Chương 1: Giải thưởng đức hạnh
Chúng tôi vừa qua Gi-do, nơi tôi bị đánh thức vì nghe nhân viên nhà ga hô tên thị trấn, và tôi đang sắp thiu thiu ngủ lại, thì một cú xóc khủng khiếp hất tôi vào người bà béo ngồi đối diện.
Một bánh xe đầu máy đã gãy, và đầu máy nằm vắt ngang đường ray. Toa than và toa hành lý cũng trật bánh, nằm nghiêng bên cạnh cái con vật đang hấp hối ấy. Nó thở khò khè, rên rỉ, rít lên, phì phò, phun phì phì, trông như những con ngựa ngã giữa phố, sườn phập phồng, ngực thở dốc, lỗ mũi bốc khói, cả người run rẩy, nhưng dường như không còn sức gắng gượng chút nào để đứng dậy mà đi tiếp.
Không ai chết, không ai bị thương, chỉ vài người bị bầm dập, vì đoàn tàu chưa kịp lấy lại đà. Và chúng tôi buồn bã nhìn con quái vật sắt to lớn bị què, nó sẽ không kéo chúng tôi đi được nữa và có lẽ còn chắn đường lâu, vì chắc là phải cho gọi một đoàn tàu cứu hộ từ Pa-ri tới.
Lúc ấy là mười giờ sáng, và tôi quyết định ngay là quay về Gi-do ăn trưa.
Vừa đi dọc đường ray, tôi vừa tự nhủ: "Gi-do, Gi-do, mình có quen ai ở đây mà. Ai nhỉ? Gi-do à? Xem nào, mình có một người bạn ở thị trấn này." Bỗng một cái tên bật ra trong trí nhớ: "An-be Ma-răng-bô." Đó là một bạn học cũ, đã ít nhất mười hai năm tôi không gặp, đang làm nghề thầy thuốc ở Gi-do. Anh đã nhiều lần viết thư mời tôi đến chơi. Lần nào tôi cũng hứa mà không giữ lời. Lần này rốt cuộc tôi sẽ nhân dịp mà ghé.
Tôi hỏi người qua đường đầu tiên:
- Ông có biết nhà bác sĩ Ma-răng-bô ở đâu không?
Ông ta trả lời không chút ngần ngừ, với cái giọng kéo dài của dân Noóc-măng-đi:
- Phố Công Chúa.
Quả thật tôi thấy trên cửa ngôi nhà ông chỉ một tấm biển đồng to khắc tên người bạn cũ của tôi. Tôi bấm chuông. Nhưng chị người hầu, một cô gái tóc vàng hoe, cử chỉ chậm chạp, cứ nhắc đi nhắc lại với vẻ ngớ ngẩn:
- Ông ấy không có nhà, ông ấy không có nhà.
Tôi nghe có tiếng dao dĩa cốc chén, bèn gọi to:
- Ê! Ma-răng-bô!
Một cánh cửa mở ra, và một người đàn ông to béo để râu má xuất hiện, vẻ bực bội, tay cầm khăn ăn.
Hẳn là tôi đã chẳng nhận ra anh. Người ta sẽ đoán anh ít nhất cũng bốn mươi lăm tuổi, và chỉ trong một giây, tôi thấy hiện ra cả cuộc sống tỉnh lẻ, cái cuộc sống làm người ta nặng nề, phát phì và già đi. Chỉ trong một thoáng nghĩ, nhanh hơn cả cử chỉ chìa tay ra bắt tay anh, tôi đã biết cuộc đời anh, cách sống của anh, kiểu đầu óc của anh và những lý thuyết của anh về thế giới. Tôi đoán ra những bữa ăn dài đã làm tròn cái bụng anh, những giấc thiu thiu sau bữa tối trong cái uể oải của một cuộc tiêu hoá nặng nề có tưới cô-nhắc, và những cái nhìn lơ đãng ném về phía bệnh nhân trong khi đầu đang nghĩ đến con gà quay đang xoay trên lửa. Những câu chuyện của anh về nấu nướng, về rượu táo, rượu mạnh và rượu vang, về cách nấu món này món nọ và làm sao cho nước sốt sánh đều, tất cả hiện ra trước mắt tôi, chỉ nhờ nhìn đôi má đỏ phị, đôi môi dày nặng, ánh mắt sáng mà đục của anh.
Tôi bảo anh:
- Cậu không nhận ra tớ à. Tớ là Ra-un Ô-béc-tanh đây.
Anh dang rộng tay, suýt nữa thì ôm tôi đến ngạt thở, và câu đầu tiên của anh là:
- Cậu chưa ăn trưa đấy chứ?
- Chưa.
- May quá! Tớ đang ngồi vào bàn, có một con cá hồi suối tuyệt ngon.
Năm phút sau, tôi đã ngồi ăn trưa đối diện anh.
Tôi hỏi anh:
- Cậu vẫn độc thân à?
- Dĩ nhiên rồi!
- Thế ở đây cậu có vui không?
- Tớ chẳng buồn chán, tớ bận rộn. Tớ có bệnh nhân, có bạn bè. Tớ ăn ngon, tớ khoẻ mạnh, tớ thích cười và đi săn. Thế là ổn.
- Cuộc sống ở cái thị trấn nhỏ này không đơn điệu quá à?
- Không đâu, ông bạn, khi người ta biết tìm việc mà làm. Tóm lại, một thị trấn nhỏ cũng như một thành phố lớn. Sự kiện và thú vui ở đây ít đa dạng hơn, nhưng người ta lại coi chúng quan trọng hơn. Quan hệ ở đây ít hơn, nhưng người ta gặp nhau thường xuyên hơn. Khi đã biết hết mọi cửa sổ trong một con phố, thì mỗi cửa sổ lại làm ta bận tâm và tò mò hơn cả một con phố ở Pa-ri.
Một thị trấn nhỏ vui lắm, cậu biết không, vui lắm, vui lắm. Này nhé, cái thị trấn Gi-do này, tớ biết nó như lòng bàn tay, từ khi nó ra đời cho tới bây giờ. Cậu không tưởng tượng nổi lịch sử của nó buồn cười thế nào đâu.
- Cậu là người Gi-do à?
- Tớ á? Không. Tớ là người Gua-nê, thị trấn láng giềng và cũng là kình địch của nó. Gua-nê đối với Gi-do cũng như ông Lu-quy-lút, kẻ sành ăn nhất La Mã, đối với ông Xi-xê-rông, nhà hùng biện lừng danh. Ở đây mọi thứ đều vì vinh quang, người ta gọi là "bọn kiêu ngạo Gi-do". Ở Gua-nê mọi thứ đều vì cái bụng, người ta gọi là "bọn nhai tóp tép Gua-nê". Gi-do khinh Gua-nê, nhưng Gua-nê cười Gi-do. Cái vùng này buồn cười lắm.
Tôi nhận ra mình đang ăn một món thật sự tuyệt hảo, những quả trứng lòng đào bọc trong một lớp thạch thịt ướp hương thảo mộc, để qua đá lạnh.
Tôi chép miệng để lấy lòng Ma-răng-bô:
- Món này ngon thật.
Anh mỉm cười:
- Cần hai thứ: thạch thật ngon, khó làm lắm, và trứng thật ngon. Ôi, trứng ngon, hiếm lắm, lòng đỏ hơi ngả đỏ, đậm đà vô cùng! Tớ có hai cái sân nuôi gia cầm, một để lấy trứng, một để lấy thịt. Tớ nuôi gà đẻ theo một cách đặc biệt. Tớ có ý tưởng của tớ. Trong quả trứng cũng như trong thịt gà, thịt bò hay thịt cừu, trong sữa, trong mọi thứ, người ta tìm thấy và phải nếm ra được cái tinh chất, cái tinh tuý của những thức ăn mà con vật đã ăn trước đó. Người ta sẽ ăn ngon hơn biết bao nếu chịu để tâm đến chuyện ấy hơn!
Tôi cười.
- Thế ra cậu là người sành ăn à?
- Dĩ nhiên rồi! Chỉ có những kẻ ngu mới không sành ăn. Người ta sành ăn như người ta là nghệ sĩ, như người ta có học, như người ta là nhà thơ. Vị giác, ông bạn ạ, là một giác quan tinh tế, có thể hoàn thiện, đáng tôn trọng như con mắt và đôi tai. Thiếu vị giác là bị tước mất một khả năng tuyệt diệu, khả năng phân biệt chất lượng của thức ăn, cũng như người ta có thể bị tước mất khả năng phân biệt giá trị của một cuốn sách hay một tác phẩm nghệ thuật. Là bị tước mất một giác quan thiết yếu, một phần sự ưu việt của con người. Là thuộc vào một trong vô số những hạng người tàn tật, bất hạnh và ngu ngốc làm nên giống nòi chúng ta. Nói tóm lại, là có một cái miệng ngu, như người ta có một đầu óc ngu. Một người không phân biệt được tôm hùm gai với tôm hùm càng, không phân biệt được cá trích, cái giống cá tuyệt vời mang trong mình mọi hương vị của biển cả, với cá thu hay cá tuyết, không phân biệt được hai giống lê ngon khác nhau, thì cũng giống như kẻ lẫn lộn Ban-dắc với Ơ-gien Xuy, một bản giao hưởng của Bét-tô-ven với một bài hành khúc của ông nhạc trưởng trung đoàn, và tượng thần A-pô-lông ở Ben-vê-đe với tượng ông tướng Blăng-mông!
- Ông tướng Blăng-mông là ai thế?
- À, phải rồi, cậu không biết. Nhìn là biết ngay cậu không phải người Gi-do! Ông bạn ạ, lúc nãy tớ đã bảo cậu là người ta gọi dân thị trấn này là "bọn kiêu ngạo Gi-do", và chưa bao giờ có cái biệt danh nào xứng đáng hơn. Nhưng ta ăn trưa đã, rồi tớ vừa dẫn cậu đi thăm thị trấn vừa kể cho cậu nghe.
Thỉnh thoảng anh ngừng nói để chậm rãi uống nửa cốc rượu vang, đặt cốc xuống bàn rồi nhìn nó đầy âu yếm.
Khăn ăn thắt quanh cổ, gò má đỏ ửng, mắt hào hứng, hai chòm râu má xoè ra quanh cái miệng đang hoạt động, trông anh thật buồn cười.
Anh bắt tôi ăn đến tức thở. Rồi khi tôi muốn quay ra ga, anh nắm tay tôi kéo đi khắp phố. Thị trấn có cái vẻ tỉnh lẻ xinh xắn, bên trên là pháo đài của nó, công trình kiến trúc quân sự lạ lùng nhất nước Pháp. Đến lượt nó, thị trấn lại nhìn xuống một thung lũng dài, nơi những con bò Noóc-măng-đi nặng nề gặm cỏ và nhai lại trên đồng.
Ông bác sĩ bảo tôi:
- Gi-do, thị trấn bốn nghìn dân, ở mép tỉnh Ơ-rơ, đã được nhắc đến trong cuốn Ký sự của Giu-li-út Xê-da, mang tên Cửa ngõ Xê-da, rồi biến dần đi qua bao nhiêu lần đọc trại mà thành Gi-do. Tớ sẽ không dẫn cậu đi xem chỗ đóng quân của quân đội La Mã mà dấu vết còn thấy rõ lắm.
Tôi cười và đáp:
- Ông bạn ơi, tớ thấy hình như cậu mắc một chứng bệnh đặc biệt mà cậu, là thầy thuốc, nên nghiên cứu, người ta gọi là bệnh tinh thần gác chuông làng.
Anh dừng phắt lại:
- Tinh thần gác chuông làng, ông bạn ạ, chẳng phải gì khác ngoài lòng yêu nước tự nhiên. Tớ yêu ngôi nhà của tớ, thị trấn của tớ, và mở rộng ra là tỉnh của tớ, vì ở đó tớ còn tìm thấy những thói quen của làng mình. Nhưng nếu tớ yêu biên giới, nếu tớ bảo vệ nó, nếu tớ nổi giận khi láng giềng đặt chân lên đó, thì là vì tớ cảm thấy ngôi nhà của mình đã bị đe doạ, vì cái biên giới mà tớ không biết ấy chính là con đường dẫn đến tỉnh của tớ. Như tớ đây, tớ là người Noóc-măng-đi, một người Noóc-măng-đi thực thụ. Thế mà, dù tớ hận người Đức và muốn trả thù, tớ cũng không ghét họ, không căm họ theo bản năng như tớ căm người Anh, kẻ thù thật sự, kẻ thù truyền kiếp, kẻ thù tự nhiên của người Noóc-măng-đi, vì người Anh đã đi qua mảnh đất tổ tiên tớ sinh sống, đã cướp bóc và tàn phá nó hai mươi lần, và nỗi ghét cái dân tộc xảo trá ấy đã được bố tớ truyền cho tớ cùng với sự sống. Này, tượng ông tướng đây rồi.
- Ông tướng nào?
- Ông tướng Blăng-mông! Bọn tớ cần một bức tượng. Chẳng phải tự dưng mà bọn tớ là bọn kiêu ngạo Gi-do! Thế là bọn tớ khám phá ra ông tướng Blăng-mông. Cậu nhìn tủ kính hiệu sách kia mà xem.
Anh kéo tôi đến trước mặt tiền một hiệu sách, nơi chừng mười lăm cuốn sách bìa vàng, đỏ hay xanh đập vào mắt người qua đường.
Đọc nhan đề, tôi phá lên cười như điên. Nào là "Gi-do, nguồn gốc và tương lai", của một ông vô danh, hội viên nhiều hội học thuật. "Lịch sử Gi-do", của một ông cha xứ. "Gi-do, từ Xê-da đến ngày nay", của một ông chủ đất. "Gi-do và vùng phụ cận", của một ông bác sĩ. "Những vinh quang của Gi-do", của một nhà nghiên cứu.
- Ông bạn ạ, Ma-răng-bô nói tiếp, ở đây không năm nào, không một năm nào, cậu nghe rõ chưa, là không ra một cuốn lịch sử Gi-do mới. Bọn tớ có hai mươi ba cuốn rồi.
- Thế những vinh quang của Gi-do là gì? tôi hỏi.
- Ồ, tớ không kể hết cho cậu đâu, tớ chỉ nói những vinh quang chính thôi. Trước hết bọn tớ có ông tướng Blăng-mông, rồi đến nam tước Đa-vi-li-ê, nhà nghiên cứu gốm sứ lừng danh, người đã thám hiểm Tây Ban Nha và quần đảo Ba-lê-a và đã giới thiệu cho giới sưu tầm những đồ sành sứ Tây Ban Nha gốc Ả Rập tuyệt đẹp. Về văn chương thì có một nhà báo rất có tài, nay đã mất, ông Sác-lơ Bren, còn trong số những người đang sống khoẻ mạnh thì có ông Sác-lơ La-pi-e, chủ bút rất lỗi lạc của tờ Tin tức Ru-ăng, và còn nhiều người khác nữa, nhiều người khác nữa.
Chúng tôi đi dọc một con phố dài, hơi dốc, bị nắng tháng Sáu nung nóng từ đầu đến cuối, nắng đã đuổi người dân vào hết trong nhà.
Bỗng ở đầu kia con phố, một người đàn ông xuất hiện, một gã say rượu đi lảo đảo.
Hắn đi tới, đầu chúi về phía trước, hai tay đung đưa, hai chân mềm nhũn, từng đợt ba, sáu hay mười bước nhanh, sau mỗi đợt lại nghỉ. Khi cái đà ngắn mà mạnh ấy đã đưa hắn ra giữa phố, hắn dừng phắt lại và lắc lư trên hai chân, lưỡng lự giữa cú ngã và một cơn hăng hái mới. Rồi hắn bất thình lình lao đi theo một hướng bất kỳ. Thế là hắn va vào một ngôi nhà, dính sát vào đó như muốn chui vào nhà xuyên qua bức tường. Rồi hắn giật mình quay lại, nhìn về phía trước, miệng há hốc, mắt hấp háy dưới nắng. Rồi bằng một cú ưỡn lưng, hắn gỡ lưng ra khỏi bức tường và lại lên đường.
Một con chó nhỏ màu vàng, một con chó cỏ đói meo, đi theo hắn mà sủa, hắn dừng thì nó dừng, hắn đi thì nó đi.
- Kìa, Ma-răng-bô nói, Chàng Hoa Hồng của bà Uy-xông đấy.
Tôi rất ngạc nhiên và hỏi:
- Chàng Hoa Hồng của bà Uy-xông, cậu nói thế là ý gì?
Ông thầy thuốc bật cười.
- Ồ, đó là cách bọn tớ ở đây gọi những thằng say rượu. Nó bắt nguồn từ một câu chuyện cũ giờ đã thành truyền thuyết, dù nó có thật từ đầu đến cuối.
- Chuyện của cậu có buồn cười không?
- Buồn cười lắm.
- Thế thì kể đi.
- Sẵn lòng. Ngày xưa ở thị trấn này có một bà già, rất đức hạnh và là người che chở cho đức hạnh, tên là bà Uy-xông. Cậu biết đấy, tớ kể cho cậu tên thật chứ không phải tên bịa. Bà Uy-xông đặc biệt chăm lo việc thiện, cứu giúp người nghèo và khuyến khích người xứng đáng. Bà nhỏ người, đi những bước ngắn lon ton, đội một bộ tóc giả bằng lụa đen, kiểu cách, lễ độ, rất thân thiết với Chúa nhân lành mà đại diện là cha Ma-lu. Bà có một nỗi ghê tởm sâu sắc, một nỗi ghê tởm bẩm sinh đối với thói hư tật xấu, nhất là cái thói mà nhà thờ gọi là dâm dục. Chuyện con gái chửa trước khi cưới làm bà phát điên, làm bà tức tối đến mức mất cả bình tĩnh.
Thế rồi đó là thời mà quanh vùng Pa-ri người ta có tục mỗi năm chọn cô gái nết na nhất mà đội cho vòng hoa hồng, gọi là cô Hoa Hồng. Và bà Uy-xông nảy ra ý muốn có một cô Hoa Hồng ở Gi-do.
Bà ngỏ ý với cha Ma-lu, ông lập ngay một danh sách các ứng cử viên.
Nhưng bà Uy-xông có một chị hầu, một chị hầu già tên là Phrăng-xoa-dơ, cũng khó tính y như bà chủ.
Ông linh mục vừa đi khỏi, bà chủ gọi chị hầu đến bảo:
- Này, Phrăng-xoa-dơ, đây là những cô gái mà cha xứ đề cử cho giải đức hạnh. Chị cố dò xem người trong vùng nghĩ gì về họ.
Thế là Phrăng-xoa-dơ lên đường hành quân. Chị thu nhặt mọi lời đồn đại, mọi câu chuyện, mọi lời ra tiếng vào, mọi mối ngờ vực. Để khỏi quên điều gì, chị ghi tất cả vào cùng với khoản chi tiêu trong cuốn sổ chợ, sáng nào cũng đưa cho bà Uy-xông. Bà chủ đặt cặp kính lên cái mũi thon rồi đọc:
Bánh mì, bốn xu.
Sữa, hai xu.
Bơ, tám xu.
Con Man-vi-na Lơ-véc năm ngoái đã hư hỏng với thằng Ma-tuy-ranh Poa-luy.
Một cái đùi cừu, hai mươi lăm xu.
Muối, một xu.
Con Rô-da-li Va-ti-nen bị bà Ô-nê-dim thợ là bắt gặp trong rừng Ri-bu-đê với thằng Xê-de Pi-ê-noa, hôm hai mươi tháng Bảy lúc nhá nhem.
Củ cải, một xu.
Giấm, hai xu.
Muối chua me, hai xu.
Con Giô-dê-phin Đuya-đăng thì người ta không tin là nó đã hư, nhưng mà nó đang thư từ với thằng con nhà Ô-poóc-tanh đi làm ở Ru-ăng, thằng ấy còn gửi xe ngựa trạm biếu nó một cái mũ làm quà.
Không cô nào thoát khỏi cuộc điều tra kỹ lưỡng ấy mà còn nguyên vẹn. Phrăng-xoa-dơ hỏi han tất cả mọi người, hàng xóm, người bán hàng, ông giáo, các bà phước ở trường học, và thu lượm mọi lời đồn nhỏ nhất.
Vì trên đời này chẳng có cô gái nào mà các bà lắm điều không bàn tán, nên trong vùng không tìm ra được một cô gái trẻ nào tránh khỏi một lời nói xấu.
Mà bà Uy-xông lại muốn rằng cô Hoa Hồng của Gi-do, cũng như vợ của Xê-da, phải trong sạch đến mức không ai có thể ngờ vực. Thế là bà buồn bã, tuyệt vọng trước cuốn sổ chợ của chị hầu.
Người ta bèn mở rộng vòng điều tra ra các làng xung quanh. Chẳng tìm được ai.
Người ta hỏi ý kiến ông thị trưởng. Những cô ông đề cử đều trượt cả. Những cô do bác sĩ Bác-bơ-xôn đề cử cũng chẳng thành công hơn, dù ông bảo đảm chính xác theo kiểu khoa học.
Thế rồi một buổi sáng, Phrăng-xoa-dơ đi chợ về, bảo bà chủ:
- Thưa bà, bà xem, nếu bà muốn đội vòng hoa cho ai, thì trong cả vùng chỉ có thằng I-di-đo thôi.
Bà Uy-xông ngồi trầm ngâm.
Bà biết rõ thằng I-di-đo, con trai bà Vióc-gi-ni bán rau quả. Cái sự trong trắng nổi tiếng của nó đã làm vui cả Gi-do từ mấy năm nay, là đề tài đùa cợt trong những câu chuyện của thị trấn và là trò tiêu khiển của các cô gái thích trêu nó. Hơn hai mươi tuổi, to cao, vụng về, chậm chạp và nhút nhát, nó giúp mẹ bán hàng và suốt ngày ngồi trên ghế trước cửa nhặt rau quả.
Nó sợ váy đàn bà đến phát bệnh, sợ đến nỗi hễ có bà khách nào mỉm cười nhìn nó là nó cúi gằm mặt xuống. Và cái tính rụt rè ai cũng biết ấy biến nó thành trò đùa của mọi đứa tinh nghịch trong vùng.
Những lời bạo miệng, những câu đùa tục, những ám chỉ bậy bạ làm nó đỏ mặt nhanh đến nỗi bác sĩ Bác-bơ-xôn đã đặt cho nó biệt danh là cái nhiệt kế đo lòng e thẹn. Nó biết hay không biết nhỉ, hàng xóm, những kẻ ranh mãnh, tự hỏi. Cái điều dường như làm con trai bà Vióc-gi-ni xúc động mạnh đến thế, là cái linh cảm đơn thuần về những bí ẩn xấu hổ mà nó chưa biết, hay là sự phẫn nộ trước những chuyện tầm thường mà tình yêu sai khiến? Lũ nhóc trong vùng chạy qua trước cửa hàng nó, gào lên những lời tục tĩu để xem nó cúi mặt. Các cô gái thích đi qua đi lại trước mặt nó, thì thầm những câu đùa nhả nhớt làm nó phải chui vào nhà. Những cô bạo nhất trêu chọc nó ra mặt, để cười, để đùa, hẹn hò với nó, rủ nó làm đủ thứ chuyện kinh khủng.
Vậy là bà Uy-xông ngồi trầm ngâm.
Hẳn nhiên I-di-đo là một trường hợp đức hạnh đặc biệt, ai cũng biết, không thể chê trách. Không một ai, kể cả những người hoài nghi nhất, những người đa nghi nhất, có thể, hay dám, ngờ rằng I-di-đo đã phạm dù chỉ một lỗi nhỏ nhất với bất cứ luật lệ đạo đức nào. Người ta cũng chưa bao giờ thấy nó vào quán cà phê, chưa bao giờ gặp nó ngoài phố ban đêm. Nó đi ngủ lúc tám giờ và dậy lúc bốn giờ. Nó là một sự hoàn hảo, một viên ngọc.
Thế nhưng bà Uy-xông còn ngần ngừ. Ý nghĩ thay một cô Hoa Hồng bằng một chàng Hoa Hồng làm bà bối rối, làm bà hơi lo, và bà quyết định đi hỏi ý kiến cha Ma-lu.
Cha Ma-lu trả lời:
- Bà muốn khen thưởng cái gì, thưa bà? Là đức hạnh, phải không, chỉ đức hạnh thôi. Thế thì nó là đực hay cái, có quan trọng gì với bà! Đức hạnh là vĩnh cửu, đức hạnh không có tổ quốc, cũng chẳng có giới tính. Nó là Đức Hạnh.
Được khích lệ như thế, bà Uy-xông đi gặp ông thị trưởng.
Ông hoàn toàn tán thành:
- Chúng ta sẽ làm một buổi lễ thật đẹp, ông nói. Và một năm nào khác, nếu tìm được một người đàn bà xứng đáng như I-di-đo, chúng ta sẽ đội vòng hoa cho một người đàn bà. Đó còn là một tấm gương đẹp mà chúng ta nêu cho mấy vùng quanh Pa-ri nữa kia. Đừng hẹp hòi, hãy đón nhận mọi công trạng.
I-di-đo được báo tin, đỏ bừng mặt và có vẻ hài lòng.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn