Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chiếc vĩ cầm của Rốt-sin

của Anton Chekhov

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 19.607 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Thị trấn nhỏ xíu, còn tệ hơn một cái…
  2. 5:07Lão ngoái nhìn vợ. Mặt bà ửng hồng vì…
  3. 8:09Muốn thì muốn! ông y sĩ nói bằng cái…
  4. 9:34Còn lắm mồm nữa à! Đồ đầu đất…
  5. 11:25Bà mê sảng rồi đấy, lão nói.
  6. 13:46I-a-cốp thấy ghê tởm cái điệu gã Do Thái…
  7. 18:53Suốt buổi chiều và cả đêm, lão cứ mê…
  8. 22:25Và sau đó, suốt cả ngày, I-a-cốp nằm buồn…

Thị trấn nhỏ xíu, còn tệ hơn một cái làng, dân ở đó toàn là người già, mà họ lại chết thưa thớt đến phát bực. Nhà thương và nhà tù thì cần rất ít quan tài. Tóm lại, làm ăn thật bết bát. Giá I-a-cốp I-va-nốp là thợ đóng quan tài ở tỉnh lỵ, hẳn lão đã có nhà riêng, và người ta đã gọi lão là ông I-a-cốp Mát-vê-ích. Còn ở cái thị trấn cỏn con này, người ta gọi lão trống không là I-a-cốp, ngoài phố lão có cái biệt danh chẳng hiểu sao lại là Đồng Điếu, và lão sống nghèo như một anh nông dân, trong một túp nhà gỗ cũ kỹ, nhỏ bé, chỉ có độc một gian. Trong gian ấy có lão, có bà Mác-pha, cái lò sưởi, chiếc giường đôi, mấy cỗ quan tài, cái bàn thợ, và toàn bộ gia sản.

I-a-cốp đóng quan tài tốt, chắc chắn. Với nông dân và dân thị trấn, lão đóng theo đúng khổ người mình, và chưa lần nào nhầm, vì chẳng ở đâu có ai cao lớn, khoẻ mạnh hơn lão, kể cả trong nhà tù, dù lão đã bảy mươi tuổi. Còn với người quý phái và đàn bà, lão đóng theo số đo, và dùng một cây thước sắt để đo. Lão nhận đóng quan tài trẻ con rất miễn cưỡng, cứ thế mà làm chẳng cần đo, với vẻ khinh khỉnh, và lần nào nhận tiền công cũng nói:

— Thú thật, tôi chẳng ưa làm mấy thứ vớ vẩn.

Ngoài nghề đóng quan tài, lão còn kiếm thêm được chút ít nhờ kéo vĩ cầm. Ở thị trấn, các đám cưới thường thuê ban nhạc Do Thái, do ông thợ hàn nồi Mô-i-xây I-lích Sắc-két cầm đầu, ông này bỏ túi quá nửa tiền công. Vì I-a-cốp kéo vĩ cầm rất hay, nhất là những bài dân ca Nga, nên đôi khi Sắc-két mời lão vào ban nhạc, trả năm mươi cô-pếch một ngày, chưa kể quà của khách. Mỗi lần Đồng Điếu ngồi trong ban nhạc, thì trước hết mặt lão đổ mồ hôi và đỏ tía lên. Trời nóng, mùi tỏi nồng đến ngạt thở, cây vĩ cầm rít lên the thé, bên tai phải cây công-tơ-bát khò khè, bên tai trái cây sáo nỉ non như khóc. Người thổi sáo là một gã Do Thái tóc hung, gầy đét, trên mặt chằng chịt những mạch máu đỏ và xanh, lại mang đúng cái họ của nhà tỷ phú lừng danh Rốt-sin. Và cái gã Do Thái đáng nguyền rủa ấy tài đến nỗi bản nhạc vui nhất cũng thổi ra thành nỉ non ai oán. Chẳng có lý do gì rõ ràng, I-a-cốp cứ dần dần thấm thía lòng căm ghét và khinh bỉ những người Do Thái, mà nhất là Rốt-sin. Lão bắt đầu bới móc, chửi gã bằng những lời khó nghe, có lần còn định đánh gã. Rốt-sin tự ái, trừng mắt nhìn lão dữ tợn, nói:

— Nếu tôi không nể ông vì tài năng, thì ông đã bị tôi tống bay qua cửa sổ từ lâu rồi.

Rồi gã khóc. Vì thế người ta ít khi mời Đồng Điếu vào ban nhạc, chỉ những khi thật cần thiết, lúc thiếu một người Do Thái nào đó.

I-a-cốp chẳng bao giờ vui vẻ, vì lão luôn phải chịu những khoản thua lỗ khủng khiếp. Chẳng hạn, ngày chủ nhật và ngày lễ thì làm việc là có tội, thứ hai là ngày xui, thành ra cả năm có đến khoảng hai trăm ngày lão buộc phải ngồi khoanh tay. Thế thì lỗ biết bao nhiêu! Nếu trong thị trấn có ai làm đám cưới mà không thuê nhạc, hoặc Sắc-két không mời I-a-cốp, thì cũng là lỗ. Ông thanh tra cảnh sát ốm suốt hai năm, cứ héo hon dần, I-a-cốp sốt ruột chờ ông ta chết, thế mà ông ta lại lên tỉnh chữa bệnh, rồi chết luôn ở trên ấy. Thế là lỗ, ít ra cũng mười rúp, vì đáng lẽ phải đóng một cỗ quan tài đắt tiền, bọc gấm kim tuyến. Những ý nghĩ về thua lỗ hành hạ I-a-cốp nhất là về đêm. Lão để cây vĩ cầm bên cạnh mình trên giường, và khi những ý nghĩ vớ vẩn kéo đến, lão chạm vào dây đàn, cây vĩ cầm ngân lên một tiếng trong bóng tối, và lão thấy nhẹ nhõm hơn.

Ngày mùng sáu tháng Năm năm ngoái, bà Mác-pha bỗng lâm bệnh. Bà lão thở nặng nhọc, uống rất nhiều nước, đi lảo đảo, nhưng sáng hôm ấy vẫn tự nhóm lò, còn đi gánh nước nữa. Đến chiều thì bà nằm liệt. I-a-cốp kéo vĩ cầm suốt ngày. Khi trời tối hẳn, lão lấy cuốn sổ nhỏ, nơi ngày nào lão cũng ghi các khoản thua lỗ của mình, và vì buồn chán, lão bắt đầu cộng tổng cả năm. Ra hơn một nghìn rúp. Con số ấy làm lão choáng váng đến nỗi lão quăng cái bàn tính xuống sàn mà dậm chân thình thịch. Rồi lão nhặt bàn tính lên, lại gảy lách cách hồi lâu, thở dài sườn sượt, nặng nhọc. Mặt lão đỏ tía và ướt đẫm mồ hôi. Lão nghĩ, nếu cái nghìn rúp mất toi ấy mà gửi vào nhà băng, thì mỗi năm tiền lãi ít ra cũng được bốn mươi rúp. Vậy là bốn mươi rúp ấy cũng là một khoản lỗ. Tóm lại, xoay đằng nào cũng chỉ thấy lỗ, chẳng có gì khác.

— I-a-cốp! bà Mác-pha bỗng gọi. Tôi sắp chết rồi!

Lão ngoái nhìn vợ. Mặt bà ửng hồng vì sốt, sáng sủa và vui tươi lạ thường. Đồng Điếu vốn quen thấy gương mặt vợ lúc nào cũng xanh xao, rụt rè và khổ sở, giờ thì bối rối. Trông cứ như thể bà sắp chết thật, và mừng rằng cuối cùng mình cũng được ra đi mãi mãi khỏi túp nhà này, khỏi mấy cỗ quan tài, khỏi I-a-cốp… Bà nhìn lên trần nhà, mấp máy môi, vẻ mặt hạnh phúc, như thể bà đang nhìn thấy cái chết, người giải thoát cho bà, và đang thì thầm với nó.

Trời đã rạng, qua cửa sổ thấy ráng sáng đang bừng lên. Nhìn bà lão, chẳng hiểu sao I-a-cốp nhớ ra rằng hình như cả đời mình chưa một lần âu yếm bà, chưa một lần thương bà, chưa một lần nghĩ đến chuyện mua cho bà một cái khăn vuông, hay mang từ đám cưới về cho bà chút gì ngòn ngọt. Lão chỉ quát tháo bà, chửi bà vì những khoản thua lỗ, giơ nắm đấm xông vào bà. Phải, lão chưa bao giờ đánh bà, nhưng vẫn doạ, và lần nào bà cũng sợ đến cứng người. Phải, lão còn không cho bà uống trà, vì chi tiêu đã nhiều lắm rồi, nên bà chỉ uống nước nóng. Và lão hiểu vì sao giờ đây bà có gương mặt kỳ lạ, vui tươi như thế, và lão thấy rợn người.

Chờ đến sáng, lão mượn con ngựa của nhà hàng xóm, chở bà Mác-pha đến nhà thương. Ở đó không đông bệnh nhân lắm, nên lão chờ không lâu, chỉ chừng ba tiếng. Lão mừng quá, vì lần này người khám bệnh không phải ông bác sĩ, ông ta đang ốm, mà là ông y sĩ Mác-xim Ni-cô-la-ích, một ông già mà cả thị trấn đều bảo là tuy có rượu chè và hay đánh nhau, nhưng hiểu biết hơn cả bác sĩ.

— Kính chào ông ạ, I-a-cốp nói, dắt bà lão vào phòng khám. Xin ông thứ lỗi, lúc nào chúng tôi cũng làm phiền ông bằng mấy chuyện vặt vãnh, ông Mác-xim Ni-cô-la-ích. Ông xem đấy, đối tượng của tôi lâm bệnh. Người bạn đời, như người ta vẫn nói, xin lỗi ông vì cách nói…

Ông y sĩ cau đôi lông mày bạc, vuốt vuốt bộ tóc mai, bắt đầu xem xét bà lão. Còn bà thì ngồi còng lưng trên chiếc ghế đẩu, gầy đét, mũi nhọn, miệng há ra, nhìn nghiêng trông giống một con chim đang khát nước.

— Ừm… Thế… ông y sĩ chậm rãi nói rồi thở dài. Cúm, mà có khi là sốt thương hàn. Dạo này thị trấn đang có dịch thương hàn. Biết làm sao? Bà cụ sống thế là đủ rồi, nhờ trời… Bà ấy bao nhiêu tuổi?

— Dạ, bảy mươi thiếu một ạ, ông Mác-xim Ni-cô-la-ích.

— Thế thì biết làm sao? Bà cụ sống thế là đủ rồi. Cũng đến lúc phải biết điều mà đi chứ.

— Dạ, dĩ nhiên, ông nhận xét thật chí lý, ông Mác-xim Ni-cô-la-ích ạ, I-a-cốp nói, mỉm cười cho phải phép, và chúng tôi xin cảm ơn ông vì sự tử tế của ông, nhưng xin phép ông cho tôi nói, đến con sâu cái kiến cũng muốn sống.

— Muốn thì muốn! ông y sĩ nói bằng cái giọng như thể bà lão sống hay chết là do ông quyết định. Thôi được, ông bạn này, ông cứ chườm khăn lạnh lên đầu bà ấy, và cho bà ấy uống mấy gói thuốc bột này, mỗi ngày hai gói. Thế thôi, chào nhé, bông-dua.

Nhìn nét mặt ông ta, I-a-cốp biết là nguy rồi, thuốc bột nào cũng chẳng cứu được nữa. Lão thấy rõ ràng là bà Mác-pha sắp chết rất nhanh, không hôm nay thì mai. Lão khẽ thúc vào khuỷu tay ông y sĩ, nháy mắt, nói khẽ:

— Ông Mác-xim Ni-cô-la-ích, hay là ông giác cho bà ấy ạ.

— Không có thì giờ, không có thì giờ, ông bạn ạ. Dắt bà già của ông về đi, Chúa phù hộ. Chào nhé.

— Ông làm ơn làm phúc, I-a-cốp nài nỉ. Chính ông cũng biết đấy, giá mà bà ấy, ví dụ, đau bụng, hay đau gì ở trong ruột gan, thì đã đành phải uống thuốc bột, thuốc nước, đằng này bà ấy chỉ cảm lạnh thôi! Mà đã cảm lạnh thì việc đầu tiên là phải trích máu, ông Mác-xim Ni-cô-la-ích ạ.

Nhưng ông y sĩ đã gọi người bệnh tiếp theo, một người đàn bà dắt đứa bé trai bước vào phòng khám.

— Đi đi, đi đi… ông ta nói với I-a-cốp, cau mày. Đừng có làm rối thêm.

— Thế thì ông cho bà ấy mấy con đỉa cũng được! Tôi sẽ cầu Chúa cho ông suốt đời!

Ông y sĩ nổi nóng, quát:

— Còn lắm mồm nữa à! Đồ đầu đất…

I-a-cốp cũng nổi nóng, mặt đỏ tía cả lên, nhưng không nói một lời, khoác tay bà Mác-pha dắt ra khỏi phòng khám. Chỉ đến lúc ngồi lên xe ngựa rồi, lão mới nhìn nhà thương một cách nghiêm khắc và giễu cợt, nói:

— Người ta nhét vào đây toàn những tay nghệ sĩ! Nhà giàu thì ông ta giác cho rồi, còn người nghèo thì đến một con đỉa cũng tiếc. Đồ quân bạo chúa!

Về đến nhà, bà Mác-pha bước vào gian nhà rồi đứng vịn vào lò sưởi chừng mười phút. Bà nghĩ nếu bà nằm xuống, I-a-cốp sẽ lại nói đến những khoản thua lỗ, và mắng bà là cứ nằm ườn ra không chịu làm việc. Còn I-a-cốp nhìn bà chán chường, và nhớ ra rằng mai là lễ thánh Gio-an Thần học, ngày kia là lễ thánh Ni-cô-la, rồi đến chủ nhật, rồi thứ hai là ngày xui. Bốn ngày không được làm việc, mà chắc bà Mác-pha sẽ chết vào một trong mấy ngày ấy. Vậy thì phải đóng quan tài ngay hôm nay. Lão lấy cây thước sắt, đến bên bà lão, đo người bà. Rồi bà nằm xuống, còn lão làm dấu thánh giá, và bắt đầu đóng quan tài.

Khi làm xong, Đồng Điếu đeo kính vào, ghi vào sổ:

«Quan tài cho Mác-pha I-va-nô-va, hai rúp bốn mươi cô-pếch».

Rồi lão thở dài. Bà lão vẫn nằm im lặng, mắt nhắm nghiền. Nhưng đến chiều, khi trời tối, bà bỗng gọi ông lão.

— Ông có nhớ không, I-a-cốp? bà hỏi, nhìn lão vui vẻ. Ông có nhớ không, năm mươi năm trước, Chúa cho chúng mình một đứa con tóc vàng hoe? Hồi ấy hai đứa mình cứ ngồi bên bờ sông mà hát… dưới gốc cây liễu. Rồi bà cười chua chát, nói thêm: Con bé chết rồi.

I-a-cốp cố moi óc, nhưng không sao nhớ ra được đứa con, cũng chẳng nhớ ra cây liễu.

— Bà mê sảng rồi đấy, lão nói.

Cha xứ đến, cho bà rước lễ và xức dầu thánh. Rồi bà Mác-pha bắt đầu lẩm bẩm những gì không ai hiểu, và đến sáng thì qua đời.

Mấy bà lão hàng xóm tắm rửa, mặc quần áo cho bà, rồi đặt bà vào quan tài. Để khỏi phải trả thêm tiền cho ông thầy giúp lễ, I-a-cốp tự đọc thánh vịnh, còn tiền mộ thì người ta không lấy của lão đồng nào, vì ông gác nghĩa địa là ông thông gia với lão. Bốn người nông dân khiêng quan tài ra nghĩa địa, không phải vì tiền, mà vì nể trọng. Đi theo quan tài có mấy bà lão, mấy người ăn mày, hai người khùng, người qua đường thì thành kính làm dấu thánh giá… Và I-a-cốp rất hài lòng vì mọi việc đều đàng hoàng, tươm tất, rẻ, và không làm phật lòng ai. Khi từ biệt bà Mác-pha lần cuối, lão đưa tay sờ cỗ quan tài và nghĩ: «Làm khéo đấy!»

Nhưng khi từ nghĩa địa trở về, một nỗi buồn nặng trĩu xâm chiếm lão. Lão thấy trong người khó ở: hơi thở nóng và nặng nhọc, hai chân rã rời, cứ thèm uống nước. Rồi đủ thứ ý nghĩ lại kéo đến trong đầu. Lão lại nhớ ra rằng cả đời mình chưa một lần thương bà Mác-pha, chưa một lần âu yếm bà. Năm mươi hai năm sống chung một túp nhà, dài dằng dặc, vậy mà chẳng hiểu sao suốt ngần ấy năm, chưa một lần lão nghĩ đến bà, để ý đến bà, cứ như bà là một con mèo hay một con chó. Thế mà ngày nào bà cũng nhóm lò, nấu nướng, nướng bánh, đi gánh nước, bổ củi, ngủ chung một giường với lão. Và mỗi lần lão say khướt từ đám cưới trở về, lần nào bà cũng kính cẩn treo cây vĩ cầm của lão lên tường, rồi dìu lão đi ngủ. Tất cả những việc ấy bà đều làm lặng lẽ, với vẻ rụt rè, chăm chút.

Rốt-sin đi ngược chiều về phía I-a-cốp, vừa cười vừa cúi chào.

— Tôi đang đi tìm bác đây, bác ơi! gã nói. Ông Mô-i-xây I-lích gửi lời chào bác, và bảo bác đến chỗ ông ấy ngay bây giờ.

I-a-cốp chẳng còn bụng dạ nào. Lão chỉ muốn khóc.

— Để tao yên! lão nói rồi đi tiếp.

— Sao lại thế được ạ? Rốt-sin lo lắng, chạy vượt lên trước. Ông Mô-i-xây I-lích sẽ phật ý mất! Ông ấy bảo phải đến ngay cơ!

I-a-cốp thấy ghê tởm cái điệu gã Do Thái thở hổn hển, chớp chớp mắt, và cái mặt lấm tấm bao nhiêu là tàn nhang hung đỏ. Lão thấy kinh tởm khi nhìn cái áo khoác màu xanh lá vá những miếng vá sẫm màu, và cả cái dáng người mảnh khảnh, yếu ớt của gã.

— Mày bám lấy tao làm gì, đồ hôi tỏi? I-a-cốp quát. Đừng có quấy tao!

Gã Do Thái nổi giận, cũng quát lên:

— Nhưng ông làm ơn nói khẽ chứ, không thì tôi cho ông bay qua hàng rào đấy!

— Cút ngay khỏi mắt tao! I-a-cốp gầm lên rồi giơ nắm đấm xông vào gã. Bọn Do Thái chúng mày làm người ta không sống nổi!

Rốt-sin sợ chết khiếp, mặt cắt không còn hột máu, ngồi thụp xuống, vung hai tay lên trên đầu như để đỡ đòn, rồi nhảy bật dậy, chạy biến đi, chạy thục mạng. Vừa chạy gã vừa nhảy cẫng lên, vung vẩy hai tay, và thấy rõ cái lưng dài, gầy guộc của gã run lên bần bật. Lũ trẻ con được dịp mừng rỡ, ùa theo gã mà la hét: «Đồ Do Thái! Đồ Do Thái!» Lũ chó cũng sủa ầm ĩ đuổi theo gã. Có ai đó cười ha hả, rồi huýt sáo, lũ chó sủa to hơn, rộ lên… Rồi sau đó, hẳn là có một con chó đã cắn Rốt-sin, vì nghe có một tiếng kêu tuyệt vọng, đau đớn.

I-a-cốp đi lang thang trên bãi chăn thả, rồi men theo rìa thị trấn, đi chẳng định đâu, và lũ trẻ con la lên: «Đồng Điếu đến kìa! Đồng Điếu đến kìa!» Rồi sông hiện ra. Ở đây, lũ chim choắt bay vun vút, kêu chiêm chiếp, lũ vịt kêu quàng quạc. Nắng gay gắt, mặt nước lấp lánh chói chang đến đau mắt. I-a-cốp đi dọc theo con đường mòn ven bờ, thấy một bà đẫy đà, má đỏ hây hây bước ra từ nhà tắm sông, và nghĩ thầm về bà ta: «Ái chà, con rái cá!» Cách nhà tắm không xa, lũ trẻ đang dùng thịt làm mồi câu tôm. Thấy lão, chúng hằn học la lên: «Đồng Điếu! Đồng Điếu!» Rồi đây là một cây liễu già, tán rộng, có một cái hốc to tướng, trên cây có mấy tổ quạ… Và bỗng nhiên trong trí nhớ của I-a-cốp hiện lên sống động một đứa bé tóc vàng hoe, và cây liễu mà bà Mác-pha đã nói đến. Phải, chính là cây liễu này đây, xanh tươi, lặng lẽ, buồn bã… Nó già đi nhiều quá, tội nghiệp!

Lão ngồi xuống dưới gốc cây và bắt đầu hồi tưởng. Bên kia sông, chỗ bây giờ là bãi cỏ ngập nước, hồi ấy là một rừng bạch dương lớn, và trên ngọn đồi trọc thấp thoáng ở chân trời đằng kia, hồi ấy là một rừng thông già xanh thẫm. Trên sông có những chiếc thuyền buồm qua lại. Còn bây giờ thì tất cả đều bằng phẳng, trơn lì, bên kia sông chỉ còn một cây bạch dương non, mảnh mai như một cô thiếu nữ, còn trên sông chỉ có vịt với ngỗng, chẳng có vẻ gì là ở đây từng có thuyền bè qua lại. Hình như so với ngày trước, ngỗng cũng ít đi. I-a-cốp nhắm mắt lại, và trong trí tưởng tượng của lão, những đàn ngỗng trắng khổng lồ bay ngược chiều nhau.

Lão không hiểu sao lại thế: suốt bốn năm mươi năm cuối đời, lão chưa ra sông lần nào, mà nếu có ra, thì cũng chẳng để ý gì đến nó. Thế mà con sông này lớn đấy chứ, có phải sông vớ vẩn đâu. Có thể mở nghề đánh cá trên sông, đem cá bán cho bọn lái buôn, bọn công chức và ông chủ quán ở nhà ga, rồi gửi tiền vào nhà băng. Có thể bơi thuyền từ trang trại này sang trang trại khác mà kéo vĩ cầm, thiên hạ đủ mọi hạng người sẽ trả tiền. Có thể thử chở thuyền buồm như ngày xưa, thế còn hơn đóng quan tài. Cuối cùng, có thể nuôi ngỗng, giết thịt, mùa đông gửi lên Mát-xcơ-va bán. Chắc chỉ riêng lông tơ thôi, mỗi năm cũng được mười rúp. Thế mà lão bỏ lỡ hết, chẳng làm được việc nào. Lỗ biết bao nhiêu! Ôi, lỗ biết bao nhiêu! Mà nếu làm tất cả một lúc, vừa đánh cá, vừa kéo vĩ cầm, vừa chở thuyền, vừa nuôi ngỗng, thì sẽ thành cả một gia tài! Nhưng chẳng có gì hết, kể cả trong giấc mơ. Cuộc đời trôi qua vô ích, chẳng có chút niềm vui nào, mất toi, chẳng đáng một nhúm thuốc lá. Phía trước chẳng còn gì nữa, mà ngoảnh lại phía sau thì cũng chẳng có gì, ngoài những khoản thua lỗ, khủng khiếp đến rợn người. Mà sao con người lại không thể sống sao cho khỏi có những mất mát, thua lỗ này? Thử hỏi, sao người ta lại chặt rừng bạch dương và rừng thông? Sao bãi chăn thả lại bỏ không? Sao người ta cứ toàn làm những việc không nên làm? Sao I-a-cốp suốt đời cứ chửi mắng, gầm gừ, giơ nắm đấm xông vào người khác, ức hiếp vợ mình, và thử hỏi, để làm gì mà lúc nãy lão lại doạ nạt và lăng nhục gã Do Thái? Mà sao nói chung con người cứ cản trở nhau sống? Như thế thì lỗ biết bao nhiêu! Lỗ khủng khiếp biết bao nhiêu! Giá không có hận thù và độc ác, con người ta sẽ được lợi từ nhau biết bao nhiêu.

Suốt buổi chiều và cả đêm, lão cứ mê mê thấy đứa bé, cây liễu, cá, những con ngỗng bị giết, bà Mác-pha nhìn nghiêng giống một con chim đang khát nước, và gương mặt xanh xao, tội nghiệp của Rốt-sin, rồi những bộ mặt gì đó cứ từ bốn phía xô tới, lẩm bẩm về những khoản thua lỗ. Lão trằn trọc trở mình, và có đến năm lần ra khỏi giường để kéo vĩ cầm.

Sáng hôm sau, lão gượng dậy, đi đến nhà thương. Vẫn ông Mác-xim Ni-cô-la-ích bảo lão chườm khăn lạnh lên đầu, đưa cho lão mấy gói thuốc bột, và nhìn nét mặt cùng giọng nói của ông ta, I-a-cốp hiểu là nguy rồi, thuốc bột nào cũng chẳng cứu được nữa. Trên đường về nhà, lão nghĩ rằng chết thì chỉ có lợi: không phải ăn, không phải uống, không phải nộp thuế, không phải ức hiếp ai. Mà người ta nằm dưới mộ đâu phải một năm, mà hàng trăm, hàng nghìn năm, thế thì tính ra lợi lớn vô cùng. Sống thì con người bị lỗ, còn chết thì được lợi. Lẽ ấy dĩ nhiên là đúng, nhưng sao vẫn thấy tủi, thấy cay đắng: sao trên đời lại có cái trật tự kỳ quặc thế này, cuộc đời, thứ mà con người chỉ được ban cho một lần, lại trôi qua vô ích?

Lão không tiếc phải chết, nhưng vừa về đến nhà, thấy cây vĩ cầm, tim lão thắt lại, và lão thấy tiếc. Cây vĩ cầm thì không thể mang theo xuống mộ, giờ đây nó sẽ thành mồ côi, và rồi nó cũng sẽ như rừng bạch dương và rừng thông kia. Mọi thứ trên đời này đều mất đi, và sẽ còn mất đi! I-a-cốp ra khỏi nhà, ngồi xuống ngưỡng cửa, ôm cây vĩ cầm vào ngực. Nghĩ đến cuộc đời mất toi, toàn thua lỗ, lão bắt đầu kéo đàn, chẳng biết mình kéo bài gì, nhưng tiếng đàn cất lên ai oán và cảm động, và nước mắt chảy dài trên má lão. Lão càng nghĩ sâu, cây vĩ cầm càng hát buồn hơn.

Cái then cổng kêu lạch cạch một hai lần, và Rốt-sin hiện ra ở cổng. Gã mạnh dạn đi được nửa sân, nhưng thấy I-a-cốp thì bỗng khựng lại, co rúm người, và hẳn là vì sợ, gã bắt đầu làm những cử chỉ bằng tay, như thể muốn đếm trên ngón tay xem bây giờ là mấy giờ.

— Lại đây, không sao đâu, I-a-cốp dịu dàng nói, vẫy gã lại gần. Lại đây!

Nhìn lão ngờ vực và sợ hãi, Rốt-sin bắt đầu bước tới, rồi dừng lại cách lão chừng hai thước.

— Ông làm ơn làm phúc, đừng đánh tôi! gã nói, khom người xuống. Ông Mô-i-xây I-lích lại sai tôi đến. Ông ấy bảo, đừng sợ, cứ đến chỗ bác I-a-cốp lần nữa, và bảo bác ấy là không có bác ấy thì không tài nào xong được. Thứ tư này có đám cưới… Vâng! Ông Sa-pô-va-lốp gả con gái cho một người tốt lắm… Mà đám cưới sẽ sang lắm, ôi chao! gã Do Thái nói thêm, nheo một mắt.

— Tao không đi được… I-a-cốp nói, thở nặng nhọc. Tao ốm rồi, anh bạn ạ.

Rồi lão lại kéo đàn, nước mắt trào ra rơi xuống cây vĩ cầm. Rốt-sin chăm chú lắng nghe, đứng nghiêng người về phía lão, hai tay khoanh trước ngực. Vẻ sợ hãi, ngơ ngác trên mặt gã dần dần nhường chỗ cho vẻ đau buồn, khổ sở. Gã trợn ngược mắt lên, như đang trải qua một niềm say mê đau đớn, và thốt lên: «Ôi chao ôi!..» Rồi nước mắt chầm chậm chảy dài trên má gã, nhỏ giọt xuống chiếc áo khoác màu xanh lá.

Và sau đó, suốt cả ngày, I-a-cốp nằm buồn rầu. Buổi chiều, khi cha xứ đến làm phép giải tội, hỏi lão có nhớ mình đã phạm tội gì đặc biệt không, lão cố gắng lục lọi trí nhớ đang yếu dần, lại nhớ đến gương mặt bất hạnh của bà Mác-pha, và tiếng kêu tuyệt vọng của gã Do Thái bị chó cắn, rồi nói khẽ đến mức gần như không nghe thấy:

— Hãy đem cây vĩ cầm cho Rốt-sin.

— Được, cha xứ đáp.

Và giờ đây, cả thị trấn ai cũng hỏi: Rốt-sin lấy đâu ra cây vĩ cầm tốt thế? Gã mua, hay gã ăn cắp, hay có lẽ người ta cầm cố cho gã? Gã đã bỏ cây sáo từ lâu, giờ chỉ chơi vĩ cầm. Dưới cây vĩ của gã tuôn ra những âm thanh nỉ non y như ngày trước từ cây sáo. Nhưng mỗi khi gã cố chơi lại cái bài mà I-a-cốp đã kéo khi ngồi trên ngưỡng cửa, thì nó cất lên buồn thảm, đau đớn đến nỗi người nghe phải khóc, và đến cuối bài, chính gã cũng trợn ngược mắt lên mà thốt: «Ôi chao ôi!..» Và bài hát mới ấy được cả thị trấn ưa thích đến nỗi bọn lái buôn và bọn công chức tranh nhau mời Rốt-sin đến nhà, bắt gã chơi đến chục lần.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Скрипка Ротшильда, 1894
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →