Đó là một chiếc đồng hồ thời Đệ nhị Đế chế, một trong những chiếc đồng hồ bằng đá mã não xứ An-giê-ri, trang trí hoa văn kiểu cổ, mua ở đại lộ I-ta-li-en, với chiếc chìa khoá mạ vàng đeo chéo ở đầu một dải ruy băng hồng. Xinh xắn hết mức, hiện đại hết mức, đúng là hàng Pa-ri hết mức. Một chiếc đồng hồ chính hiệu của sân khấu ca vũ, điểm chuông lanh lảnh nghe rất vui tai, nhưng chẳng có lấy một hạt lý trí, đầy những ý thích bất chợt, những trò thất thường, chỉ giờ lung tung, bỏ qua cả những tiếng nửa giờ, cả đời chỉ biết báo đúng hai thứ: giờ sở giao dịch cho ông chủ và giờ hẹn hò cho bà chủ.
Khi chiến tranh nổ ra, nó đang nghỉ hè ở Bu-gi-van, sinh ra như để dành riêng cho những lâu đài mùa hè mỏng manh ấy, những cái lồng bắt ruồi xinh xắn bằng giấy cắt hoa, những bộ đồ đạc chỉ dùng một mùa, ren và vải mỏng bồng bềnh trên nền lụa sáng màu. Khi quân Ba-vi-e tới, nó là một trong những thứ đầu tiên bị khuân đi. Và quả thật, phải công nhận bọn người bên kia sông Ranh là những tay đóng hàng rất khéo, vì cái đồng hồ đồ chơi chẳng to hơn quả trứng chim gáy ấy đã đi được từ Bu-gi-van tới Muy-ních giữa những khẩu đại bác Crúp và những xe chở đạn, tới nơi chẳng sứt một vết, và ngay hôm sau đã được bày ở quảng trường Ô-đê-ông, trong tủ kính của Ốc-gu-xtút Can, ông hàng đồ cổ, tươi tắn, làm duyên, vẫn còn đủ hai chiếc kim mảnh, đen và cong như hàng mi, và chiếc chìa khoá nhỏ đeo chéo ở đầu một dải ruy băng mới.
Đó là cả một sự kiện ở Muy-ních. Ở đó người ta chưa từng thấy một chiếc đồng hồ Bu-gi-van, và ai cũng tới ngắm nó tò mò như ngắm những vỏ ốc Nhật Bản trong viện bảo tàng. Trước cửa hàng của Ốc-gu-xtút Can, ba hàng tẩu thuốc to tướng phì phèo khói từ sáng tới tối, và dân chúng Muy-ních hiền lành tròn mắt, kêu lên "Lạy Chúa" kinh ngạc, tự hỏi cái máy nhỏ kỳ quặc ấy dùng để làm gì. Các tờ báo ảnh đăng hình nó. Ảnh chụp nó bày ở khắp các tủ kính. Và chính để tôn vinh nó mà ngài tiến sĩ giáo sư lừng danh Ốt-tô phôn Xơ-van-ta-le đã soạn ra cuốn "Nghịch lý về đồng hồ" nổi tiếng của ông, một công trình triết học hài hước dày sáu trăm trang, bàn về ảnh hưởng của đồng hồ tới đời sống các dân tộc, và chứng minh một cách hợp lý rằng một dân tộc điên rồ tới mức điều khiển việc dùng thời gian của mình theo những chiếc đồng hồ loạn xạ như cái đồng hồ nhỏ ở Bu-gi-van này thì phải chờ đón mọi tai hoạ, như một con tàu ra khơi với chiếc la bàn chỉ sai hướng. Câu văn hơi dài, nhưng tôi dịch đúng từng chữ đấy.
Người Đức chẳng làm gì một cách nhẹ dạ, nên trước khi viết cuốn nghịch lý ấy, ngài tiến sĩ giáo sư lừng danh muốn có đối tượng ngay trước mắt để nghiên cứu tường tận, phân tích tỉ mỉ như một nhà côn trùng học. Thế là ông mua chiếc đồng hồ, và đó là cách nó đi từ tủ kính của Ốc-gu-xtút Can vào phòng khách của ngài tiến sĩ giáo sư lừng danh Ốt-tô phôn Xơ-van-ta-le, giám đốc phòng tranh, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học và Mỹ thuật, tại tư gia, số 24 phố Lu-đơ-vích.
Điều đập vào mắt đầu tiên khi bước vào phòng khách nhà Xơ-van-ta-le, trang nghiêm và đường bệ như một giảng đường, là một chiếc đồng hồ lớn bằng đá hoa nghiêm nghị, có tượng nàng thơ bằng đồng và những bánh xe rất phức tạp. Mặt số chính được vây quanh bởi những mặt số nhỏ hơn, có đủ giờ, phút, mùa, xuân phân thu phân, tất cả, cho tới cả những tuần trăng biến đổi trong một đám mây xanh nhạt ở giữa bệ. Tiếng của cỗ máy hùng mạnh ấy vang khắp nhà. Từ chân cầu thang đã nghe quả lắc nặng nề đung đưa nghiêm trang, nhấn nhá, như đang cắt đời người thành những mẩu nhỏ giống hệt nhau. Dưới tiếng tích tắc vang dội ấy là tiếng run rẩy của cây kim giây đang cựa quậy trong khung số giây với cái hăng say cần mẫn của một con nhện biết giá trị của thời gian.
Rồi chuông điểm giờ, buồn bã và chậm rãi như đồng hồ trường học. Và mỗi lần chuông điểm, lại có một việc gì đó xảy ra trong nhà Xơ-van-ta-le. Đó là ông Xơ-van-ta-le ôm một chồng giấy tờ đi tới phòng tranh, hoặc bà Xơ-van-ta-le cao lớn đi nghe giảng đạo về cùng ba cô con gái, ba cô gái lêu nghêu quấn đầy hoa lá trông như ba cây sào leo hoa bia. Hoặc là những giờ học đàn hạc, học nhảy, học thể dục, những cây đàn được mở nắp, những khung thêu, những giá nhạc hoà tấu được đẩy ra giữa phòng. Tất cả được sắp đặt ngăn nắp, đâu ra đấy, đúng phương pháp đến nỗi nghe cả nhà Xơ-van-ta-le khởi động ngay từ tiếng chuông đầu tiên, đi vào, đi ra qua những cánh cửa mở toang cả hai cánh, người ta nghĩ tới đoàn các tông đồ diễu hành trên chiếc đồng hồ lớn thành Xtơ-rát-bua, và lúc nào cũng chờ tới tiếng chuông cuối cùng sẽ thấy cả gia đình Xơ-van-ta-le chui vào và biến mất trong đồng hồ của họ.
Chính cạnh cái công trình đồ sộ ấy, người ta đặt chiếc đồng hồ Bu-gi-van, và các bạn hình dung được cái bộ mặt nhỏ nhăn nhó của nó gây ấn tượng thế nào. Rồi một buổi tối, các bà các cô nhà Xơ-van-ta-le đang thêu trong phòng khách lớn, còn ngài tiến sĩ giáo sư lừng danh đang đọc cho vài đồng nghiệp ở Viện Hàn lâm Khoa học nghe những trang đầu cuốn "Nghịch lý", thỉnh thoảng ngừng lại cầm chiếc đồng hồ nhỏ lên như để minh hoạ trên bảng. Bỗng cô Ê-va phôn Xơ-van-ta-le, bị một sự tò mò đáng nguyền rủa nào đó thúc đẩy, đỏ mặt nói với cha:
— Ôi, bố ơi, bố cho nó điểm chuông đi.
Ông tiến sĩ tháo chìa khoá, vặn hai vòng, và lập tức người ta nghe một tiếng chuông pha lê nhỏ trong trẻo, lanh lảnh đến nỗi một làn vui tươi rung lên đánh thức cả hội đồng nghiêm nghị. Mắt ai cũng sáng lên.
Mấy cô con gái nhà Xơ-van-ta-le reo lên, vẻ hớn hở và những bím tóc ngúng nguẩy mà xưa nay chẳng ai thấy:
— Hay quá! Hay quá!
Bấy giờ ông Xơ-van-ta-le nói bằng một giọng đắc thắng:
— Các vị nhìn xem, cái cô người Pháp điên rồ này! Nó điểm tám tiếng mà kim lại chỉ ba giờ!
Ai nấy cười ồ, và dù đã khuya, các ông lao vào những lý thuyết triết học và những suy xét không dứt về tính nhẹ dạ của dân tộc Pháp. Chẳng ai nghĩ tới chuyện ra về nữa. Người ta thậm chí chẳng nghe thấy trên mặt đồng hồ có tượng nàng thơ cái tiếng chuông mười giờ khủng khiếp vẫn thường giải tán cả hội. Chiếc đồng hồ lớn chẳng hiểu gì cả. Nó chưa từng thấy nhà Xơ-van-ta-le vui như thế, cũng chưa từng thấy khách ngồi trong phòng khách muộn như thế. Cái oái oăm là khi các cô con gái nhà Xơ-van-ta-le về tới phòng, họ thấy bụng đói cồn cào vì thức khuya và cười nhiều, thèm được ăn đêm. Ngay cả cô Min-na đa cảm cũng vươn vai mà bảo:
— Chà, giá được ăn một cái càng tôm hùm nhỉ.
Đã được lên dây, chiếc đồng hồ Bu-gi-van lại sống cuộc đời bừa bãi của nó, những thói quen phóng túng của nó. Thoạt đầu người ta cười những trò thất thường của nó. Nhưng dần dần, nghe mãi cái tiếng chuông xinh xắn điểm lung tung ấy, ngôi nhà nghiêm trang của Xơ-van-ta-le mất hết lòng tôn trọng thời gian, và sống từng ngày với một sự vô tư dễ thương. Người ta chỉ còn nghĩ tới vui chơi. Đời như ngắn ngủi quá, giờ đây khi mọi giờ khắc đều lẫn lộn! Đó là một cuộc đảo lộn toàn diện. Thôi đi nghe giảng đạo, thôi học hành! Chỉ thèm ồn ào, náo nhiệt. Nhạc của Men-đen-xôn và Su-man có vẻ đơn điệu quá: người ta thay bằng những vở ca vũ nhạc vui nhộn từ Pa-ri sang, và các cô gõ đàn, nhảy nhót, còn ngài tiến sĩ giáo sư lừng danh, cũng bị một cơn chóng mặt cuốn đi, nói mãi không chán:
— Vui lên nào, các con, vui lên nào!
Còn chiếc đồng hồ lớn thì chẳng ai nhắc tới nữa. Các cô đã cho quả lắc ngừng, lấy cớ nó làm các cô mất ngủ, và cả nhà sống theo ý thích của cái mặt số loạn giờ.
Đúng lúc ấy cuốn "Nghịch lý về đồng hồ" nổi tiếng ra đời. Nhân dịp này, nhà Xơ-van-ta-le mở một buổi dạ hội lớn, không còn là những buổi tối hàn lâm ngày trước, ít đèn ít tiếng, mà là một buổi khiêu vũ hoá trang lộng lẫy, nơi bà Xơ-van-ta-le và các cô con gái xuất hiện trong trang phục những cô gái chèo thuyền ở Bu-gi-van, tay trần, váy ngắn, đội chiếc mũ nhỏ dẹt có ruy băng sặc sỡ. Cả thành phố bàn tán, nhưng đó mới chỉ là khởi đầu. Kịch, những màn tranh sống, những bữa ăn đêm, những ván bài: đó là những gì thành Muy-ních bàng hoàng thấy diễn ra suốt một mùa đông trong phòng khách của ông viện sĩ.
— Vui lên nào, các con, vui lên nào!
Ông lão tội nghiệp cứ nhắc mãi, mỗi lúc một mê muội hơn, và cả đám người ấy quả thật vui lắm. Bà Xơ-van-ta-le, đã nếm mùi thành công trong vai cô gái chèo thuyền, suốt ngày trên sông I-da trong những bộ trang phục lố lăng. Các cô con gái ở nhà một mình, học tiếng Pháp với mấy sĩ quan kỵ binh Pháp đang bị giam làm tù binh trong thành phố. Còn chiếc đồng hồ nhỏ, có đủ lý do để tưởng mình vẫn còn ở Bu-gi-van, cứ tung giờ lung tung, lúc nào cũng điểm tám tiếng khi kim chỉ ba giờ. Rồi một buổi sáng, cơn lốc vui chơi điên cuồng ấy cuốn cả nhà Xơ-van-ta-le sang châu Mỹ, và những bức tranh Ti-xiên đẹp nhất của phòng tranh cũng theo ông giám đốc lừng danh của chúng trên đường trốn chạy.
Sau khi nhà Xơ-van-ta-le ra đi, ở Muy-ních như có một trận dịch tai tiếng. Người ta lần lượt thấy một bà nữ tu quý tộc bỏ trốn theo một ca sĩ giọng nam trung, ông viện trưởng Học viện cưới một cô vũ nữ, một vị cố vấn triều đình gian lận khi đánh bài, tu viện của các bà quý tộc bị đóng cửa vì làm ồn ban đêm...
Ôi, sự tinh quái của đồ vật! Tưởng như chiếc đồng hồ nhỏ ấy là một bà tiên, và đã định tâm bỏ bùa cả xứ Ba-vi-e. Đi tới đâu, điểm cái tiếng chuông xinh xắn bừa bãi của nó ở đâu, là ở đó đầu óc người ta rối loạn, hỏng hóc cả. Một ngày kia, qua bao chặng đường, nó tới tận cung điện nhà vua. Và từ đó, các bạn có biết bản nhạc nào luôn mở sẵn trên cây đàn của vua Lu-i, ông vua mê nhạc Vác-ne như điên ấy không?
— Bản "Những ca sĩ bậc thầy" à?
— Không! Một bản ca vũ nhạc rẻ tiền tên là "Con hải cẩu bụng trắng"!
Cho chúng nó chừa cái thói dùng đồng hồ của chúng ta.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn