Chương 1: Phần một. Con sói già của bến cảng
Bầu trời phương nam xanh thẫm vì bụi, đục mờ. Mặt trời nóng bỏng nhìn xuống mặt biển xanh lục như qua một tấm mạng xám mỏng. Nó gần như không in bóng xuống nước, nơi mặt nước bị xé bởi những nhịp mái chèo, chân vịt tàu thuỷ, sống thuyền sắc nhọn của những chiếc thuyền buồm Thổ và đủ thứ tàu bè khác cày ngang dọc trên bến cảng chật chội. Những con sóng biển bị xiềng trong đá hoa cương bị đè bẹp bởi những khối nặng khổng lồ trượt trên lưng chúng, đập vào mạn tàu, vào bờ, đập và rên rỉ, sủi bọt, vấy bẩn đủ thứ rác rưởi.
Tiếng xích neo loảng xoảng, tiếng toa xe chở hàng va nhau ầm ầm, tiếng thét kim loại của những tấm tôn từ đâu rơi xuống mặt đường lát đá, tiếng gỗ đập trầm đục, tiếng xe ngựa lọc cọc, tiếng còi tàu khi thì rít lên chói tai, khi thì rống lên trầm đục, tiếng la của phu bốc vác, thuỷ thủ, lính hải quan, tất cả những âm thanh ấy hoà thành một bản nhạc điếc tai của ngày lao động, nổi loạn lắc lư, đứng thấp trên trời phía trên bến cảng. Từ mặt đất, những làn sóng âm thanh mới cứ dâng lên mãi, khi thì trầm đục, ì ầm, làm rung chuyển nghiệt ngã mọi thứ xung quanh, khi thì gay gắt, ầm vang, xé toạc bầu không khí bụi bặm nóng bức.
Đá hoa cương, sắt, gỗ, mặt đường lát đá của bến cảng, tàu bè và con người, tất cả đều thở bằng những âm thanh hùng mạnh của một bài thánh ca say mê dâng lên thần buôn bán. Nhưng tiếng người, khó khăn lắm mới nghe thấy trong đó, thì yếu ớt và nực cười. Mà chính con người, những kẻ ban đầu đã sinh ra tiếng ồn ấy, cũng nực cười và đáng thương. Những hình người nhỏ bé, bụi bặm, rách rưới, nhanh nhẹn, còng xuống dưới sức nặng của hàng hoá trên lưng, chạy tới chạy lui hối hả giữa những đám mây bụi, giữa biển nóng và biển âm thanh. Họ nhỏ bé không đáng kể so với những khối sắt khổng lồ quanh họ, những đống hàng hoá, những toa xe ầm ầm và tất cả những gì họ đã tạo ra. Cái do họ tạo ra đã biến họ thành nô lệ và làm họ mất hết diện mạo riêng.
Đứng sẵn hơi nước, những con tàu khổng lồ nặng nề rít lên, xì xì, thở dài sâu thẳm, và trong mỗi âm thanh chúng phát ra dường như có một nốt khinh bỉ giễu cợt dành cho những hình người xám xịt, bụi bặm đang bò trên boong chúng, nhồi vào những khoang tàu sâu hoắm sản phẩm lao động nô lệ của mình. Thật buồn cười đến chảy nước mắt những hàng dài phu bốc vác vác trên vai hàng nghìn bao lúa vào những cái bụng sắt của tàu, để kiếm được vài cân chính thứ lúa ấy cho dạ dày mình. Những con người rách rưới, đẫm mồ hôi, đờ đẫn vì mệt, vì ồn, vì nóng, và những cỗ máy hùng mạnh bóng loáng dưới nắng do chính những con người ấy tạo ra, những cỗ máy rốt cuộc vẫn chuyển động không phải nhờ hơi nước, mà nhờ cơ bắp và máu của người tạo ra chúng, trong sự đối chiếu ấy có cả một bài thơ châm biếm tàn nhẫn.
Tiếng ồn đè nặng, bụi làm ngứa mũi, làm loá mắt, cái nóng nướng chín thân thể và làm nó kiệt quệ. Mọi thứ xung quanh đều như căng thẳng, mất kiên nhẫn, sẵn sàng bùng nổ thành một tai hoạ khổng lồ nào đó, một vụ nổ mà sau đó, trong bầu không khí được làm cho tươi mát, người ta sẽ thở thoải mái, nhẹ nhàng, trên mặt đất sẽ ngự trị sự yên tĩnh, còn cái tiếng ồn bụi bặm này, điếc tai, khó chịu, đẩy người ta tới chỗ điên cuồng chán nản, sẽ biến mất, và khi ấy trong thành phố, trên biển, trên trời sẽ trở nên yên tĩnh, trong trẻo, tuyệt vời…
Mười hai tiếng chuông đều đặn, lanh lảnh vang lên. Khi tiếng đồng cuối cùng lặng đi, bản nhạc hoang dại của lao động đã nhỏ dần. Thêm một phút nữa, nó đã thành một tiếng rì rầm trầm đục bất mãn. Bây giờ tiếng người và tiếng sóng vỗ nghe rõ hơn. Đã tới giờ ăn trưa.
Khi những người bốc vác bỏ việc, tản ra khắp bến cảng thành từng nhóm ồn ào, mua đủ thứ đồ ăn của những bà bán hàng rồi ngồi ngay xuống mặt đường lát đá, ở những góc có bóng râm, để ăn trưa, thì Grích-ca Chen-cát xuất hiện. Gã là một con sói già lọc lõi, dân bến cảng ai cũng biết, một tay bợm rượu nặng và một tên trộm khéo léo, gan dạ. Gã đi chân đất, mặc chiếc quần nhung cũ sờn, đầu trần, áo vải hoa bẩn thỉu, cổ áo rách toạc để lộ những cái xương khô khốc góc cạnh bọc trong lớp da nâu. Nhìn mái tóc đen điểm bạc bù xù, nhìn khuôn mặt nhăn nhúm, nhọn hoắt, đầy vẻ ác điểu, là biết gã vừa ngủ dậy. Trên một bên ria màu nâu của gã còn vướng một cọng rơm, một cọng rơm khác mắc trong đám râu lởm chởm ở má trái đã cạo, còn sau tai gã giắt một cành đoạn nhỏ vừa ngắt.
Cao lêu nghêu, xương xẩu, hơi gù, gã chậm rãi bước trên đá, đảo cái mũi khoằm như mỏ chim săn mồi, ném quanh mình những cái nhìn sắc lẹm, đôi mắt xám lạnh lẽo ánh lên, tìm ai đó giữa đám phu bốc vác. Bộ ria nâu dày và dài của gã chốc chốc lại rung lên như ria mèo, còn hai bàn tay vòng ra sau lưng xoa vào nhau, những ngón tay dài, cong, quặp, xoắn lấy nhau bồn chồn. Ngay ở đây, giữa hàng trăm kẻ lang thang gai góc như gã, gã vẫn lập tức gây chú ý bởi vẻ giống con diều hâu thảo nguyên, bởi cái gầy guộc của loài săn mồi, và cái dáng đi như đang nhắm đích, nhìn bề ngoài thì êm ả và thong thả, nhưng bên trong thì hăm hở và tinh tường như đường bay của chính loài chim săn mồi mà gã gợi nhớ.
Khi gã đi ngang một nhóm phu bốc vác lang thang đang ngồi trong bóng râm dưới đống giỏ than, một gã trai chắc nịch đứng dậy đón, mặt ngờ nghệch loang lổ những vết đỏ tía, cổ đầy vết cào, có lẽ vừa bị đánh. Hắn đứng dậy đi cạnh Chen-cát, nói khẽ:
— Bên hải quân phát hiện mất hai kiện vải… Họ đang lùng.
— Thế à? Chen-cát hỏi, điềm tĩnh đưa mắt đo hắn từ đầu tới chân.
— Thế à cái gì? Họ đang lùng, thế thôi.
— Họ hỏi tôi, nhờ tôi giúp tìm à?
Rồi Chen-cát mỉm cười nhìn về phía cái kho hàng của Hạm đội Tình nguyện cao sừng sững.
— Đi chết đi!
Gã kia quay trở lại.
— Ê, khoan đã! Ai trang điểm cho mày thế này? Xem kìa, họ làm hỏng cả cái biển hiệu… Mày có thấy thằng Mít-ca ở đây không?
— Lâu rồi không thấy! Gã kia hét lại, đi về phía đám bạn.
Chen-cát đi tiếp, ai gặp gã cũng chào như chào người quen biết rõ. Nhưng gã, vốn luôn vui vẻ và chua cay, hôm nay rõ ràng không được vui, đáp lại những lời hỏi han cụt lủn và gay gắt.
Từ đâu sau đống hàng, một người lính gác hải quan hiện ra, xanh thẫm, bụi bặm, thẳng như ngọn giáo. Ông ta chắn đường Chen-cát, đứng trước mặt gã trong tư thế thách thức, tay trái nắm chuôi dao găm, tay phải định túm cổ áo Chen-cát.
— Đứng lại! Đi đâu đấy?
Chen-cát lùi lại một bước, ngước mắt nhìn người lính gác, cười khô khốc.
Khuôn mặt đỏ, hiền lành mà ranh mãnh của người lính cố làm ra vẻ dữ tợn. Để thế, nó phồng lên, tròn vo, đỏ tía, nhướng mày, trợn mắt, trông rất buồn cười.
— Đã bảo mày cấm vào bến cảng, tao bẻ gãy sườn bây giờ! Thế mà mày lại vào? Người lính gác quát dữ dội.
— Chào ông Xê-mi-ô-nứt! Lâu lắm rồi ông với tôi mới gặp nhau đấy, Chen-cát điềm nhiên chào và chìa tay ra.
— Cả đời không gặp mày càng hay! Đi đi, đi đi!…
Nhưng Xê-mi-ô-nứt vẫn bắt bàn tay chìa ra.
— Ông nói tôi nghe này, Chen-cát tiếp, không buông bàn tay Xê-mi-ô-nứt khỏi những ngón tay quặp của mình, lắc lắc nó một cách thân mật suồng sã. Ông có thấy thằng Mít-ca không?
— Mít-ca nào? Tao chẳng biết Mít-ca nào hết! Đi đi, anh bạn, không thì thằng coi kho thấy, nó sẽ cho mày…
— Thằng tóc đỏ, đứa lần trước làm với tôi trên tàu “Cô-xtơ-rô-ma” ấy, Chen-cát vẫn khăng khăng.
— Đứa ăn cắp cùng với mày, nói thế mới đúng! Người ta chở thằng Mít-ca của mày vào nhà thương rồi, bị thỏi gang đè giập chân. Đi đi, anh bạn, khi người ta còn nói tử tế, đi đi, không thì tao tống cổ mày ra!…
— A ha, thế đấy! Thế mà ông bảo không biết Mít-ca… Ông biết đấy chứ. Sao hôm nay ông khó tính thế, ông Xê-mi-ô-nứt?…
— Thôi, mày đừng có nói lấp liếm, đi đi!…
Người lính gác bắt đầu nổi cáu, nhìn quanh, cố giật tay mình ra khỏi bàn tay rắn chắc của Chen-cát. Chen-cát điềm tĩnh nhìn ông ta từ dưới đôi lông mày rậm, không buông tay, nói tiếp:
— Ông đừng giục tôi. Tôi nói chuyện với ông cho thoả rồi tôi đi. Nào, kể xem ông sống thế nào?… Vợ con mạnh khoẻ cả chứ?
Rồi mắt loé sáng, nhe răng cười chế giễu, gã nói thêm:
— Tôi cứ định tới chơi nhà ông mà chẳng có thời gian, mải uống quá…
— Thôi, thôi, mày bỏ cái trò ấy đi! Mày đừng có đùa, đồ quỷ xương xẩu! Tao nói thật đấy… Hay mày định đi ăn cướp nhà cửa, đường phố rồi?
— Để làm gì? Ở đây cũng đủ của cho cả đời ông với tôi rồi. Thật đấy, đủ mà, ông Xê-mi-ô-nứt! Nghe nói ông lại xoáy được hai kiện vải à?… Coi chừng đấy ông Xê-mi-ô-nứt, cẩn thận vào! Đừng để bị tóm đấy nhé!…
Xê-mi-ô-nứt nổi điên run lên, nước bọt bắn tung toé, cố nói một điều gì đó. Chen-cát buông tay ông ta ra, thản nhiên sải đôi chân dài quay trở ra cổng bến cảng. Người lính gác chửi bới om sòm, đi theo sau.
Chen-cát vui lên. Gã khe khẽ huýt sáo qua kẽ răng, đút tay vào túi quần, chậm rãi bước đi, ném sang phải sang trái những câu đùa, câu cười cợt châm chọc. Người ta cũng đáp lại gã y như thế.
— Này Grích-ca, xem quan trên bảo vệ mày chu đáo chưa kìa! Ai đó trong đám phu bốc vác đã ăn xong đang nằm dài trên đất nghỉ ngơi gọi lên.
— Tao đi chân đất, nên ông Xê-mi-ô-nứt trông chừng kẻo tao giẫm phải đinh, Chen-cát đáp.
Họ tới cổng. Hai người lính sờ nắn khắp người Chen-cát rồi khẽ đẩy gã ra đường.
Chen-cát băng qua đường, ngồi lên một cái cột mốc trước cửa quán rượu. Từ cổng bến cảng, một đoàn xe chở hàng ầm ầm chạy ra. Đón đầu chúng là những chiếc xe không, người xà ích nảy tưng tưng trên xe. Bến cảng phun ra tiếng sấm gầm rú và bụi cay xè…
Giữa cảnh hỗn loạn điên cuồng ấy, Chen-cát thấy mình khoẻ khoắn tuyệt vời. Phía trước đang mỉm cười với gã một món kiếm khá, cần ít sức nhưng nhiều khéo léo. Gã tin mình đủ khéo léo, và nheo mắt mơ màng sáng mai sẽ ăn chơi thế nào, khi trong túi đã có những tờ giấy bạc… Gã nhớ tới thằng bạn Mít-ca, đêm nay nó sẽ rất có ích nếu không gãy chân. Chen-cát chửi thầm, nghĩ rằng một mình không có Mít-ca, có khi không xoay xở nổi. Đêm nay sẽ ra sao đây?… Gã nhìn lên trời, nhìn dọc phố.
Cách gã chừng sáu bước, bên lề đường, trên mặt đá lát, tựa lưng vào một cái cột mốc, có một chàng trai trẻ ngồi, mặc áo vải sọc xanh, quần cùng loại, đi giày cói, đội cái mũ cát-két màu hung đã rách. Cạnh anh là một cái tay nải nhỏ và một lưỡi hái không cán, bọc trong một bó rơm vặn thừng buộc dây cẩn thận. Chàng trai vai rộng, chắc nịch, tóc vàng hoe, mặt rám nắng dạn gió, đôi mắt xanh to nhìn Chen-cát đầy tin cậy và hiền lành.
Chen-cát nhe răng, thè lưỡi, làm một cái mặt khủng khiếp, trợn mắt nhìn chằm chằm vào anh.
Chàng trai thoạt đầu ngơ ngác chớp mắt, rồi bỗng phá lên cười, vừa cười vừa kêu: “Ôi, cái lão kỳ quặc!” Rồi gần như không đứng dậy, anh vụng về lăn từ cột mốc của mình sang cột mốc của Chen-cát, lôi cái tay nải trên bụi, gót lưỡi hái gõ lách cách trên đá.
— Sao, anh ăn chơi ra trò rồi hả!… Anh nói với Chen-cát, giật giật ống quần gã.
— Có chuyện đấy, thằng nhãi ạ, có chuyện như thế đấy! Chen-cát mỉm cười thú nhận. Gã thích ngay chàng trai khoẻ mạnh hiền lành có đôi mắt trong sáng như trẻ con này. Đi cắt cỏ về à?
— Thì đấy!… Cắt một dặm được một xu. Làm ăn tệ lắm! Người đông như kiến! Đám dân đói kéo tới, hạ giá xuống, chẳng muốn nhận nữa. Ở Cu-ban người ta trả sáu hào. Thế đấy!… Nghe nói trước kia giá là ba rúp, bốn, năm rúp cơ!…
— Trước kia!… Trước kia, chỉ cần được nhìn mặt một người Nga thôi, ở đó người ta đã trả ba rúp. Mười năm trước tôi kiếm ăn chính bằng nghề ấy. Tới một làng Cô-dắc, bảo tôi là người Nga đây! Thế là người ta nhìn ngay, sờ nắn, trầm trồ, rồi nhận lấy ba rúp! Lại còn cho uống, cho ăn. Muốn ở bao lâu thì ở!
Chàng trai nghe Chen-cát nói, lúc đầu há hốc miệng, khuôn mặt tròn hiện vẻ thán phục ngơ ngác, nhưng rồi hiểu ra gã rách rưới nói dối, liền chép miệng, cười ha hả. Chen-cát vẫn giữ vẻ mặt nghiêm trang, giấu nụ cười trong bộ ria.
— Cái lão này, nói cứ như thật, mà tôi nghe cũng tin… Không, thề có Chúa, trước kia ở đó…
— Thì tôi đang nói gì? Thì tôi cũng nói là trước kia ở đó…
— Thôi đi!… Chàng trai khoát tay. Anh là thợ giày à? Hay thợ may?… Anh ấy?
— Tôi ấy à? Chen-cát hỏi lại, rồi ngẫm nghĩ một lát mới đáp: Tôi là dân chài…
— Dân chài à! Ra thế! Vậy anh đánh cá à?…
— Sao lại cá? Dân chài ở đây đâu chỉ bắt cá. Phần nhiều là vớt người chết đuối, neo cũ, tàu đắm, đủ thứ! Có những cái cần câu chuyên làm việc ấy…
— Nói dối, nói dối!… Chắc là dân chài kiểu hát về mình thế này:
Chúng ta quăng lưới đánh cá
Trên những bờ khô cong,
Trong những kho, những buồng chứa lúa!…
— Thế cậu từng gặp những người như thế chưa? Chen-cát hỏi, cười khẩy nhìn anh.
— Chưa, gặp ở đâu được! Có nghe nói…
— Cậu thích không?
— Họ ấy à? Thích chứ!… Cũng được đấy, những tay ấy, tự do, phóng khoáng…
— Tự do thì cậu được cái gì?… Cậu yêu tự do à?
— Thì sao lại không? Mình làm chủ mình, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm… Còn gì bằng! Nếu biết giữ mình cho nề nếp, trên cổ chẳng phải đeo đá, thì là nhất rồi! Cứ thế mà vui chơi tuỳ ý, chỉ cần nhớ tới Chúa thôi…
Chen-cát khinh bỉ nhổ toẹt, quay mặt đi khỏi chàng trai.
— Như việc của tôi bây giờ đây… chàng trai nói. Bố tôi mất rồi, nhà thì nghèo, mẹ già, đất bị hút kiệt màu, tôi phải làm gì đây? Phải sống. Nhưng sống thế nào? Chẳng biết. Tôi sẽ đi ở rể một nhà khá giả. Thì cũng được. Giá mà người ta chia phần cho con gái!… Đâu có, lão bố vợ quỷ sứ sẽ không chia. Thế là tôi phải làm quần quật cho lão… lâu lắm… Hàng năm trời! Anh xem đấy, chuyện là thế đấy! Giá mà tôi kiếm được độ trăm rưỡi rúp, là tôi đứng ngay được trên đôi chân mình, rồi lão An-típ ấy à, này, ngậm đi! Có muốn chia phần cho con Mác-pha không? Không à? Thì thôi! Nhờ trời, trong làng đâu chỉ có mỗi nó là con gái. Thế là tôi sẽ hoàn toàn tự do, tự mình làm chủ mình… Ừ đấy!
Chàng trai thở dài.
— Còn bây giờ thì chẳng làm được gì khác ngoài đi ở rể. Tôi đã nghĩ: này, mình đi Cu-ban, vớ lấy hai trăm rúp, thế là xong! Thành ông chủ!… Thế mà không ăn thua. Thôi thì đi làm thuê… Tự làm ăn thì tôi chẳng bao giờ ngóc đầu lên được! Ê hê hê!…
Chàng trai rất không muốn đi ở rể. Mặt anh thậm chí xịu xuống buồn bã. Anh nặng nề nhấp nhổm trên mặt đất.
Chen-cát hỏi:
— Thế giờ cậu đi đâu?
— Thì đi đâu? Tất nhiên là về nhà.
— Ấy, anh bạn, tôi đâu có biết, có khi cậu định sang Thổ Nhĩ Kỳ.
— Sang Thổ!… Chàng trai kéo dài giọng. Người có đạo ai lại sang đó? Anh nói buồn cười thế!…
— Thằng ngốc! Chen-cát thở dài, lại quay mặt đi khỏi người đối thoại.
Chàng trai quê khoẻ mạnh này đang khơi dậy điều gì đó trong gã…
Một cảm giác bực bội mơ hồ, chầm chậm chín dần, đang cựa quậy đâu đó tận sâu thẳm, làm gã không tập trung suy tính được việc phải làm đêm nay.
Chàng trai bị chửi lẩm bẩm gì đó, thỉnh thoảng liếc nhìn gã lang thang. Hai má anh phồng lên buồn cười, môi trề ra, đôi mắt nheo lại chớp chớp nhiều và buồn cười quá. Rõ ràng anh không ngờ câu chuyện với gã rách rưới có ria này lại kết thúc nhanh và tức tối như thế.
Gã rách rưới chẳng để ý tới anh nữa. Gã trầm ngâm huýt sáo, ngồi trên cột mốc, lấy gót chân trần bẩn thỉu gõ nhịp.
Chàng trai muốn trả đũa gã.
— Này, ông dân chài! Ông có hay say sưa không? Anh vừa mở miệng thì cùng lúc ấy ông dân chài quay phắt mặt lại phía anh, hỏi:
— Nghe này, thằng nhãi! Đêm nay có muốn làm việc với tao không? Nói nhanh lên!
— Làm việc gì? Chàng trai hỏi lại, đầy ngờ vực.
— Thì việc gì!… Tao bảo gì làm nấy… Đi đánh cá. Mày chèo thuyền…
— Thế à… Thì sao? Chẳng sao. Làm thì làm được. Có điều… đừng để dính vào chuyện gì với anh. Anh lạ lùng quá… tối tăm khó hiểu lắm…
Chen-cát cảm thấy như có cái gì bỏng rát trong ngực, gã nói khẽ, giọng giận lạnh lùng:
— Mày đừng có nói những điều mày không hiểu. Tao phang cho một cái vào sọ, rồi trong đó sẽ sáng ra…
Gã nhảy khỏi cột mốc, tay trái giật bộ ria, tay phải nắm lại thành nắm đấm rắn chắc gân guốc, mắt loé lên.
Chàng trai sợ. Anh vội nhìn quanh, rụt rè chớp mắt, cũng nhảy dựng dậy. Hai người đo nhau bằng mắt, im lặng.
— Sao? Chen-cát hỏi gay gắt.
Gã sôi sục và run lên vì bị xúc phạm bởi con bê non này, kẻ mà lúc nói chuyện gã còn khinh, giờ thì lập tức căm ghét, vì nó có đôi mắt xanh trong trẻo, khuôn mặt rám nắng khoẻ mạnh, đôi bàn tay ngắn rắn chắc, vì đâu đó nó có một ngôi làng, trong làng có ngôi nhà, vì một người nông dân khá giả mời nó về làm rể, ghét vì cả cuộc đời đã qua và cuộc đời sắp tới của nó, mà ghét nhất là vì nó, đứa trẻ con này so với gã, Chen-cát, lại dám yêu tự do, thứ mà nó chẳng biết giá trị và cũng chẳng cần tới. Bao giờ cũng khó chịu khi thấy một người mà ta coi là tồi hơn, thấp hơn mình lại yêu hay ghét đúng cái thứ ta yêu ta ghét, và như thế là trở nên giống ta.
Chàng trai nhìn Chen-cát và cảm thấy trong gã một ông chủ.
— Tôi thì… không phải không muốn… anh nói. Tôi đang đi tìm việc mà. Làm cho ai thì cũng thế, cho anh hay cho người khác. Tôi chỉ nói vậy vì trông anh chẳng giống người lao động, rách rưới quá cơ… Nhưng tôi biết chuyện ấy ai chẳng có thể gặp. Lạy Chúa, tôi gặp bợm rượu thiếu gì! Ôi, nhiều lắm!… mà còn chẳng như anh.
— Thôi được, được! Đồng ý không? Chen-cát đã dịu giọng hỏi lại.
— Tôi à? Đi thì đi!… Tôi rất sẵn lòng! Anh nói giá đi.
— Giá thì tuỳ việc. Việc thế nào. Mẻ cá thế nào… Có thể được năm rúp. Hiểu chưa?
Nhưng giờ chuyện đã dính tới tiền, mà ở đây người nông dân muốn chính xác, và đòi người thuê mình cũng chính xác như thế. Trong chàng trai lại bùng lên sự ngờ vực và nghi ngại.
— Thế thì không hợp với tôi đâu, anh ạ!
Chen-cát nhập vai:
— Đừng nói nữa, khoan đã! Ta vào quán!
Thế là hai người sánh vai nhau đi trên phố, Chen-cát với vẻ mặt quan trọng của ông chủ, vừa đi vừa xoắn ria, còn chàng trai thì với vẻ sẵn sàng phục tùng hoàn toàn, nhưng vẫn đầy ngờ vực và sợ hãi.
— Mày tên gì? Chen-cát hỏi.
— Ga-vri-la! Chàng trai đáp.
Khi họ vào một quán rượu bẩn thỉu ám khói, Chen-cát tới quầy, với giọng thân mật của khách quen, gọi một chai rượu, canh bắp cải, thịt rán, chè, và kể hết những món cần rồi, gã ném gọn một câu cho người đứng quầy: “Ghi nợ tất!” Người đứng quầy lặng lẽ gật đầu. Ngay lúc ấy, Ga-vri-la thấy đầy lòng kính trọng ông chủ của mình, người mặc dù trông như thằng lừa đảo mà lại có tiếng tăm và được tin cậy đến thế.
— Nào, giờ mình ăn tí gì rồi nói chuyện cho đàng hoàng. Mày cứ ngồi đây, tao đi đằng này một tí.
Gã đi khỏi. Ga-vri-la nhìn quanh. Quán nằm dưới tầng hầm, ẩm thấp, tối tăm, đầy một mùi ngột ngạt của rượu khê, khói thuốc lá, hắc ín, và một mùi gì đó hăng hắc nữa. Đối diện Ga-vri-la, ở bàn khác, có một người say mặc đồ thuỷ thủ, râu đỏ, người đầy bụi than và hắc ín. Ông ta lầm rầm, chốc chốc lại nấc, một bài hát toàn những chữ đứt đoạn, gãy vụn, lúc thì rít lên ghê sợ, lúc thì khàn đặc trong cổ họng. Rõ ràng ông ta không phải người Nga.
Ngồi sau ông ta là hai người đàn bà Môn-đa-vi, rách rưới, tóc đen, rám nắng, cũng đang ồ ồ hát bằng giọng say.
Rồi từ bóng tối hiện ra thêm đủ thứ hình người khác, ai cũng bù xù lạ lùng, ai cũng ngà ngà, la lối, bồn chồn…
Ga-vri-la thấy rợn. Anh muốn ông chủ quay lại thật nhanh. Tiếng ồn trong quán hoà thành một nốt duy nhất, và anh có cảm giác như có con vật khổng lồ nào đó đang gầm gừ, nó có hàng trăm giọng khác nhau, đang bực bội mù quáng cố lao ra khỏi cái hố đá này mà không tìm được lối thoát ra tự do… Ga-vri-la cảm thấy có cái gì đó làm say sưa, nặng nề đang ngấm vào người mình, làm đầu anh quay cuồng, mắt anh mờ đi, đôi mắt vừa tò mò vừa sợ hãi đảo khắp quán…
Chen-cát quay lại, hai người bắt đầu ăn uống, trò chuyện. Tới chén thứ ba, Ga-vri-la đã say. Anh thấy vui, muốn nói điều gì đó dễ nghe với ông chủ mình, con người tuyệt vời đã đãi anh ăn ngon thế. Nhưng những lời lẽ dâng lên cổ anh từng đợt sóng lại chẳng hiểu sao không ra được khỏi cái lưỡi bỗng nặng trĩu.
Chen-cát nhìn anh, cười giễu cợt, nói:
— Say mèm rồi!… Ê hê, đồ bã! Mới có năm chén!… Thế thì làm việc thế nào đây?…
— Anh ơi!… Ga-vri-la lắp bắp. Đừng lo! Tôi sẽ chiều anh!… Cho tôi hôn anh một cái!… Nhé?…
— Thôi, thôi!… Đây, nốc thêm chén nữa!
Ga-vri-la uống, rồi tới mức mọi thứ trong mắt anh bắt đầu chao đảo thành những đợt sóng đều đều. Cái ấy khó chịu, làm anh buồn nôn. Mặt anh ngây ra một vẻ hân hoan ngốc nghếch. Cố nói điều gì, anh chép môi buồn cười rồi ú ớ. Chen-cát chăm chú nhìn anh, như đang nhớ điều gì đó, xoắn ria, vẫn cười mà u ám.
Còn quán rượu thì gầm lên tiếng ồn say sưa. Người thuỷ thủ râu đỏ đã ngủ, chống khuỷu tay lên bàn.
— Nào, đi thôi! Chen-cát nói, đứng dậy.
Ga-vri-la cố nhổm lên nhưng không nổi, chửi một câu thật to, rồi cười cái cười vô nghĩa của người say.
— Say nhừ rồi! Chen-cát nói, lại ngồi xuống ghế đối diện anh.
Ga-vri-la cứ cười ha hả, đôi mắt đờ đẫn nhìn ông chủ. Còn gã thì nhìn anh chăm chú, tinh tường và trầm ngâm. Gã thấy trước mặt mình một con người mà cuộc đời đã sa vào nanh vuốt sói của gã. Gã, Chen-cát, thấy mình có sức xoay nó thế này thế kia. Gã có thể bẻ nó ra như bẻ một quân bài, cũng có thể giúp nó đứng vững trong cái khuôn khổ nông dân bền chắc. Cảm thấy mình là chủ của một người khác, gã nghĩ rằng chàng trai này sẽ chẳng bao giờ phải uống cạn một chén đắng như cái chén số phận đã bắt gã, Chen-cát, phải uống… Và gã vừa ghen tị vừa thương xót cho cuộc đời trẻ trung ấy, vừa giễu cợt nó, lại vừa buồn cho nó, khi hình dung rằng nó có thể còn rơi vào những bàn tay như tay gã… Rốt cuộc mọi cảm xúc trong Chen-cát hoà làm một, một thứ tình cảm như của người cha, của người chủ nhà. Thằng bé đáng thương, mà gã cũng cần nó. Thế là Chen-cát xốc nách Ga-vri-la, dùng đầu gối khẽ đẩy anh từ phía sau, dìu ra sân sau của quán, đặt anh nằm xuống đất trong bóng râm của đống củi, còn mình thì ngồi bên cạnh, châm tẩu. Ga-vri-la cựa quậy một lúc, ú ớ, rồi ngủ thiếp đi.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn