cũng cuống, đâu để Vương Cát làm chủ, cùng chạy về nhà. Hỏi riêng trong nhà, đâu có cậu ấm. Đành vào gặp Tương Mẫn công, nhưng cũng ấp a ấp úng, chưa dám nói thẳng chuyện mất cậu ấm.
Tương Mẫn công thấy mọi người vội vã, trái lại hỏi:
— Các ngươi đi chưa bao lâu, sao lại cùng chạy về? Lại có vẻ hoảng hốt mất hồn, ắt có duyên cớ.
Mọi người mới kể chuyện Vương Cát làm mất cậu ấm giữa đám đông. Vương Cát quỳ xuống, chỉ dập đầu xin chết. Tương Mẫn công chẳng để tâm chút nào, cười nói:
— Đi rồi tự nhiên sẽ về, cần gì cuống thế?
Mọi người nói:
— Ắt là kẻ gian bắt cóc, sao về được? Tướng công nên giao phủ Khai Phong sớm truy bắt mới không mất.
Tương Mẫn công lắc đầu:
— Cũng chẳng cần.
Mọi người tưởng là việc to bằng trời, gấp như lửa, nào ngờ Tương Mẫn công coi như chuyện thường, chẳng động sắc mặt, như dội một chén nước tuyết. Mọi người không hiểu ý ông, đành vào trong màn thưa với phu nhân. Phu nhân kinh hoảng, vội quay về, ngậm nước mắt bàn với tướng công. Tương Mẫn công nói:
— Nếu đứa con khác bị mất thì phải gấp đi tìm. Nay là thằng Mười Ba của ta, ắt nó tự biết về, không cần lo.
Phu nhân nói:
— Thằng bé tuy lanh lợi, nhưng tí tuổi đầu, giỏi lắm cũng chỉ là đứa trẻ bốn năm tuổi. Bị lạc giữa muôn người, sao tự về được?
Các vú nuôi nói:
— Nghe nói kẻ gian bắt cóc con nhà người ta, có đứa bị chọc mù mắt, có đứa bị chặt chân, nghìn cách hành hạ cho tàn tật, giả làm ăn mày xin tiền. Nếu không gấp đi tìm, ắt cậu ấm bị độc thủ!
Ai nấy khóc mãi không thôi. Người nhà nói:
— Tướng công không giao cho phủ truy bắt thì cũng viết mấy tờ yết thị, hoặc dán cáo thị lớn, có người ham tiền thưởng thì sẽ có người dò được tin đến báo.
Nhất thời người bàn thế này, kẻ bàn thế kia, ồn ào hỗn loạn. Chỉ có Tương Mẫn công điềm nhiên không để ý, nói:
— Mặc các ngươi bàn trăm đường, đều là thừa cả. Qua mấy ngày nó tự về.
Phu nhân nói:
— Đứa con như búp bê ngọc thế, sao nỡ mất mà không để tâm? Lại nói những lời buông lơi như thế!
Tương Mẫn công nói:
— Cứ để ta lo, sẽ trả bà đứa con như cũ, đừng nóng vội!
Phu nhân đâu yên lòng, đến người nhà, vú nuôi cũng chẳng ai tin lời tướng công. Phu nhân tự dặn người nhà đi tìm khắp nơi, chuyện ấy không nói nữa.
Lại nói đêm ấy Nam Cai ở trên lưng Vương Cát, đang lúc chen chúc ồn ào, bỗng có một người đến sát bên Vương Cát, khẽ đưa tay đỡ lấy, vẫn cõng như cũ. Nam Cai đang mải xem, mắt hoa cả lên, nhất thời không biết. Chỉ thấy người ấy cõng cậu trên lưng rồi chen bừa qua đám đông. Nam Cai mới quát:
— Vương Cát! Sao lại đi bừa thế!
Nhìn kỹ lại, đâu phải Vương Cát? Áo mũ khác hẳn. Nam Cai tuy nhỏ tuổi mà rất thông minh, biết ngay là kẻ gian nhân lúc ồn ào bắt cóc mình. Định kêu lên, nhìn trái nhìn phải chẳng có ai quen. Cậu nghĩ: "Hắn ắt tham chiếc mũ ngọc trên đầu ta. Nếu bị hắn cướp mất thì khó tìm lại. Ta hãy giấu mũ đi, còn thân ta thì chẳng sợ hắn làm gì!"
Cậu bèn đưa tay tháo mũ trên đầu xuống, nhét vào tay áo, cũng chẳng nói gì, chẳng hoảng hốt, cứ để hắn cõng đi tiếp, như chẳng biết gì. Gần đến cửa Đông Hoa, thấy bốn năm chiếc kiệu nối nhau đi tới, Nam Cai nghĩ bụng: "Trong kiệu ắt có quan lớn quý nhân. Lúc này không kêu cứu thì còn đợi lúc nào?" Nam Cai nhìn kiệu đến gần, đưa tay níu rèm kiệu, kêu to:
— Có trộm! Có trộm! Cứu với! Cứu với!
Tên trộm cõng Nam Cai không ngờ, bỗng nghe trên lưng kêu như thế, giật nảy mình, sợ bị người bắt, vội hất Nam Cai xuống, thoát thân chạy mất, lẫn vào đám đông.
Người trong kiệu nghe tiếng trẻ con kêu, vén rèm nhìn, thấy là một đứa bé đầu xanh mặt trắng như búp bê ngọc, trong lòng mừng, bảo dừng kiệu, bế vào hỏi:
— Con ở đâu đến?
Nam Cai nói:
— Con bị trộm bắt cóc đến đây.
Người trong kiệu hỏi:
— Trộm đâu?
Nam Cai nói:
— Vừa rồi con kêu lên, nó lẫn vào đám đông chạy mất rồi.
Người trong kiệu thấy cậu nói năng rõ ràng, xoa đầu cậu nói:
— Con ngoan, đừng sợ, hãy theo ta về rồi tính.
Rồi hai tay bế đặt lên gối, đi thẳng đến cửa Đông Hoa, vào luôn trong cung.
Các vị thử hỏi người trong kiệu là ai? Thì ra là một vị quan hoạn hầu cận phẩm cao được ra vào cung cấm. Vì thánh giá đã xem đèn trên lầu xong, ông cùng bốn năm vị quan hoạn khác vào cung trước để bày tiệc. Không ngờ gặp Nam Cai kêu cứu, bế vào kiệu, vào tận trong cung. Ông dặn người theo hầu dẫn cậu đến phòng trực của mình, cho ăn hoa quả, đắp chăn cho ấm, sợ cậu hoảng, dặn đi dặn lại. Tính các quan hoạn vốn thích trẻ nhỏ, tự nhiên là như thế.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn