Phần 1
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi giời. Có hề gì? giời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai. Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ-đại. Nhưng cả làng Vũ-đại, ai cũng tự nhủ: « Chắc nó trừ mình ra! » Không ai lên tiếng cả. Tức thật! tức thật! ồ! thế này thì tức thật! tức chết đi được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn. Nhưng cũng không ai ra điều. Mẹ kiếp! thế thì có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông-nỗi này? A hà! phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra thằng Chí-Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí-Phèo. Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí-Phèo? Có mà giời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ-đại cũng không ai biết...
Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương, đã thấy hắn trần-truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên một cái lò gạch bỏ không; anh ta rước lấy và đem cho một người đàn bà góa mù. Người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con, và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ. Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bây giờ là cụ bá Kiến, ăn tiên-chỉ làng. Hình như có mấy lần bà ba nhà ông lý, — còn trẻ lắm mà lại cứ hay ốm lửng — bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy. Người ta bảo ông lý ra đình thì hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà thì lại sợ cái bà ba còn trẻ này. Người bà ấy phốp pháp, má bà ấy hây hây, mà ông lý thì lại hay đau lưng lắm; những người có bệnh đau lưng hay sợ vợ mà chúa đời là khỏe ghen. Có người bảo ông lý ghen với anh canh-điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói. Có người thì lại bảo anh canh-điền ấy được bà ba — quyền thu quyền bổ trong nhà — tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người nói một cách chẳng biết đâu mà lần, chỉ biết có một hôm Chí bị người ta giải huyện rồi nghe đâu phải đi ở tù. Không biết tù mấy năm, nhưng hắn biệt tăm đến bẩy, tám năm. Rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần về. Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng-cá! cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rắn cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh ra, đầy những nét chàm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!
Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà bá Kiến, gọi tận tên tục ra mà chửi. Cụ bá không có nhà. Thấy bộ-điệu hung-hăng của hắn, bà cả dừa bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chẳng. Mắc cái phải cái thằng liều-lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại nhăm nhăm cầm cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả... Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó có chửi thì tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe! Thành thử chỉ có ba con chó ra giây điều. Ba con chó dữ với một thằng say rượu!... thật là ầm ỹ! Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả: xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi người ta, bây giờ họ mới được nghe người ta chửi lại cả nhà cụ bá. Mà chửi mới sướng miệng làm sao! mới ngoa-ngoắt làm sao! Họ bảo nhau: Phen này cha con thằng bá Kiến đố còn dám vác mặt đi đâu nữa! mồ mả tổ tiên đến lộn lên mất! Cũng có người hiền-lành hơn thì bảo: « Phúc đời nhà nó, chắc ông lý không có nhà... » Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ bá, nổi tiếng là hách dịch, coi người như rơm như rác. Phải, ông lý Cường thử có nhà xem nào! Quả nhiên, họ nói có sai đâu! Đấy, có tiếng người nói sang sảng quát: « Mày muốn lôi thôi gì? Cái thằng không cha không mẹ này! Mày muốn lôi thôi cái gì?... » Đã bảo mà! cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường. Lý Cường đã về! lý Cường đã về! phải biết... a ha!.. Một cái tát rất kêu. Ồ! cái gì thế này?.. Tiếng đấm, tiếng đá nhau bình bịch. Thôi, cứ gọi là tan xương!.. Bỗng « choang » một cái: thôi, phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng... Ồ hắn kêu! hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng. Ồ hắn kêu!
— Ối làng nước ôi! cứu tôi với... Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!...
Và họ thấy Chí-phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào mặt. Máu ra loe loét trông gớm quá! Mấy con chó xông xáo quanh hắn, xủa rất hăng. Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn và cười nhạt, cười khinh bỉ. Hừ! ngỡ là gì, chẳng hóa ra nằm vạ! thì ra hắn định đến đây nằm vạ.
Người ta tuốn đến xem. Mấy cái ngõ tối xung quanh đùn ra biết bao nhiêu là người! Thật ồn ào như chợ. Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá, vững dạ vì có anh Lý, cũng xưng xỉa ra chửi góp. Thật ra, các bà muốn xem Chí-Phèo làm ra sao; không khéo nó cố ý gieo vạ cho cụ ông phen này...
Nhưng kìa cụ ông đã về. Cụ cất tiếng rất sang hỏi: « Cái gì mà đông thế này? » Chỗ này « lạy cụ, » chỗ kia « lậy cụ », người ta kính cẩn đứng giãn ra, và Chí-Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích, rên khe khẽ như gần chết.
Thoáng nhìn qua, cụ đã hiểu cơ sự rồi. Làm lý trưởng rồi chánh-tổng, bây giờ lại đến lượt con cụ làm lý-trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì. Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng:
— Cáe bà đi vào nhà; đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
— Cả các ông, các bà nữa; về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại đông thế này?
Không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Vì nể cụ Bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi; ai dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ lại triệu mình đi làm chứng! Sau còn trơ lại Chí-Phèo và cha con cụ Bá. Bấy giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
— Anh Chí ơi! sao anh lại làm ra thế?
Chí-Phèo lim rim mắt, rên lên:
— Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù nữa chưa biết chừng.
Cụ Bá cười nhạt, nhưng tiếng cười ròn-rã lắm — người ta bảo cụ hơn người cũng chỉ bởi cái cười:
— Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì anh mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không?
Rồi đổi giọng, cụ thân-mật hỏi:
— Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
Thấy Chí-Phèo không nhúc-nhích, cụ tiếp luôn:
— Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì, ta nói chuyện tử-tế với nhau. Cần gì mà phải làm thanh động lên thế, người ngoài biết, mang tiếng cả.
Rồi vừa xốc Chí-Phèo, cụ vừa phàn-nàn:
— Khổ quá! giá có tôi ở nhà thì có đâu nên nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ. Chỉ tại thằng lý Cường nóng tính không nghĩ trước nghĩ sau. Ai, chứ anh với nó còn có họ kia đấy.
Chí-Phèo chả biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi. Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên. Cụ Bá biết rằng mình đã thắng, đưa mắt nháy con một cái, quát:
— Lý Cường đâu! tội mày đáng chết. Không bảo người nhà đun nước, mau lên!
Cụ giắt Chí-Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu đi; hắn chỉ cố khập-khiễng cái chân như bị què. Là vì lúc ấy trong người hắn rượu đã hơi nhạt rồi. Không còn kêu gào chửi bới; và không còn nghe kêu gào chửi bới, hắn thấy hình như không hăng-hái nữa. Sự ngọt-ngào làm mềm nhũn. Vả lại, những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hắn hình như trơ trọi. Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy. — cái sợ xa xôi của ngày xưa, — hắn thấy hắn quả là táo bạo. Không táo bạo mà dám gây sự với cha con bá Kiến, bốn đời làm tổng lý. Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai. Hắn là cái ông gì ở làng này? không vây cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có, đến bố mẹ cũng không... Ờ, thế mà dám độc lực chọi nhau với lý-trưởng, chánh-tổng, bá-hộ, tiên-chỉ làng Vũ-đại, chánh hội đồng kỳ-hào, huyện hào, Bắc-kỳ nhân dân đại-biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện. Thử hỏi đã có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn xuất đinh này làm được thế? Kể làm rồi có chết cũng là cam tâm. Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào xơi nước. Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào. Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này chả lại lừa hắn vào nhà rồi lôi thôi? Ờ mà thật, có thể như thế lắm! Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng đồ bạc ra khoác và cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên, rồi cột cổ hắn vào, trần cho một trận om xương, rồi vu cho là ăn cướp thì làm sao? Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đớn cái nước gì mà chịu lép như trấu thế? Thôi dại gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lại lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào. Nhưng nghĩ ngợi một tý, hắn lại bảo: kêu cũng không nước gì! Lão bá vừa nói một tiếng, bao nhiêu người đã ai về nhà nấy, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có còn ai ra? Vả lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt thêm mấy nhát thì cũng đau. Thôi cứ vào!... Vào thì vào, cần quái gì! Muốn đập đầu thì vào ngay giữa nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài. Cùng lắm, nó có rở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù. Ở tù thì hắn coi là thường. Thôi cứ vào...
Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả. Bá Kiến quả có ý muốn giàn xếp cùng hắn thật. Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc đời. Thứ nhất sợ kẻ anh-hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân. Chí-Phèo không anh-hùng, nhưng nó là cái thằng liều-lĩnh. Liều-lĩnh thì ai còn thèm chấp! Thế nào là mềm nắn, rắn buông? Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm. Cụ vẫn bảo lý Cường như thế đấy. Vũ-dũng như hắn mà làm được lý-trưởng là nhờ có cụ. Cụ mà chết đi rồi, « chúng nó » lại không cho ăn bùn.
Tiếng vậy, làm tổng lý không phải là việc dễ. Ở cái làng này, dân quá hai nghìn, xa phủ, xa tỉnh, kể ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ làm được lý-trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét Hồi năm nọ, một thầy địa-lý qua đây có bảo đất làng này vào cái thế « quần ngư tranh thực », vì thế mà bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi. Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bẩy bối, bè nào cũng muốn ăn; ngoài mặt thì tử-tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ. Ngay cái thằng Chí-Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ẩy đấy? Nếu cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện, có khi tốn tiền: cái nghề quan, bám thằng có tóc, ai bám thằng trọc đầu? Bỏ tù nó thì dễ rồi; nhưng bỏ tù nó, cũng có ngày nó được ra; liệu lúc ấy nó có để yên mình không chứ? Cụ phải cái vụ thằng năm Thọ. mãi đến giờ chưa quên.
Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu. Hồi ấy, bá Kiến mới ra làm lý-trưởng, nó hình như kình nhau với hắn ra mặt; lý Kiến muốn trị nhưng chưa có dịp. Được ít lâu, hắn can dự vào một vụ cướp, bị bắt giam; lý Kiến ngấm-ngầm vận-động cho vào tù. Vẫn tưởng một người vai vế như Năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù thì làm gì còn dám vác cái mặt mo về làng? Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cái đinh trước mắt. Nào ngờ một buổi tối, lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì năm Thọ vác giao xộc vào. Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu một tiếng thì đâm chết liền. Thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên một người lương-thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi. Nó lại bảo: nghe nó thì nó đi biệt, mà không nghe thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra; còn muốn sống với vợ với con thì nghe nó.
Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe. Năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không bao giờ về nữa thật. Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ hết những thằng du côn? Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lần về. Mà thằng này lúc còn ở nhà, nào có ngạo ngược gì cho cam. Người ta đã phải gọi hắn là cục đất. Ai bảo làm sao thì ư hừ làm vậy, mới quát một tiếng đã đái cả ra quần, thuế bổ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ hay hay mắt, bị người ta ghẹo cũng chỉ im ỉm rồi về nhà hành vợ chứ chẳng dám ho he gì. Thế đấy: cái nghề đời hiền quá hóa ngu; ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được. Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm nghèo rớt mồng tơi; chỉ vì có một miếng cũng không giữ được mà ăn: đứa nào nó vớ được nó cũng xoay, mà đứa nào xoay cũng chịu. Sau cùng, bực quá, hắn ra đi lính. Lại càng thêm tội! Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sây sớt ra ngoài, nhưng vẫn là vợ mình. Bực thì hóa ra mất vợ. Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng nhiên lại sinh ra vắng chồng, của ngon trờ trờ ngay trước mắt, ai mà nhịn được?
Nhà chị binh ở gần đường. Ông phó đi đánh bạc đêm về cũng tạt vào; anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang; thậm chí đến cái thằng hương Điển, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ-gẫm. Vợ binh Chức đã nghiễm-nhiên thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý-dịch nho nhỏ trong làng chuyên đổi. Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ, cũng không nỡ bỏ hoài cái của không dưng được giời cho; và không bỏ hoài, ông còn được lợi. Mỗi lần chị binh đi lĩnh lương hay lĩnh măng-đa của chồng, phải mượn ông lý đi nhận-thực. Không ông lý nào vác của nhà đi ăn mà nhận-thực cho người ta, điều ấy đã cố nhiên. Nhưng với lý Kiến, thì không những cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi xe chung và còn ở lại tỉnh nữa.
Thế là mấy đồng bạc lương đi đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn. Thành thử công lao anh binh, rút lại chỉ giúp cho chị binh mỗi tháng một lần hưởng những cuộc vui với ông lý nhà.
Chẳng hiểu anh ta cũng biết thế mà chán cảnh nhà hay sao mà mãn hạn ba năm cũng không thấy về Rồi ít lâu sau, có trát về làng bắt tróc-nã và áp giải tên Trần-văn-Chức. Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu-tán không về làng. Nhưng khai hôm trước thì hôm sau hắn về. Lý Kiến sai đầy tớ đem trát đến nhà đòi hắn. Hắn đến ngay, nhưng lại dẫn theo cả vợ và hai con. Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút một con dao chọc tiết lợn ra, nhăm nhăm cầm ở tay mà bảo rằng: « Chẳng nói giấu gì ông, tôi can án giết người. Nếu ông không thương, mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói. Thôi thì đằng nào chúng nó cũng chết, tôi đâm chúng nó chết ở đây, rồi ông bắt đi ở tù luôn thể ». Mắt hắn đỏ ngầu; lưỡi dao hắn hoa lên loang loáng, chỉ trông cũng lạnh gáy. Hắn có thể giết người được lắm, mà chắc không phải chỉ giết có vợ và con thôi: Khi hắn đã có gan đâm chết vợ con thì hắn còn kiêng gì cái cổ của người khác nữa? Lý Kiến nghĩ ngợi một lúc rồi bảo hắn cứ về rồi ông liệu. Ông liệu nghĩa là ông che đậy cái án của hắn cho không ai biết và mỗi lần có trát về nhắc, ông lại khai rằng: vẫn chưa có tên Chức về. Thế là hắn cứ nghiễm-nhiên sống ở ngay chính quê hương hắn. Va bây giờ người ta thấy vợ hắn rất chính chuyên mà lại trung thành: thị chăm chỉ làm để mà nuôi hắn; những ông trưởng, ông phó tự nhiên nghĩ bụng rằng: người ta có chồng rồi mà còn chàng-màng thì phải tội; ai cũng sinh tử-tế cả chỉ trừ anh binh, bởi vì Chức bây giờ lại rất mực là ngang-ngược. Hắn ăn vườn đấy, nhưng chẳng nộp thuế cho ai. Thúc hắn thì hắn chửi, cắm vườn hắn thì hắn chém, sinh chuyện với hắn thì chính lý trưởng làng có lỗi bởi cố ý ẩn-lậu hắn là một tên can phạm. Ấy thế mà hắn cũng chưa vừa lòng đâu. Một hôm không biết nghĩ ngợi thế nào, hắn vác dao đến bảo thẳng vào mặt lý Kiến rằng:
— Hồi tôi còn tại ngũ, tôi gửi về nhà có trăm. Không biết vợ tôi nó tiêu pha gì, hay là cho giai mà không còn một đồng nào cả. Tôi hỏi nó thì nó bảo: ở nhà, đàn bà con gai có một mình, không dám giữ tiền, được đồng nào mang gửi ông lý cả. Tôi sợ nó bịa ra nên đã trói sẵn nó ở nhà. Bây giờ tôi đến thưa với ông, ông tính toán xem được bao nhiêu cho đem về nuôi cháu. Thiếu một đồng thì tôi không để yên chúng nó. Lý Kiến hiểu rằng: « chúng nó » đây có thể gồm cả ông. Ông cười nhạt bảo rằng:
— Thế này này, anh binh ạ: chị ấy gửi tiền tôi thì quả là không có.
Hắn trợn mắt lên quát:
— Thế thì thằng nào ăn đi?
Lý Kiến vội nói lấp ngay:
— Thế nhưng mà anh có thiếu tiêu thì cứ bảo tôi một tiếng. Chị ấy trót tiêu đi rồi thì có giết cũng chẳng ra. Lôi thôi làm gì cho sinh tội?
Ông mở tráp quăng cho hắn năm đồng bạc. Hắn cầm lấy, « lậy ông » tử tế, rồi sách dao ra về. Từ hôm ấy, hắn thành tử-tế với lý Kiến, nhận là chỗ đầy tớ chân tay, nhưng lý Kiến thỉnh-thoảng vẫn phải cho hắn tiền. Cho mãi đến năm ngoái đây, hắn chết...
Thì năm nay lại nẩy ra Chí-Phèo. Lại một thằng hiền-lành như đất — tội nghiệp cho hắn, có lần lý Kiến thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run! — bỗng nhiên vùng dậy, rở toàn những giọng uống máu người không tanh. Thì ra già néo đứt giây. Cụ tiên-chỉ làng Vũ-đại nhận ra rằng: đè nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng mà đi là dại. Mười thằng đã đi ra, thì chín thằng giở về với cái vẻ hung-đồ, cái tính ương-ngạnh học được từ phương xa. Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng. Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông nhưng rồi lại giắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn, đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào « vì thương anh túng quá! » Và cũng phải tùy mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn, chính là những thằng sợ quan và dễ bóp; trái lại, những thằng tứ cố vô thân, giết chúng nó thì dễ, nhưng giết được, chỉ còn có xương; mà gây với chúng là mở một dịp tốt để các phe nghịch xoay lại mình. Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi cánh kết bè đảng chung quanh một người: cánh cụ bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông tư Đạm, cánh ông bát Tùng... Bằng ấy cánh giu lại với nhau để bóc lột con em, nhưng vẫn ngấm-ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau... Cụ lại nhận ra rằng: ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền-lành chỉ è cổ làm nuôi bọn kỳ-hào, — nhưng chính bọn kỳ-hào nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho những thằng cùng hơn cả dân cùng, — nên liều-lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình.
Nhưng cụ không phải là một người ưa than thở. Than thở chẳng ích gì cho ai. Cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén kia, sở dĩ bị đè nén suốt đời, chỉ vì khi bị đè nén chúng chỉ biết than-thở chứ không biết làm gì khác. Cụ bá Kiến không cần than thở: trị không lợi thì cụ dùng. Cụ nghĩ bụng: cũng phải có những thằng đầu bò chứ? không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những thằng đầu bò? Thế lực của cụ sở dĩ lấn áp được các vây cánh khác, một phần lớn cũng bởi cụ biết mềm biết cứng, biết thu-dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi ở tù. Những thằng ấy chính là những thằng được việc. Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là có thể sai nó đến tác hại bất cứ anh nào không nghe mình. Gặp người bướng-bỉnh, đanh thép thì nó lừa đốt nhà hay cho mấy nhát dao; gặp người non mặt, thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay là gây sự rồi lăn ra kêu làng. Có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền-lành và yên-phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế Thuế một năm có một lần, nếu chỉ trông vào đấy thì bán mả cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba, bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng...
Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà bá Kiến ra về, Chí-Phèo vô cùng hể hả! Bá Kiến đã không vu vạ gì cho hắn, lại còn giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lại đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc. Đồng bạc, làm gì đến thế? hắn loạng choạng vừa đi vừa cười: hắn chẳng cần đến ba xu. Lúc ngồi tù, hắn có học mót được mấy bài thuốc giấu: chỉ vài nắm lá, là mặt hắn lại đâu vào đấy ngay. Còn đồng bạc lại để đi uống rượu...
— Hết chương 1 —
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển
📜 Văn học Việt Nam kinh điển