Đó là ngày hai mươi ba tháng mười một năm Nguyên Văn thứ ba. Ở Ô-xa-ca, người ta dựng một tấm bảng yết thị, viết rằng tên Ta-rô-bê, chủ thuyền buôn nhà Ka-tsư-ra-y-a, sẽ bị bêu ba ngày ở cửa sông Ki-dư, rồi đem chém đầu. Khắp thành chỗ nào cũng chỉ bàn chuyện Ta-rô-bê, trong khi gia đình hắn, những người phải thấm thía chuyện ấy hơn ai hết, đã gần tròn hai năm nay sống gần như cắt đứt hẳn với người đời, trong ngôi nhà bên cầu Hô-ri-ê thuộc khu phía nam.
Người tới báo cho nhà Ka-tsư-ra-y-a cái tin đã lường trước ấy là mẹ vợ Ta-rô-bê, ở phố Hi-ra-nô gần đó. Nhà Ka-tsư-ra-y-a gọi bà cụ tóc bạc ấy là bà ngoại phố Hi-ra-nô. Bà ngoại là cái tên năm đứa trẻ nhà Ka-tsư-ra-y-a đặt cho người bà lúc nào cũng mang quà ngon tới cho chúng, rồi cả chủ nhà lẫn vợ chủ nhà cũng gọi theo.
Nhà Ka-tsư-ra-y-a có năm đứa cháu quấn quýt bà ngoại, nũng nịu bà ngoại, vòi vĩnh bà ngoại. Bốn đứa trong số đó sinh ra trong mười sáu năm, kể từ khi bà gả cô con gái mười bảy tuổi về nhà Ka-tsư-ra-y-a cho tới năm nay. Con gái lớn I-chi mười sáu tuổi, con gái thứ Ma-tsư mười bốn tuổi. Kế đó là Chô-ta-rô, một đứa con trai mười hai tuổi, mà Ta-rô-bê, vì đã tính gả hết các con gái về nhà người, đã xin từ nhà ngoại ở phố Hi-ra-nô về nuôi từ lúc còn đỏ hỏn. Kế nữa là đứa con gái Ta-rô-bê sinh sau, tên Tô-cư, tám tuổi. Cuối cùng là Ha-tsư-gô-rô, đứa con trai đầu tiên của Ta-rô-bê, năm nay sáu tuổi.
Nhà ngoại ở phố Hi-ra-nô khá giả, nên quà bà ngoại mang tới lần nào cũng làm lũ cháu thoả lòng. Nhưng từ năm kia, khi Ta-rô-bê bị bắt vào ngục, quà của bà ngoại cứ hay làm lũ cháu thất vọng. Vì bà ngoại chủ yếu mang những thứ cần cho việc sinh sống, nên đồ chơi bánh kẹo ít đi.
Nhưng sức sống của lũ trẻ đang lớn thì mạnh lắm, không chỉ chuyện quà bà ngoại ít đi, mà cả chuyện mẹ hay cáu kỉnh chúng cũng chẳng mấy chốc quen, chẳng có vẻ gì ủ rũ, vẫn sống cái đời rộn ràng, lúc giận nhau lúc lại làm lành, thay nhau từng khắc. Rồi thay cho người cha mà chúng được bảo là "đi xa, xa lắm, không về", chúng hớn hở đón bà ngoại mỗi khi bà tới.
Trái lại, vợ Ta-rô-bê, từ khi gặp tai hoạ, trong lòng chẳng chứa nổi điều gì ngoài nỗi hối hận và đau đớn lúc nào cũng như nhau, ngay đối với người mẹ hết lòng chu cấp, ân cần an ủi, cũng chẳng mấy khi tỏ ý cảm ơn. Mẹ tới lúc nào, chị cũng chỉ kể đi kể lại những lời than thở như nhau rồi tiễn về.
Lúc mới gặp tai hoạ, người vợ chỉ ngẩn ngơ mở to mắt, cơm nước cũng chỉ lo cho con như cái máy, còn mình thì hầu như chẳng ăn gì, cứ kêu khô cổ, uống từng ngụm nước nóng. Đêm, tưởng mệt quá đã ngủ say, thì chị lại mấy lần thức giấc thở dài. Rồi trở dậy, có khi khâu vá giữa đêm. Những lúc ấy, đứa út Ha-tsư-gô-rô thấy mẹ không nằm bên, thức dậy trước. Kế đó bé Tô-cư thức. Người vợ bị con gọi, lại vào nằm, đợi con yên lòng ngủ rồi, lại mở to mắt mà thở dài. Hai ba ngày sau, chị mới khóc được, mới kể than được với người mẹ tới ở lại với mình. Từ đó suốt gần tròn hai năm, người vợ cứ làm lụng như cái máy, cứ than thở như thế, cứ khóc như thế.
Hôm tấm bảng yết thị được dựng, quá trưa bà mẹ tới, báo cho con gái biết số phận Ta-rô-bê đã định. Nhưng người vợ không kinh hoàng như bà sợ, nghe xong lại than thở và khóc như mọi khi. Bà mẹ thấy con chẳng mấy phản ứng mà đâm ra hụt hẫng. Lúc ấy, cô con gái lớn I-chi đứng sau cửa kéo, nghe hết câu chuyện của bà ngoại.
Tai hoạ trùm lên nhà Ka-tsư-ra-y-a là thế này. Chủ nhà Ta-rô-bê tuy làm nghề thuyền buôn, nhưng chẳng tự mình đi thuyền. Hắn có thuyền chạy tuyến các xứ phía bắc, giao cho một người tên Sin-si-chi cầm lái, làm nghề chở hàng. Ở Ô-xa-ca, những người như Ta-rô-bê gọi là chủ thuyền ngồi nhà. Chủ thuyền ngồi nhà Ta-rô-bê thuê người lái thuyền ra khơi là Sin-si-chi.
Mùa thu năm Nguyên Văn thứ nhất, thuyền Sin-si-chi chở gạo rời A-ki-ta xứ Đê-oa. Chẳng may giữa đường gặp sóng gió, thuyền suýt đắm, hơn nửa số hàng trôi mất. Sin-si-chi bán chỗ gạo còn lại lấy tiền, mang về Ô-xa-ca.
Rồi Sin-si-chi nói với Ta-rô-bê rằng chuyện thuyền gặp nạn thì các bến đều biết cả. Số tiền bán hàng còn sót này, chẳng cần trả lại chủ gạo nữa. Hay ta dùng nó vào việc sắm sửa chuyến thuyền sau.
Ta-rô-bê trước nay vẫn buôn bán thật thà, nhưng vừa chịu một vụ lỗ lớn, lại thấy tiền mặt bày ra trước mắt, tấm gương lương tâm chợt mờ đi, hắn nhận số tiền ấy.
Bên chủ gạo ở A-ki-ta, sau khi được báo thuyền đắm, nghe người ta truyền miệng rằng còn hàng sót lại, rằng có người mua, bèn cất công sai người đi dò. Dò ra được cả số tiền từ tay Sin-si-chi chuyển sang tay Ta-rô-bê.
Chủ gạo lên Ô-xa-ca kiện. Sin-si-chi bỏ trốn. Thế là Ta-rô-bê bị bắt vào ngục, rốt cuộc bị xử tử.
Đêm hôm bà ngoại phố Hi-ra-nô tới kể chuyện khủng khiếp mà cô con gái lớn I-chi đứng nghe trộm. Vợ Ta-rô-bê, mệt lả như mọi lần sau những lúc than khóc, ngủ thiếp đi. Hai bên chị là Ha-tsư-gô-rô và Tô-cư. Cạnh Ha-tsư-gô-rô là Chô-ta-rô. Cạnh Tô-cư là Ma-tsư, kế đó là I-chi.
Một lúc sau, I-chi nằm trong chăn lẩm bẩm gì đó. Hình như cô nói: "Ừ, làm thế đi. Nhất định được mà."
Ma-tsư nghe thấy, liền hỏi:
— Chị ơi, chị chưa ngủ à?
— Đừng nói to. Chị nghĩ ra một việc hay lắm.
I-chi bảo em im trước đã, rồi thì thầm kể. Cha sẽ bị giết vào ngày kia. Cô nghĩ mình có thể khiến cha không bị giết. Làm thế nào ư? Viết một thứ gọi là đơn xin, dâng lên quan phủ. Nhưng chỉ xin đừng giết cha thì sẽ không được nghe. Phải xin tha cho cha, và đổi lại thì giết chị em mình. Quan phủ nghe cho, cha được tha, thế là được. Chị em mình có bị giết thật cả không, hay chị bị giết còn mấy đứa nhỏ được tha, cái đó chưa biết. Chỉ có điều lúc làm đơn, sẽ viết xin đừng giết Chô-ta-rô cùng. Nó không phải con đẻ của cha, nên không cần phải chết. Lại thêm cha vẫn định cho nó nối nghiệp nhà này, nên nó không bị giết thì hơn. I-chi kể cho em gái nghe chừng ấy.
— Nhưng mà sợ lắm chị ạ.
Ma-tsư nói.
— Thế em không muốn cha được tha à?
— Muốn chứ.
— Đấy, thấy chưa. Em chỉ cần đi theo chị, làm y như chị là được. Đêm nay chị viết sẵn lá đơn, sáng sớm mai mình mang đi nhé.
I-chi trở dậy, lấy tờ giấy dùng để chép bài tập viết, viết lá đơn bằng chữ kana. Chỉ là xin tha mạng cho cha, đổi lại xin xử tội cô, em Ma-tsư, em Tô-cư và em trai Ha-tsư-gô-rô, riêng Chô-ta-rô không phải con đẻ thì xin tha cho, chỉ chừng ấy thôi, nhưng cô không biết viết sao cho thành câu, nên viết hỏng mấy lần, giấy trắng xin để chép bài chỉ còn lại ít ỏi. Nhưng rốt cuộc, tới lúc gà gáy canh đầu, lá đơn đã viết xong.
Trong lúc viết đơn, Ma-tsư đã ngủ thiếp đi, I-chi khẽ gọi em dậy, bảo mặc bộ áo thường gấp bên chỗ nằm. Rồi cô cũng sửa soạn.
Người mẹ và Ha-tsư-gô-rô vẫn ngủ chẳng biết gì, nhưng Chô-ta-rô thức giấc:
— Chị ơi, trời sáng rồi à?
I-chi lại bên chỗ nằm của Chô-ta-rô, thì thầm:
— Còn sớm, em cứ ngủ đi. Chị với chị Ma-tsư có việc quan trọng cho cha, phải lặng lẽ đi tới một chỗ rồi về.
— Thế thì em cũng đi.
Chô-ta-rô nói, rồi ngồi bật dậy.
I-chi bảo:
— Vậy thì dậy đi, chị mặc áo cho. Em Chô tuy nhỏ nhưng là con trai, đi cùng thì càng hay.
Người mẹ như trong mơ nghe chung quanh xôn xao, hơi bất an trở mình, nhưng không tỉnh giấc.
Ba đứa trẻ lén ra khỏi nhà lúc gà gáy canh hai. Ngoài cửa là bình minh sương giá. Gặp ông cụ tuần đêm xách đèn lồng, gõ mõ đi tới, I-chi hỏi ông đi tới chỗ quan phủ thì đi lối nào. Ông cụ tốt bụng, hiểu chuyện, nghiêm túc nghe bọn trẻ nói, rồi cẩn thận chỉ đường tới phủ quan phía tây, nơi đang giữ phiên tháng này. Thời ấy, quan phủ phía đông là I-na-ga-ki, quan phủ phía tây là Xa-xa. Tháng mười một thì quan Xa-xa phía tây giữ phiên.
Trong lúc ông cụ chỉ đường, Chô-ta-rô nghe thấy, bảo:
— Thế thì phố ấy em biết.
Thế là hai chị cho Chô-ta-rô đi trước dẫn đường.
Mãi mới tới được phủ quan phía tây, thì cổng còn đóng. I-chi tới dưới cửa sổ phòng gác cổng, gọi đi gọi lại:
— Thưa bác, thưa bác.
Một lúc sau cửa sổ mở, một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi ló mặt ra:
— Ồn ào quá. Gì thế?
— Chúng con tới có việc xin quan phủ ạ.
I-chi lễ phép cúi người nói.
— Hả?
Người đàn ông có vẻ chưa hiểu ra lời cô nói.
I-chi lại nói lại câu ấy.
Mãi người đàn ông mới hiểu ra:
— Trẻ con không được thưa chuyện với quan phủ. Gọi cha mẹ tới đây.
— Không ạ, cha con mai bị xử tội, chúng con tới xin về việc ấy.
— Cái gì. Mai bị xử tội. Thế ra mày là con Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a à?
— Vâng ạ.
I-chi đáp.
— Hừm.
Người đàn ông nghĩ ngợi một chút. Rồi nói:
— Láo thật. Đến trẻ con cũng chẳng biết sợ bề trên. Quan phủ không gặp chúng mày đâu. Về đi, về đi.
Nói rồi hắn đóng sập cửa sổ.
Ma-tsư bảo chị:
— Chị ơi, người ta mắng thế, mình về thôi.
I-chi nói:
— Em im đi. Bị mắng cũng không về. Chị làm sao thì em làm vậy.
Nói rồi I-chi ngồi xuống trước cổng. Ma-tsư và Chô-ta-rô cũng ngồi theo.
Ba đứa trẻ chờ cổng mở lâu lắm. Mãi mới có tiếng tháo then, cổng mở. Người mở chính là người đàn ông lúc nãy thò mặt qua cửa sổ.
I-chi đi trước bước vào trong cổng, Ma-tsư và Chô-ta-rô nối gót theo sau.
Dáng điệu I-chi thản nhiên quá, nên người gác cổng không ngăn lại ngay. Hắn trố mắt nhìn ba đứa trẻ đi về phía tiền sảnh một lúc, rồi mới sực tỉnh, gọi:
— Này, này.
— Dạ.
I-chi ngoan ngoãn dừng lại, ngoảnh lại.
— Đi đâu đấy? Lúc nãy đã bảo về cơ mà?
— Bác bảo thế ạ, nhưng chúng con định khi nào lời xin được nghe thì mới về, chứ thế nào cũng không về ạ.
— Hừm. Lì thật. Dẫu sao cũng không được vào đấy. Lại đây.
Bọn trẻ quay lại, tới phòng gác cổng. Cùng lúc ấy, từ bên tiền sảnh, hai ba viên chức trực ra hỏi "Cái gì đấy, cái gì đấy", rồi vây quanh bọn trẻ. I-chi như đã chờ đúng lúc này, ngồi thụp xuống, rút tờ đơn trong ngực áo ra, chìa trước mặt viên đội đứng đầu. Ma-tsư và Chô-ta-rô cũng ngồi xuống cúi lạy.
Viên đội bị chìa tờ giấy trước mặt, có vẻ phân vân không biết có nên nhận hay không, cứ im lặng nhìn xuống mặt I-chi.
— Con xin các ngài.
I-chi nói.
— Bọn này là con Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a, đang bị bêu ở cửa sông Ki-dư. Chúng bảo tới xin tha mạng cho cha.
Người gác cổng đứng bên giải thích.
Viên đội ngoảnh lại hỏi các đồng liêu:
— Thôi thì cứ giữ tờ đơn lại, rồi thử bẩm lên xem sao nhỉ.
Chẳng ai phản đối.
Viên đội nhận tờ đơn từ tay I-chi, rồi đi vào tiền sảnh.
Quan phủ phía tây Xa-xa là người mới trong hai vị quan phủ, tới Ô-xa-ca chưa được một năm. Việc gì trong chức phận ông cũng bàn với đồng liêu I-na-ga-ki, rồi hỏi ý quan thành đại mà xử. Vì vậy, từ khi được người tiền nhiệm giao lại vụ án Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a, ông vẫn coi đó là việc hệ trọng mà để tâm, nay thủ tục xử án vừa xong, ông thấy như trút được gánh nặng.
Vậy mà sáng nay viên đội trực đêm vào bẩm có người tới xin tha mạng, thì trước hết Xa-xa thấy như có kẻ phá ngang việc mình vừa lo liệu xong xuôi.
— Kẻ tới là ai?
Giọng Xa-xa không vui.
— Bẩm, hai đứa con gái và một đứa con trai của Ta-rô-bê tới, đứa con gái lớn xin dâng đơn, con đang giữ đây. Quan có muốn xem chăng?
— Triều đình đã đặt hòm thư kêu oan, theo ý ấy thì tuỳ việc mà nhận cũng được, nhưng trước hết phải bảo cho chúng biết việc gì cũng có thủ tục của nó. Dẫu sao đã giữ đấy thì ta xem qua.
Viên đội đặt tờ đơn trước mặt Xa-xa. Mở ra xem, Xa-xa có vẻ ngờ vực:
— Đứa tên I-chi hẳn là đứa con gái lớn, bao nhiêu tuổi?
— Bẩm, con chưa tra hỏi, nhưng trông chừng mười bốn mười lăm tuổi.
— Thế à.
Xa-xa nhìn tờ đơn một lúc. Chữ kana viết vụng, nhưng ý tứ rành mạch, đến người lớn viết chừng ấy việc trong một đoạn văn ngắn chừng ấy cũng chẳng dễ. Chợt ông nảy ý ngờ rằng hay là có người lớn bảo viết. Tiếp đó ông lại nghĩ, có khi là trò của kẻ gian xảo định lừa bề trên. Rồi ông nghĩ cách xử trước mắt. Ta-rô-bê sẽ bị bêu tới chiều mai. Tới lúc thi hành án vẫn còn thời gian. Trong khoảng ấy, nhận đơn hay không, còn bàn với đồng liêu, hỏi ý bề trên được. Mà giả như trong ấy có điều gian dối, thì trong lúc bắt làm đủ thủ tục cũng có thể dò ra. Dẫu sao cứ cho bọn trẻ về đã, Xa-xa nghĩ.
Thế là ông bảo viên đội: lá đơn này ta đã xem qua, nhưng không được dâng lên quan phủ, bảo chúng mang về mà nộp cho các vị trưởng phố.
Viên đội thưa rằng người gác cổng đã đuổi về, mà chúng nhất định không về. Xa-xa truyền: thế thì cho chúng ít bánh kẹo, dỗ cho về, vẫn không nghe thì lôi về.
Viên đội vừa rời chỗ, thì quan thành đại là Ô-ta, tước Bít-chu, tới thăm. Không phải đi tuần chính thức, mà có việc riêng. Xong việc của Ô-ta, Xa-xa kể rằng vừa xảy ra chuyện như thế như thế, nói ý mình, rồi xin chỉ bảo.
Ô-ta chẳng có ý gì khác, đồng ý với Xa-xa, định quá trưa sẽ mời cả quan phủ phía đông I-na-ga-ki tới dự, và bắt năm vị trưởng phố dẫn con cái Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a tới hầu. Mối lo của Xa-xa sợ có điều gian dối cũng phải lẽ, nên cho bày dụng cụ tra tấn ra sân xử án. Đó là cách doạ bọn trẻ cho chúng khai thật.
Vừa bàn xong thì viên đội lúc nãy tới, đứng chờ nơi cửa dò ý.
— Thế nào, bọn trẻ về chưa?
Xa-xa hỏi.
— Bẩm quan. Con đã cho bánh kẹo mà bảo về, nhưng đứa con gái tên I-chi nhất định không nghe. Rốt cuộc con phải nhét tờ đơn vào ngực áo nó, rồi lôi về. Đứa em gái khóc thút thít, nhưng I-chi không khóc mà về.
— Xem ra là đứa con gái cứng lòng lắm đấy.
Ô-ta ngoảnh sang Xa-xa mà nói.
Cuối giờ Mùi ngày hai mươi bốn tháng mười một. Sân xử án phủ quan phía tây trông thật trang nghiêm. Trong thư phòng, hai vị quan phủ ngồi thành hàng. Ở chỗ khuất phía trong đặt một chỗ ngồi riêng, quan thành đại tuy không ngồi chính thức, cũng tới xem xét cuộc tra hỏi từ xa. Ngoài hiên, viên đội được lệnh tra hỏi ngồi đó cùng viên thư lại.
Ngoài sân, lính sai dịch cắm ba thứ binh khí, canh gác nghiêm ngặt, đủ mọi dụng cụ tra tấn được bày ra. Năm vị trưởng phố dẫn vợ Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a cùng năm đứa con tới.
Cuộc tra hỏi bắt đầu từ người vợ. Nhưng hỏi tên, hỏi tuổi, chị gắng đáp được, còn hỏi những điều khác thì ngoài "Tôi chẳng biết gì cả" và "Tôi xin chịu tội", chị chẳng khai được điều gì.
Kế đó tới lượt con gái lớn I-chi. Một cô bé gầy gò, trông non hơn tuổi mười sáu một chút. Nhưng cô khai đầu đuôi mọi việc mà không chút sợ sệt. Chuyện nấp nghe bà ngoại nói, chuyện tối vào nằm rồi nảy ý đi xin, chuyện kể với em Ma-tsư mà rủ, chuyện tự mình viết đơn, chuyện Chô-ta-rô thức dậy nên cho đi cùng, hỏi tên phố có phủ quan rồi để em dẫn đường, chuyện tới phủ quan đối đáp với người gác cổng, rồi nhờ viên đội trực chuyển đơn, chuyện bị các viên đội ép phải về, tóm lại mọi điều trải qua từ hôm trước, hỏi đâu cô đáp đấy, rành rọt.
— Thế ngoài Ma-tsư ra ngươi không bàn với ai à?
Viên quan tra hỏi nói.
— Con không nói với ai cả. Với Chô-ta-rô con cũng không nói kỹ. Chỉ nói là đi xin cho cha được tha. Ở phủ quan về, lúc gặp các vị trưởng phố, con nói chị em con xin dâng bốn mạng sống để xin tha cho cha, thì Chô-ta-rô bảo thế thì em cũng muốn dâng mạng sống, rồi rốt cuộc bắt con viết cho một lá đơn riêng của nó, nó mang theo đây ạ.
I-chi khai thế, thì Chô-ta-rô rút tờ giấy trong ngực áo ra.
Theo lệnh viên tra hỏi, một tên sai dịch nhận tờ giấy từ tay Chô-ta-rô, đưa lên hiên.
Viên tra hỏi mở ra, so với lá đơn của I-chi. Lá đơn của I-chi đã được các vị trưởng phố nộp lên trước khi tra hỏi.
Lá đơn của Chô-ta-rô viết cùng một nét chữ với lá đơn trước, rằng cậu cũng muốn cùng chị và các em chết thay cho cha.
Viên tra hỏi gọi: "Ma-tsư." Nhưng Ma-tsư không biết mình bị gọi. I-chi bảo: "Người ta gọi em đấy." Lúc ấy Ma-tsư mới rụt rè ngẩng cái đầu đang cúi gằm, nhìn vị quan trên hiên.
— Ngươi muốn chết cùng chị phải không?
Viên quan tra hỏi nói.
Ma-tsư "dạ" một tiếng, gật đầu.
Kế đó viên tra hỏi gọi: "Chô-ta-rô."
Chô-ta-rô dạ ngay.
— Ngươi muốn chết cùng anh chị em, như viết trong tờ giấy phải không?
— Cả nhà chết hết, con không muốn sống một mình.
Chô-ta-rô đáp rành rọt.
— Tô-cư.
Viên tra hỏi gọi. Tô-cư thấy chị và anh lần lượt bị gọi, nên biết lần này tới lượt mình. Cô bé chỉ mở to mắt ngước nhìn mặt vị quan.
— Ngươi cũng chịu chết chứ?
Tô-cư im lặng nhìn mặt vị quan, rồi môi tái đi, mắt rưng rưng đầy nước.
— Ha-tsư-gô-rô.
Viên tra hỏi gọi.
Đứa út Ha-tsư-gô-rô, mới lên sáu, cũng im lặng nhìn mặt vị quan, nhưng bị hỏi "Thế còn ngươi, ngươi có chịu chết không?", thì lắc đầu lia lịa. Những người trong thư phòng thấy vậy, bất giác mỉm cười.
Lúc ấy Xa-xa bước ra tới ngưỡng thư phòng, gọi:
— I-chi.
— Dạ.
— Lời ngươi khai không có gì dối trá chứ? Nếu điều ngươi khai có chút gì sai, có ai dạy bảo, hay có bàn bạc với ai, thì khai ngay bây giờ. Giấu mà không khai, thì ta sẽ cho dùng những dụng cụ bày kia mà tra cho tới khi ngươi khai thật.
Xa-xa chỉ tay về phía những dụng cụ tra tấn.
I-chi đưa mắt nhìn một lượt về phía ông chỉ, chẳng chút ngập ngừng, nói dứt khoát:
— Không ạ, những điều con khai không có gì sai.
Ánh mắt cô lạnh lùng, lời nói cô chậm rãi.
— Vậy ta hỏi ngươi thêm một điều, nếu lời xin chết thay được chuẩn y, thì chị em ngươi sẽ bị giết ngay đấy. Không được thấy mặt cha nữa, thế mà cũng được ư?
— Được ạ.
Cô đáp, vẫn giọng lạnh lùng như thế, rồi ngừng một chút, như có điều gì chợt hiện lên trong lòng, nói thêm:
— Việc của bề trên thì chắc chẳng có gì sai đâu ạ.
Trên mặt Xa-xa thoáng một vẻ kinh ngạc như bị đánh bất ngờ, nhưng rồi tắt ngay, đôi mắt đã trở nên dữ dội đăm đăm nhìn I-chi. Có lẽ có thể gọi đó là ánh mắt kinh ngạc nhuốm căm ghét. Nhưng Xa-xa không nói gì.
Rồi Xa-xa thì thầm điều gì đó với viên tra hỏi, chẳng bao lâu viên tra hỏi bảo các vị trưởng phố: "Xong việc rồi, lui về đi."
Nhìn theo bọn trẻ lui khỏi sân xử án, Xa-xa quay sang Ô-ta và I-na-ga-ki:
— Tương lai đứa trẻ này thật đáng sợ.
Trong lòng ông chẳng còn sót lại chút bóng dáng nào của một đứa con gái hiếu thảo đáng thương, cũng chẳng còn chút bóng dáng nào của một đứa trẻ ngu dại bị người ta xúi giục, chỉ có câu nói cuối cùng trong lời nói cuối cùng của I-chi, lạnh như băng, sắc như lưỡi dao, cứ vang vọng mãi. Quan lại nhà Tô-cư-ga-oa thời Nguyên Văn dĩ nhiên chẳng biết cái chữ phương Tây gọi là tử đạo, mà sách tự điển thời ấy cũng chưa có chữ hiến thân để dịch nó, nên họ không biết rằng trong tinh thần con người, không phân già trẻ trai gái, có thể có thứ sức mạnh như đã hiện ra nơi con gái tên tội phạm Ta-rô-bê, ấy cũng chẳng có gì lạ. Nhưng mũi nhọn phản kháng ẩn trong sự hiến thân ấy đã đâm vào ngực không chỉ Xa-xa, người đã trao lời với I-chi, mà cả các quan lại có mặt trong thư phòng.
Quan thành đại và hai vị quan phủ đều cảm thấy I-chi là "một đứa con gái kỳ quặc", trong cảm giác ấy lại xen cả mối mê tín rằng hay nó bị ma nhập, nên chẳng mấy thương cảm cô gái hiếu thảo, nhưng bộ máy hành chính tư pháp sơ khai thời ấy tự nhiên chuyển động, và lời xin của I-chi đã được thấu tới mà chẳng ai ngờ. Việc thi hành án Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a được hoãn lại "trong khi chờ hỏi ý Ê-đô". Lệnh ấy được báo cho các vị trưởng phố ngày hôm sau cuộc tra hỏi, tức ngày hai mươi lăm tháng mười một. Rồi ngày mồng hai tháng ba năm Nguyên Văn thứ tư, có lệnh truyền: "Vì lễ Đại Thường ở Ki-ô-tô cử hành chưa được bao lâu, nên Ta-rô-bê được tha tội chết, bị đuổi khỏi ba khu bắc, nam và Ten-ma của Ô-xa-ca." Gia đình nhà Ka-tsư-ra-y-a lại được gọi tới phủ quan phía tây, được chia tay với cha. Lễ Đại Thường là đại lễ lên ngôi, từ khi thiên hoàng Hi-ga-si-y-a-ma cử hành năm Trinh Hưởng thứ tư thì bị gián đoạn, mãi tới ngày mười chín, ngay trước ngày hai mươi ba tháng mười một năm Nguyên Văn thứ ba, ngày dựng tấm bảng yết thị về Ta-rô-bê nhà Ka-tsư-ra-y-a, sau năm mươi mốt năm, thiên hoàng Sa-cư-ra-ma-chi mới cử hành lại.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn