Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Chiếc nhẫn đồng

của Andrew Lang

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 18.157 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ngày xửa ngày xưa, ở một xứ nọ, có…
  2. 2:34"Bệ hạ nên làm thế này," họ tâu. "Muốn…
  3. 4:49"Muốn được phần thưởng nhà vua hứa, cháu phải…
  4. 8:28"Điều kiện gì tôi cũng sẵn lòng nhận."
  5. 10:43"Ơ kìa, thế này là sao?" vị thuyền trưởng…
  6. 12:51Lão xuống bờ biển bắt mấy con cá đỏ…
  7. 14:31Lang thang rất lâu, chàng tới một hòn đảo…
  8. 17:12"Ai trong chúng ta có công lớn nhất?" cả…

Ngày xửa ngày xưa, ở một xứ nọ, có một ông vua sống trong cung điện có khu vườn rộng bao quanh. Người làm vườn thì đông, đất đai thì tốt, vậy mà khu vườn chẳng ra hoa cũng chẳng ra quả, đến cỏ hay một bóng cây râm mát cũng không có.

Nhà vua đang chán nản thì một ông già thông thái tâu:

"Những người làm vườn của bệ hạ không hiểu nghề. Mà bệ hạ trông mong gì ở những kẻ có cha làm thợ giày, thợ mộc? Làm sao họ học được cách chăm vườn cho bệ hạ?"

"Ông nói chí phải," nhà vua kêu lên.

"Vì thế," ông già nói tiếp, "bệ hạ nên cho tìm một người làm vườn mà cha và ông của anh ta đều làm vườn. Chẳng bao lâu, khu vườn của bệ hạ sẽ đầy cỏ xanh, hoa thắm, và bệ hạ sẽ được thưởng thức những trái cây ngon lành."

Nhà vua bèn sai sứ giả tới khắp các thành, các làng, các xóm trong vương quốc, tìm một người làm vườn có tổ tiên cũng làm vườn. Sau bốn mươi ngày, người ta tìm được một người.

"Hãy đi theo chúng tôi, về làm vườn cho nhà vua," họ bảo anh ta.

"Một kẻ khốn khó như tôi thì sao dám tới chỗ nhà vua?" người làm vườn nói.

"Chuyện ấy không hề gì," họ đáp. "Đây có quần áo mới cho anh và cả nhà."

"Nhưng tôi còn nợ tiền mấy người."

"Chúng tôi sẽ trả nợ cho anh," họ nói.

Thế là người làm vườn xiêu lòng, đi theo các sứ giả, mang theo vợ và con trai. Nhà vua mừng vì tìm được một người làm vườn thực thụ, giao cho anh trông nom khu vườn. Người làm vườn chẳng khó khăn gì mà khiến khu vườn nhà vua ra hoa kết trái. Chỉ sau một năm, khu vườn đã khác hẳn, và nhà vua ban cho người đầy tớ mới biết bao quà tặng.

Như các bạn đã nghe, người làm vườn có một cậu con trai. Cậu là một chàng trai rất đẹp, cử chỉ dễ mến vô cùng. Ngày nào chàng cũng mang những trái cây ngon nhất trong vườn vào dâng vua, và những bông hoa đẹp nhất vào tặng công chúa. Nàng công chúa đẹp tuyệt trần, vừa tròn mười sáu tuổi, và nhà vua bắt đầu nghĩ đã đến lúc gả chồng cho nàng.

"Con gái yêu của cha," vua nói, "con đã đến tuổi lấy chồng. Vì thế cha định gả con cho con trai quan tể tướng."

"Thưa cha," công chúa đáp, "con sẽ không bao giờ lấy con trai quan tể tướng."

"Sao lại không?" nhà vua hỏi.

"Vì con yêu con trai người làm vườn," công chúa đáp.

Nghe vậy, thoạt tiên nhà vua giận lắm, rồi khóc lóc, thở than, bảo rằng một người chồng như thế không xứng với con gái mình. Nhưng nàng công chúa trẻ không chịu đổi ý, quyết lấy con trai người làm vườn.

Nhà vua bèn hỏi ý các quan đại thần.

"Bệ hạ nên làm thế này," họ tâu. "Muốn gạt bỏ anh chàng làm vườn, bệ hạ hãy sai cả hai người cầu hôn tới một xứ thật xa. Ai trở về trước thì được cưới công chúa."

Nhà vua nghe theo. Con trai quan tể tướng được ban một con ngựa tuyệt đẹp và một túi đầy tiền vàng. Còn con trai người làm vườn chỉ được một con ngựa già què chân và một túi tiền đồng. Ai cũng nghĩ chàng sẽ chẳng bao giờ trở về.

Hôm trước ngày lên đường, công chúa gặp người yêu và nói:

"Chàng hãy can đảm lên, và hãy luôn nhớ rằng em yêu chàng. Chàng cầm lấy túi châu báu này, vì em mà dùng nó cho thật khéo, rồi mau mau trở về xin cưới em."

Hai người cầu hôn cùng rời thành. Nhưng con trai quan tể tướng phi nước đại trên con ngựa tốt, chẳng mấy chốc đã khuất sau những ngọn đồi xa nhất. Hắn đi được mấy ngày thì tới một con suối. Bên suối có một bà lão rách rưới ngồi trên tảng đá.

"Chào cậu, chàng lữ khách trẻ," bà lão nói.

Nhưng con trai quan tể tướng chẳng thèm đáp.

"Lữ khách ơi, thương tôi với," bà lão lại nói. "Cậu thấy đấy, tôi sắp chết đói rồi. Tôi ngồi đây đã ba ngày, chẳng ai cho tôi thứ gì."

"Để ta yên, mụ phù thuỷ già kia," chàng trai quát. "Ta chẳng giúp gì được mụ đâu."

Nói rồi hắn đi thẳng.

Chiều hôm ấy, con trai người làm vườn cưỡi con ngựa xám què tới bên con suối.

"Chào cậu, chàng lữ khách trẻ," bà lão ăn xin nói.

"Chào bà, bà cụ tốt bụng," chàng đáp.

"Lữ khách ơi, thương tôi với."

"Bà cụ cầm lấy túi tiền của cháu," chàng nói, "rồi ngồi lên sau lưng cháu, chân bà chắc chẳng còn khoẻ mấy."

Bà lão chẳng đợi mời đến lần thứ hai, trèo lên ngồi sau chàng. Cứ thế, hai người tới kinh đô của một vương quốc hùng mạnh. Con trai quan tể tướng nghỉ ở một quán trọ sang trọng, còn con trai người làm vườn và bà lão thì xuống ngựa ở quán trọ dành cho kẻ ăn xin.

Hôm sau, con trai người làm vườn nghe thấy ngoài phố ồn ào náo động. Các sứ giả của nhà vua đi qua, thổi đủ thứ kèn, và rao lớn:

"Đức vua của chúng ta đã già yếu, bệnh tật. Ai chữa khỏi bệnh cho người, trả lại cho người sức mạnh của tuổi trẻ, sẽ được ban thưởng hậu hĩnh."

Bà lão ăn xin bèn nói với ân nhân của mình:

"Muốn được phần thưởng nhà vua hứa, cháu phải làm thế này. Cháu ra khỏi thành bằng cổng phía nam, ở đó cháu sẽ thấy ba con chó nhỏ ba màu khác nhau: con thứ nhất trắng, con thứ hai đen, con thứ ba đỏ. Cháu phải giết chúng, đốt riêng từng con, gom tro lại. Tro của con nào thì bỏ vào một cái túi cùng màu với con ấy. Rồi cháu tới trước cổng cung điện mà rao lên: Có một danh y vừa từ thành Gia-ni-na xứ An-ba-ni tới. Chỉ mình ông chữa được bệnh cho nhà vua, trả lại cho người sức mạnh của tuổi trẻ. Các ngự y của nhà vua sẽ bảo: đây là kẻ bịp bợm, chẳng phải người học thức gì. Họ sẽ gây đủ thứ khó dễ, nhưng rốt cuộc cháu sẽ vượt qua hết, và được vào gặp nhà vua đang ốm. Lúc ấy cháu phải đòi một lượng củi bằng ba con la thồ, với một cái vạc thật lớn, rồi đóng cửa ở riêng trong phòng với nhà vua. Khi nước trong vạc sôi, cháu ném nhà vua vào, để ở đó cho tới khi thịt rời hẳn khỏi xương. Rồi cháu xếp lại các khúc xương vào đúng chỗ, rắc tro trong ba cái túi lên trên. Nhà vua sẽ sống lại, y như hồi người hai mươi tuổi. Làm phần thưởng, cháu phải đòi chiếc nhẫn đồng có phép ban cho cháu mọi điều cháu mong muốn. Đi đi con, đừng quên lời nào bà dặn."

Chàng trai làm đúng như lời bà lão dặn. Ra khỏi thành, chàng thấy ba con chó trắng, đỏ và đen, giết đi, đốt thành tro, gom vào ba cái túi. Rồi chàng chạy tới cung điện mà rao:

"Có một danh y vừa từ thành Gia-ni-na xứ An-ba-ni tới. Chỉ mình ông chữa được bệnh cho nhà vua, trả lại cho người sức mạnh của tuổi trẻ."

Thoạt đầu, các ngự y của nhà vua cười nhạo gã lữ khách vô danh. Nhưng nhà vua truyền cho người lạ được vào. Người ta mang tới cái vạc và những gánh củi, và chẳng mấy chốc nhà vua đã nằm trong vạc nước sôi sùng sục. Gần trưa, con trai người làm vườn xếp các khúc xương vào đúng chỗ. Chàng vừa rắc tro lên, ông vua già đã sống lại, thấy mình lại trẻ trung và khoẻ mạnh.

"Ta phải đền ơn ngươi thế nào đây, hỡi ân nhân của ta?" nhà vua kêu lên. "Ngươi có muốn nhận một nửa kho báu của ta không?"

"Không ạ," con trai người làm vườn nói.

"Hay cưới con gái ta?"

"Không ạ."

"Vậy nhận một nửa vương quốc của ta."

"Không ạ. Xin bệ hạ chỉ cho tôi chiếc nhẫn đồng có thể ban ngay cho tôi bất cứ điều gì tôi muốn."

"Than ôi!" nhà vua nói. "Ta quý chiếc nhẫn kỳ diệu ấy lắm. Nhưng thôi được, ngươi sẽ có nó."

Rồi nhà vua trao chiếc nhẫn cho chàng.

Con trai người làm vườn quay về chào từ biệt bà lão ăn xin. Rồi chàng nói với chiếc nhẫn đồng:

"Hãy sắm cho ta một con tàu lộng lẫy để ta đi tiếp. Thân tàu bằng vàng ròng, cột buồm bằng bạc, cánh buồm bằng gấm. Thuỷ thủ là mười hai chàng trai dáng vẻ cao quý, ăn mặc như những ông vua. Thánh Ni-cô-la sẽ cầm lái. Còn hàng hoá thì là kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo và ngọc thạch lựu đỏ thắm."

Lập tức trên biển hiện ra một con tàu giống hệt như lời con trai người làm vườn tả, không sai một chi tiết nào. Chàng bước lên tàu, tiếp tục cuộc hành trình.

Ít lâu sau, chàng tới một thành phố lớn, dọn vào ở trong một cung điện tuyệt đẹp. Mấy hôm sau, chàng gặp lại kẻ tình địch, con trai quan tể tướng. Hắn đã tiêu sạch tiền, phải làm cái nghề khổ sở là đi hốt bụi đổ rác. Con trai người làm vườn hỏi hắn:

"Anh tên gì, con nhà ai, từ xứ nào tới?"

"Tôi là con trai quan tể tướng của một nước lớn, vậy mà ông xem, giờ tôi phải làm cái nghề hèn hạ thế này."

"Nghe này. Tuy tôi chẳng biết gì thêm về anh, tôi vẫn sẵn lòng giúp anh. Tôi sẽ cho anh một con tàu để về nước, với một điều kiện."

"Điều kiện gì tôi cũng sẵn lòng nhận."

"Hãy theo tôi về cung điện."

Con trai quan tể tướng đi theo người lạ giàu có mà không nhận ra chàng. Về tới cung điện, con trai người làm vườn ra hiệu cho đám gia nhân. Họ lột hết quần áo của người mới đến.

"Hãy nung chiếc nhẫn này cho đỏ rực," người chủ ra lệnh, "rồi đóng dấu lên lưng hắn."

Gia nhân làm theo.

"Giờ thì, chàng trai trẻ," người lạ giàu có nói, "tôi sẽ cho anh một con tàu đưa anh về nước."

Rồi chàng đi ra, cầm chiếc nhẫn đồng mà nói:

"Nhẫn đồng ơi, hãy vâng lời chủ của ngươi. Hãy sắm cho ta một con tàu gỗ mục nát một nửa, sơn đen, buồm rách tả tơi, thuỷ thủ thì ốm yếu bệnh tật. Kẻ cụt chân, người cụt tay, người thứ ba gù lưng, kẻ khác què quặt, vẹo chân hay mù loà, phần đông xấu xí và đầy sẹo. Đi đi, hãy làm theo lệnh ta."

Con trai quan tể tướng lên con tàu cũ nát ấy. Nhờ gió thuận, cuối cùng hắn cũng về tới nước mình. Tuy hắn trở về trong bộ dạng thảm hại, mọi người vẫn mừng rỡ đón hắn.

"Tôi là người về trước," hắn nói với nhà vua. "Giờ xin bệ hạ giữ lời hứa, gả công chúa cho tôi."

Thế là người ta bắt đầu sửa soạn lễ cưới ngay. Còn nàng công chúa tội nghiệp thì vừa buồn vừa giận.

Sáng hôm sau, lúc rạng đông, một con tàu tuyệt đẹp căng đủ buồm tới thả neo trước thành. Đúng lúc ấy nhà vua đang đứng bên cửa sổ cung điện.

"Con tàu lạ lùng gì thế kia," vua kêu lên, "thân bằng vàng, cột buồm bằng bạc, cánh buồm bằng lụa, lại có những chàng trai như hoàng tử làm thuỷ thủ? Mà có phải ta thấy Thánh Ni-cô-la đang cầm lái không? Mau đi mời thuyền trưởng con tàu ấy vào cung."

Gia nhân vâng lệnh. Chẳng mấy chốc, một chàng hoàng tử trẻ tuổi đẹp đẽ vô cùng bước vào, mặc áo lụa quý, đính ngọc trai và kim cương.

"Chàng trai trẻ," nhà vua nói, "dù chàng là ai, ta cũng xin chào đón. Xin chàng nể mặt làm khách của ta suốt thời gian chàng ở kinh đô."

"Đa tạ bệ hạ," vị thuyền trưởng đáp. "Tôi xin nhận lời."

"Con gái ta sắp cưới chồng," nhà vua nói. "Chàng có vui lòng làm người dắt cô dâu tới trao cho chú rể không?"

"Tôi rất lấy làm hân hạnh, tâu bệ hạ."

Ngay sau đó, công chúa và vị hôn phu bước vào.

"Ơ kìa, thế này là sao?" vị thuyền trưởng trẻ kêu lên. "Bệ hạ định gả nàng công chúa xinh đẹp này cho một kẻ như thế kia sao?"

"Nhưng cậu ta là con trai quan tể tướng của ta!"

"Thì đã sao? Tôi không thể trao con gái bệ hạ cho hắn được. Kẻ mà nàng đã hứa hôn là một tên đầy tớ của tôi."

"Đầy tớ của chàng?"

"Đúng thế. Tôi gặp hắn ở một thành phố xa xôi, phải làm nghề hốt bụi đổ rác cho các nhà. Tôi thương tình, nhận hắn làm đầy tớ."

"Không thể thế được!" nhà vua kêu lên.

"Bệ hạ có muốn tôi chứng minh điều tôi nói không? Chàng trai này trở về trên một con tàu do tôi sắm cho, một con tàu chẳng ra tàu, thân đen kịt nát bươm, thuỷ thủ thì ốm yếu tàn tật."

"Đúng là thế thật," nhà vua nói.

"Nói láo," con trai quan tể tướng kêu lên. "Tôi không quen người này!"

"Tâu bệ hạ," vị thuyền trưởng trẻ nói, "xin bệ hạ truyền cởi áo vị hôn phu của con gái bệ hạ ra, xem trên lưng hắn có dấu nhẫn của tôi không."

Nhà vua sắp ra lệnh thì con trai quan tể tướng, để khỏi bị nhục nhã như thế, đành thú nhận chuyện ấy là thật.

"Còn bây giờ, tâu bệ hạ," vị thuyền trưởng trẻ nói, "bệ hạ không nhận ra tôi sao?"

"Em nhận ra chàng," công chúa nói. "Chàng là con trai người làm vườn, người em vẫn luôn yêu, và chàng là người em muốn lấy làm chồng."

"Chàng trai trẻ, chàng sẽ là con rể của ta," nhà vua kêu lên. "Tiệc cưới đã bắt đầu rồi, vậy chàng cưới con gái ta ngay hôm nay đi."

Và ngay hôm ấy, con trai người làm vườn cưới nàng công chúa xinh đẹp.

Mấy tháng trôi qua. Đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc suốt ngày, còn nhà vua thì ngày càng hài lòng vì đã có được một chàng rể như thế.

Nhưng rồi, vị thuyền trưởng con tàu vàng cần phải đi một chuyến xa. Ôm hôn vợ âu yếm xong, chàng lên tàu.

Ở ngoại ô kinh thành có một ông già đã dành cả đời học những phép thuật đen tối: luyện kim, chiêm tinh, ma thuật và bùa chú. Lão phát hiện ra rằng con trai người làm vườn cưới được công chúa là nhờ những vị thần vâng lệnh chiếc nhẫn đồng.

"Ta phải có được chiếc nhẫn ấy," lão tự nhủ.

Lão xuống bờ biển bắt mấy con cá đỏ nhỏ, đẹp lạ lùng. Rồi lão quay về, đi ngang qua cửa sổ phòng công chúa mà rao:

"Ai mua cá đỏ xinh xinh đây!"

Công chúa nghe thấy, sai một nữ tì ra hỏi lão bán rong:

"Ông bán cá này bao nhiêu?"

"Đổi lấy một chiếc nhẫn đồng."

"Nhẫn đồng, ông già ngớ ngẩn kia! Tôi tìm đâu ra nhẫn đồng?"

"Dưới cái gối trong phòng công chúa ấy."

Nữ tì quay vào với chủ.

"Lão già điên ấy chẳng lấy vàng cũng chẳng lấy bạc," cô nói.

"Thế lão muốn gì?"

"Một chiếc nhẫn đồng giấu dưới gối."

"Tìm chiếc nhẫn mà đưa cho lão," công chúa nói.

Cuối cùng nữ tì tìm thấy chiếc nhẫn đồng mà vị thuyền trưởng tàu vàng đã vô tình bỏ quên, mang ra cho lão. Lão vồ lấy rồi chuồn ngay.

Vừa về tới nhà, lão cầm chiếc nhẫn mà nói:

"Nhẫn đồng ơi, hãy vâng lời chủ của ngươi. Ta muốn con tàu vàng biến thành tàu gỗ đen, thuỷ thủ biến thành những kẻ xấu xí rách rưới, Thánh Ni-cô-la rời bỏ tay lái, và hàng hoá duy nhất trên tàu là lũ mèo đen."

Các vị thần của chiếc nhẫn đồng vâng lệnh lão.

Thấy mình lênh đênh trên biển trong cảnh khốn khổ ấy, vị thuyền trưởng trẻ hiểu rằng có kẻ đã đánh cắp chiếc nhẫn đồng. Chàng than khóc thảm thiết, nhưng than khóc thì cũng chẳng ích gì.

"Than ôi!" chàng tự nhủ. "Kẻ nào lấy nhẫn của ta hẳn cũng đã cướp mất người vợ yêu của ta rồi. Ta còn về nước làm gì nữa?"

Thế là chàng lênh đênh từ đảo này sang đảo khác, từ bờ này sang bờ khác, đi đâu cũng tưởng mọi người đang cười nhạo mình. Chẳng bao lâu, chàng nghèo khổ đến mức chàng, đám thuỷ thủ và lũ mèo đen tội nghiệp chỉ còn cỏ và rễ cây để ăn.

Lang thang rất lâu, chàng tới một hòn đảo toàn chuột. Vị thuyền trưởng lên bờ, đi xem khắp đảo. Đâu đâu cũng là chuột, chẳng có gì ngoài chuột. Mấy con mèo đen đi theo chàng, đã nhịn đói mấy ngày, đói cồn cào, liền tàn sát lũ chuột dữ dội.

Chuột chúa bèn họp hội đồng.

"Lũ mèo này sẽ ăn thịt hết chúng ta," chuột chúa nói, "nếu vị thuyền trưởng kia không nhốt lũ thú dữ ấy lại. Ta hãy cử những con chuột can đảm nhất đi gặp ông ta."

Mấy chú chuột xung phong nhận việc, lên đường đi tìm vị thuyền trưởng trẻ.

"Thưa thuyền trưởng," chúng nói, "xin ông mau rời khỏi đảo của chúng tôi, không thì cả loài chuột chúng tôi chết hết."

"Ta sẵn lòng thôi," vị thuyền trưởng trẻ đáp, "với một điều kiện. Các ngươi phải mang về cho ta chiếc nhẫn đồng mà một tên phù thuỷ ranh mãnh đã lấy cắp của ta. Nếu không làm được, ta sẽ thả hết lũ mèo lên đảo, và các ngươi sẽ bị diệt sạch."

Lũ chuột lui về, hoảng hốt vô cùng.

"Làm sao bây giờ?" chuột chúa nói. "Biết tìm chiếc nhẫn đồng ấy ở đâu?"

Chuột chúa lại họp hội đồng, gọi chuột từ khắp bốn phương trời về, nhưng chẳng con nào biết chiếc nhẫn đồng ở đâu. Bỗng có ba con chuột từ một xứ rất xa tới. Một con mù, con thứ hai què, con thứ ba bị cụt tai.

"Hô hô hô!" ba con chuột mới đến nói. "Chúng tôi từ một xứ xa xôi tới đây."

"Các ngươi có biết chiếc nhẫn đồng mà các vị thần vâng lệnh ở đâu không?"

"Hô hô hô! Chúng tôi biết chứ. Một lão phù thuỷ già đã chiếm lấy nó. Ban ngày lão giữ nó trong túi, ban đêm lão ngậm nó trong miệng."

"Đi lấy nó về đây, càng nhanh càng tốt."

Thế là ba con chuột đóng một chiếc thuyền, giương buồm sang xứ của lão phù thuỷ. Tới kinh thành, chúng lên bờ, chạy tới cung điện, chỉ để con chuột mù ở lại bờ trông thuyền. Rồi chúng chờ tới đêm. Lão già độc ác lên giường nằm, ngậm chiếc nhẫn đồng vào miệng, chẳng mấy chốc đã ngủ say.

"Giờ làm sao đây?" hai con vật nhỏ hỏi nhau.

Con chuột cụt tai tìm thấy một cây đèn đầy dầu và một lọ đầy hạt tiêu. Nó nhúng đuôi vào dầu, rồi nhúng vào hạt tiêu, rồi chìa đuôi vào mũi lão phù thuỷ.

"Hắt xì! Hắt xì!" lão già hắt hơi, nhưng không tỉnh dậy. Cú hắt hơi làm chiếc nhẫn đồng bật ra khỏi miệng lão. Nhanh như chớp, con chuột què chộp lấy báu vật, mang chạy về thuyền.

Các bạn cứ tưởng tượng lão phù thuỷ tuyệt vọng thế nào khi tỉnh dậy, tìm đâu cũng không thấy chiếc nhẫn đồng!

Nhưng lúc ấy, ba con chuột của chúng ta đã giương buồm mang chiến lợi phẩm đi rồi. Một làn gió thuận đẩy chúng về phía hòn đảo nơi chuột chúa đang chờ. Dĩ nhiên, chúng bắt đầu bàn tán về chiếc nhẫn đồng.

"Ai trong chúng ta có công lớn nhất?" cả ba cùng kêu lên một lúc.

"Tôi chứ ai," con chuột mù nói. "Không có tôi canh chừng, thuyền của chúng ta đã trôi ra biển khơi rồi."

"Không đời nào," con chuột cụt tai kêu lên. "Công là của tôi. Chẳng phải tôi đã làm chiếc nhẫn bật ra khỏi miệng lão sao?"

"Không, công là của tôi," con chuột què kêu lên, "vì chính tôi mang chiếc nhẫn chạy về."

Từ lời qua tiếng lại, chẳng mấy chốc chúng xông vào đánh nhau. Và than ôi, đúng lúc cuộc cãi lộn hăng nhất, chiếc nhẫn đồng rơi tõm xuống biển.

"Giờ còn mặt mũi nào mà về gặp chuột chúa," ba con chuột nói, "khi chỉ vì ngu dại mà chúng ta làm mất báu vật, đẩy cả loài mình tới chỗ bị diệt sạch? Chúng ta không thể về nước được nữa. Hãy lên hòn đảo hoang này mà kết thúc cuộc đời khốn khổ."

Nói là làm. Thuyền cập vào đảo, lũ chuột lên bờ.

Con chuột mù chẳng mấy chốc bị hai chị em bỏ rơi, vì hai con kia mải đi săn ruồi. Nó buồn bã lần mò dọc bờ biển, thấy một con cá chết, bèn ăn. Đang ăn thì nó thấy có cái gì rất cứng. Nghe nó kêu lên, hai con chuột kia chạy tới.

"Chiếc nhẫn đồng đây rồi! Báu vật đây rồi!" chúng reo lên mừng rỡ.

Ba con lại lên thuyền, chẳng bao lâu đã về tới đảo chuột. Về vừa kịp lúc, vì vị thuyền trưởng sắp sửa thả cả đàn mèo lên đảo, thì đoàn đại biểu chuột mang tới cho chàng chiếc nhẫn đồng quý giá.

"Nhẫn đồng ơi," chàng trai ra lệnh, "hãy vâng lời chủ của ngươi. Hãy cho tàu của ta trở lại như xưa."

Lập tức các vị thần của chiếc nhẫn bắt tay vào việc. Con tàu đen cũ nát lại trở thành con tàu vàng kỳ diệu với cánh buồm bằng gấm. Những chàng thuỷ thủ đẹp đẽ chạy tới những cột buồm bạc và những sợi dây bằng lụa, chẳng mấy chốc đã giương buồm về kinh đô.

Ôi, đám thuỷ thủ hát vang vui vẻ biết bao khi con tàu lướt như bay trên mặt biển phẳng lặng như gương!

Cuối cùng tàu cập bến. Vị thuyền trưởng lên bờ, chạy về cung điện, thấy lão già độc ác đang ngủ. Công chúa ôm chầm lấy chồng thật lâu. Lão phù thuỷ định trốn, nhưng bị bắt, bị trói chặt bằng những sợi dây thừng chắc chắn.

Hôm sau, lão phù thuỷ bị buộc vào đuôi một con la hung dữ chở đầy hạt dẻ. Con la lồng lên, và lão tan xác thành bao nhiêu mảnh, bằng đúng số hạt dẻ trên lưng con la.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1889
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Bronze Ring, truyện dân gian Tiểu Á; Andrew Lang, The Blue Fairy Book, 1889
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →