Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chuyện của một con chó

của Mark Twain

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 21.195 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Bố tôi là giống chó Xanh Bẹc-na, mẹ tôi…
  2. 4:17Qua những chuyện ấy, các bạn thấy mẹ tôi…
  3. 7:14Tôi cũng như một thành viên trong gia đình.…
  4. 11:28Chưa kịp nghĩ, tôi đã hoảng sợ nhảy xuống…
  5. 14:54Đó là tuyệt vọng. Chẳng có kế hoạch nào…
  6. 17:44“Nó cao hơn bản năng nhiều. Đó là LÝ…
  7. 20:12“Đúng thế. Ông đã chứng minh được lý thuyết…
  8. 22:41“Tội nghiệp mấy mẹ con bà chủ! Họ có…

Bố tôi là giống chó Xanh Bẹc-na, mẹ tôi là giống chó côn-li, còn tôi thì theo phái Trưởng Lão. Mẹ tôi bảo thế. Chứ tự tôi thì tôi không biết mấy cái phân biệt tinh tế ấy. Với tôi, chúng chỉ là những chữ to đẹp đẽ, chẳng có nghĩa gì.

Mẹ tôi mê những chữ như thế. Mẹ thích nói ra, rồi nhìn những con chó khác ngạc nhiên, ghen tị, tự hỏi làm sao mẹ lại có học vấn đến thế. Nhưng thật ra đó không phải học vấn thật, chỉ là phô trương thôi. Mẹ học được những chữ ấy bằng cách nằm nghe trong phòng ăn và phòng khách những khi nhà có khách, và đi theo bọn trẻ tới lớp giáo lý ngày Chủ nhật mà nghe ở đó. Hễ nghe được chữ nào to tát, mẹ lại tự nhẩm đi nhẩm lại nhiều lần, nhờ thế mà giữ được nó cho tới khi trong xóm có một cuộc họp mặt chó. Lúc ấy mẹ mới tung nó ra, làm cả bọn ngạc nhiên và khổ sở, từ con chó cảnh bỏ túi cho tới con chó ngao, thế là bõ công mẹ vất vả.

Nếu có một con chó lạ, nó gần như chắc chắn sẽ nghi ngờ. Lấy lại được hơi, nó sẽ hỏi mẹ chữ ấy nghĩa là gì. Và lần nào mẹ cũng giải thích cho nó. Nó chẳng bao giờ ngờ được điều ấy, cứ tưởng sẽ bắt bí được mẹ. Thế nên khi mẹ giải thích xong, chính nó lại là đứa xấu hổ, trong khi nó cứ tưởng mẹ mới là người phải xấu hổ. Bọn chó kia lúc nào cũng chờ cảnh ấy, chúng mừng rỡ, tự hào về mẹ, vì chúng biết chuyện gì sắp xảy ra, chúng đã có kinh nghiệm rồi.

Khi mẹ giải thích nghĩa một chữ to, cả bọn mải trầm trồ tới mức chẳng con chó nào nghĩ tới chuyện ngờ vực xem nghĩa ấy có đúng không. Mà cũng tự nhiên thôi. Một là vì mẹ đáp nhanh nhảu tới mức nghe như quyển từ điển đang nói. Hai là, chúng biết tìm đâu ra xem đúng hay sai? Vì mẹ là con chó có học duy nhất ở đó.

Về sau, khi tôi đã lớn hơn, có lần mẹ mang về chữ “phi trí thức”, rồi khai thác nó hết sức suốt cả tuần ở các cuộc họp mặt khác nhau, gây ra bao nhiêu buồn bã, chán nản. Chính tuần ấy tôi để ý thấy mẹ bị hỏi nghĩa của nó ở tám cuộc họp mặt khác nhau, và lần nào mẹ cũng loé ra một định nghĩa mới. Điều đó cho tôi thấy mẹ nhanh trí nhiều hơn là có học, dĩ nhiên tôi chẳng nói gì.

Mẹ có một chữ lúc nào cũng giữ sẵn bên mình, như cái phao cứu sinh, một chữ khẩn cấp để buộc vào người khi sắp bị sóng cuốn khỏi tàu bất thình lình. Đó là chữ “đồng nghĩa”. Những khi mẹ tình cờ lôi ra một chữ dài đã hết thời từ mấy tuần trước, mà những nghĩa mẹ chuẩn bị cho nó đã bị vứt vào đống rác, nếu có con chó lạ ở đó, dĩ nhiên nó sẽ choáng váng mất vài phút. Rồi nó tỉnh lại, nhưng lúc ấy mẹ đã chạy xa theo chiều gió, sang một chuyện khác, chẳng phòng bị gì. Thế nên khi nó lên tiếng đòi mẹ giải thích, thì tôi, con chó duy nhất biết trò của mẹ, thấy cánh buồm của mẹ khẽ rung lên một thoáng, chỉ một thoáng thôi, rồi lại căng phồng, và mẹ nói, bình thản như một ngày hè: “Nó đồng nghĩa với sự siêu nghĩa vụ”, hay một con bò sát chữ nghĩa dài ngoằng vô đạo nào đó, rồi thản nhiên lướt đi theo hướng khác, hoàn toàn thoải mái. Còn con chó lạ thì đứng đó, trông vừa tức tối vừa ngượng ngùng, trong khi những con chó trong cuộc đồng loạt quất đuôi xuống sàn, gương mặt rạng ngời một niềm vui thánh thiện.

Với những cụm từ cũng vậy. Mẹ lôi về cả một cụm từ, miễn là nó nghe kêu, rồi diễn nó sáu đêm liền thêm hai suất chiều, mỗi lần giải thích theo một kiểu mới. Mẹ buộc phải thế, vì mẹ chỉ quan tâm tới cụm từ, chẳng quan tâm nó nghĩa là gì, mà mẹ biết lũ chó kia đằng nào cũng chẳng đủ trí khôn để bắt bẻ. Phải, mẹ tôi đúng là hết sẩy! Mẹ tin vào sự dốt nát của lũ chó kia tới mức chẳng sợ gì cả.

Mẹ còn mang về cả những câu chuyện vui mà mẹ nghe cả nhà và khách khứa cười vang lúc ăn tối. Thường thì mẹ đem cái kết của chuyện cũ này gắn vào chuyện cũ khác, dĩ nhiên là chẳng ăn khớp, chẳng có gì buồn cười. Khi tới đoạn kết, mẹ ngã lăn ra sàn, vừa lăn vừa cười vừa sủa như điên, trong khi tôi thấy rõ mẹ đang tự hỏi sao bây giờ nó không buồn cười như lúc mẹ mới nghe. Nhưng chẳng hại gì. Lũ chó kia cũng lăn ra sủa, thầm xấu hổ vì không hiểu cái hay ở đâu, chẳng bao giờ ngờ rằng lỗi không phải ở chúng, mà vốn chẳng có cái hay nào để hiểu.

Qua những chuyện ấy, các bạn thấy mẹ tôi tính hơi kiêu kỳ, nông nổi. Dù vậy, mẹ có những đức tính tốt, tôi nghĩ là đủ để bù lại. Mẹ có trái tim nhân hậu, cử chỉ dịu dàng, không bao giờ để bụng những điều người khác làm tổn thương mình, mà dễ dàng gạt chúng ra khỏi đầu và quên đi. Mẹ dạy con cái lối sống nhân hậu của mình. Từ mẹ, chúng tôi còn học được lòng dũng cảm, sự nhanh nhẹn lúc hiểm nguy, không bỏ chạy, mà đối mặt với tai hoạ đang đe doạ bạn bè hay người lạ, giúp người ta hết sức mình, không dừng lại tính xem mình sẽ phải trả giá bao nhiêu.

Mà mẹ không dạy chúng tôi chỉ bằng lời, mà bằng tấm gương, đó là cách tốt nhất, chắc chắn nhất, lâu bền nhất. Ôi, những việc dũng cảm mẹ đã làm, những việc tuyệt vời! Mẹ đúng là một người lính. Mà mẹ lại khiêm tốn về chuyện ấy biết bao. Thôi thì, các bạn không thể không ngưỡng mộ mẹ, không thể không bắt chước mẹ. Đến cả một con chó giống Vua Sác-lơ cũng không thể hèn hạ hoàn toàn khi ở cạnh mẹ. Đấy, các bạn thấy đấy, mẹ tôi còn nhiều điều đáng quý hơn cái học vấn của mẹ.

Cuối cùng, khi tôi đã lớn hẳn, người ta bán tôi và mang tôi đi, và tôi không bao giờ gặp lại mẹ nữa. Mẹ đau lòng lắm, tôi cũng vậy, cả hai mẹ con đều khóc. Nhưng mẹ an ủi tôi hết sức, bảo rằng chúng ta được sinh ra trên đời vì một mục đích tốt đẹp và khôn ngoan, phải làm tròn bổn phận mà không than vãn, sống cuộc đời như nó đến với ta, sống vì điều tốt đẹp nhất cho người khác, và đừng bận tâm tới kết quả, vì kết quả không phải việc của chúng ta.

Mẹ bảo những người sống như thế rồi sẽ được một phần thưởng cao quý, đẹp đẽ ở một thế giới khác. Và tuy loài vật chúng ta sẽ không tới đó, nhưng sống tốt, sống đúng mà không cần phần thưởng sẽ đem lại cho cuộc đời ngắn ngủi của chúng ta một giá trị và phẩm giá, mà tự thân điều ấy đã là phần thưởng. Mẹ gom nhặt những điều này dần dần, những lần đi theo bọn trẻ tới lớp giáo lý ngày Chủ nhật, và cất giữ chúng trong trí nhớ cẩn thận hơn những chữ, những cụm từ kia. Mẹ đã suy ngẫm chúng thật sâu, vì điều tốt cho mẹ và cho chúng tôi. Qua đó có thể thấy mẹ có cái đầu khôn ngoan, chín chắn, dù trong đó cũng có nhiều nông nổi và kiêu kỳ.

Thế là mẹ con tôi chào từ biệt, nhìn nhau lần cuối qua làn nước mắt. Điều cuối cùng mẹ nói, tôi nghĩ mẹ để dành tới cuối để tôi nhớ cho kỹ, là:

“Để nhớ tới mẹ, khi có người khác gặp nguy hiểm, con đừng nghĩ tới bản thân, hãy nghĩ tới mẹ, và làm như mẹ sẽ làm.”

Các bạn nghĩ tôi có thể quên điều ấy không? Không.

Ngôi nhà mới của tôi mới đáng yêu làm sao! Một ngôi nhà lớn đẹp đẽ, có tranh, có đồ trang trí tinh xảo, đồ đạc sang trọng, không chỗ nào u ám, mà toàn là một rừng màu sắc thanh nhã bừng lên trong ánh nắng chan hoà. Quanh nhà là khuôn viên rộng rãi, một khu vườn lớn. Ôi, thảm cỏ xanh, cây cối cao lớn, và hoa, hoa không kể xiết!

Tôi cũng như một thành viên trong gia đình. Mọi người yêu tôi, vuốt ve tôi, không đặt cho tôi tên mới, mà gọi tôi bằng cái tên cũ, cái tên thân thương với tôi vì do mẹ đặt: Ai-lin Ma-vua-nin. Mẹ lấy nó từ một bài hát. Nhà Grây biết bài hát ấy, và bảo đó là một cái tên đẹp.

Bà Grây ba mươi tuổi, dịu dàng, đáng yêu tới mức các bạn không tưởng tượng nổi. Cô bé Xê-đi mười tuổi, giống mẹ như đúc, một bản sao bé bỏng, mảnh mai, thân yêu của mẹ, hai bím tóc màu hạt dẻ thả sau lưng, mặc váy ngắn. Em bé thì mới một tuổi, bụ bẫm, má lúm đồng tiền, quý tôi lắm, kéo đuôi tôi mãi không chán, ôm tôi, cười vang niềm hạnh phúc ngây thơ.

Ông Grây ba mươi tám tuổi, cao, mảnh dẻ, đẹp trai, trán hơi hói, nhanh nhẹn, cử chỉ lẹ làng, làm việc ra dáng doanh nhân, mau mắn, quả quyết, không uỷ mị, với gương mặt tạc gọn gàng như lấp lánh một vẻ trí tuệ lạnh như băng! Ông là một nhà khoa học lừng danh. Tôi không biết chữ “nhà khoa học” nghĩa là gì, nhưng mẹ tôi hẳn sẽ biết cách dùng nó cho kêu. Mẹ sẽ biết cách dùng nó làm một con chó săn chuột cụt hứng, làm một con chó cảnh hối hận vì đã tới.

Nhưng chữ ấy chưa phải hay nhất. Hay nhất là chữ “phòng thí nghiệm”. Với chữ ấy, mẹ tôi có thể lập cả một tập đoàn lột sạch vòng cổ của cả bầy chó. Phòng thí nghiệm không phải là một cuốn sách, hay một bức tranh, hay một chỗ để rửa tay như con chó của ông hiệu trưởng trường đại học nói. Không, chỗ rửa tay là phòng vệ sinh. Phòng thí nghiệm khác hẳn, đầy những lọ, những chai, những máy điện, dây điện và những cỗ máy kỳ lạ. Tuần nào cũng có những nhà khoa học khác tới đó ngồi, dùng máy móc, bàn luận, và làm những thứ họ gọi là thí nghiệm và phát minh. Tôi cũng thường tới, đứng quanh quẩn lắng nghe, cố học hỏi, vì mẹ tôi, để tưởng nhớ mẹ với lòng yêu thương. Dù điều ấy làm tôi đau lòng, vì tôi nhận ra mẹ đang mất đi biết bao điều trong đời, còn tôi thì chẳng thu được gì. Vì cố tới đâu tôi cũng chẳng hiểu nổi chút gì.

Có những lúc tôi nằm ngủ trên sàn phòng làm việc của bà chủ, bà dịu dàng dùng tôi làm cái kê chân, biết rằng tôi thích thế, vì đó là một cách vuốt ve. Có lúc tôi ở trong phòng trẻ cả giờ, bị vò cho rối bù và sung sướng. Có lúc tôi canh bên nôi, khi em bé ngủ và chị vú ra ngoài vài phút lo việc cho em. Có lúc tôi nô đùa, chạy nhảy khắp khuôn viên và khu vườn với Xê-đi cho tới khi mệt lử, rồi ngủ thiếp trên cỏ dưới bóng cây trong lúc cô bé đọc sách. Có lúc tôi đi thăm những con chó hàng xóm, vì gần đó có mấy con rất dễ mến. Trong đó có một con rất đẹp, lịch sự, duyên dáng, giống chó săn Ai-len lông xoăn tên là Rô-bin A-đe, cũng theo phái Trưởng Lão như tôi, là chó của ông mục sư người Xcốt-len.

Người làm trong nhà ai cũng tốt với tôi, quý tôi. Vậy đấy, các bạn thấy cuộc sống của tôi dễ chịu biết bao. Không thể có con chó nào hạnh phúc hơn tôi, biết ơn hơn tôi. Tôi xin nói điều này về mình, vì đó chỉ là sự thật: tôi cố gắng bằng mọi cách để sống tốt, sống đúng, để tôn vinh kỷ niệm và lời dạy của mẹ, và để xứng đáng với hạnh phúc đã đến với tôi, hết sức mình.

Rồi chẳng bao lâu, đứa con nhỏ của tôi ra đời, và lúc ấy chén hạnh phúc của tôi đã đầy, niềm vui của tôi đã trọn vẹn. Nó là cái sinh linh bé bỏng chập chững thân yêu nhất, mượt mà, mềm mại như nhung, với những bàn chân nhỏ vụng về đáng yêu, đôi mắt trìu mến, gương mặt ngây thơ ngọt ngào. Tôi tự hào biết bao khi thấy bọn trẻ và mẹ chúng cưng nó, vuốt ve nó, xuýt xoa trước từng điều kỳ diệu nho nhỏ nó làm. Tôi thấy dường như cuộc đời đẹp đẽ quá đến nỗi...

Rồi mùa đông tới. Một hôm tôi đang canh gác trong phòng trẻ. Nghĩa là tôi đang ngủ trên giường. Em bé ngủ trong nôi, đặt cạnh giường, phía gần lò sưởi. Đó là loại nôi có cái mùng cao như mái lều, bằng vải voan mỏng nhìn xuyên qua được. Chị vú ra ngoài, chỉ còn hai kẻ đang ngủ chúng tôi ở một mình. Một tia lửa từ lò củi bắn ra, đậu xuống sườn mùng. Tôi đoán sau đó là một lúc lặng yên, rồi một tiếng thét của em bé đánh thức tôi dậy, và cái mùng đã bốc cháy ngùn ngụt lên tận trần nhà!

Chưa kịp nghĩ, tôi đã hoảng sợ nhảy xuống sàn, chỉ một giây đã ra tới nửa đường tới cửa. Nhưng nửa giây sau, lời dặn lúc chia tay của mẹ vang lên bên tai tôi, và tôi đã trở lại trên giường. Tôi thò đầu qua ngọn lửa, ngoạm cạp quần em bé lôi ra, cố sức kéo đi, rồi cả hai cùng ngã xuống sàn giữa một đám khói. Tôi ngoạm lại chỗ khác, kéo cái sinh linh nhỏ đang gào khóc ra khỏi cửa, qua khúc quanh hành lang. Tôi vẫn đang cố sức kéo, lòng rộn ràng, vui sướng, tự hào, thì tiếng ông chủ quát lên:

“Cút đi, đồ súc vật khốn kiếp!”

Tôi nhảy đi để tự cứu mình, nhưng ông nhanh khủng khiếp, đuổi theo tôi, giận dữ vung gậy đánh túi bụi. Tôi kinh hoàng né bên này né bên kia, rồi cuối cùng một cú đánh mạnh giáng xuống chân trái phía trước, khiến tôi rú lên và ngã xuống, trong chốc lát không cựa quậy được. Cây gậy lại giơ lên định đánh nữa, nhưng không bao giờ giáng xuống, vì tiếng chị vú hốt hoảng vang lên: “Phòng trẻ cháy rồi!” Ông chủ lao về phía ấy, và những chiếc xương khác của tôi được cứu.

Đau đớn tàn nhẫn, nhưng mặc kệ, tôi không được phí thời gian. Ông có thể quay lại bất cứ lúc nào. Thế là tôi lê ba chân tới đầu kia hành lang, nơi có một cầu thang nhỏ tối om dẫn lên gác xép, chỗ cất hòm cũ và những thứ linh tinh, như tôi từng nghe nói, chỗ ít người lên. Tôi cố trèo lên được, rồi lần mò trong bóng tối giữa những đống đồ, nấp vào chỗ kín đáo nhất tìm được. Ở đó mà sợ thì thật dại, nhưng tôi vẫn sợ. Sợ tới mức tôi nín lặng, gần như không dám rên lên một tiếng, dù được rên rỉ thì dễ chịu biết bao, vì rên rỉ làm đỡ đau, các bạn biết đấy. Nhưng tôi có thể liếm chân mình, và như thế cũng đỡ phần nào.

Suốt nửa giờ, dưới nhà náo loạn, có tiếng la hét, tiếng chân chạy rầm rập. Rồi lại im lặng. Im lặng được mấy phút, lòng tôi thấy dễ chịu, vì nỗi sợ bắt đầu lắng xuống. Mà nỗi sợ còn tệ hơn nỗi đau, ôi, tệ hơn nhiều. Rồi có một âm thanh làm tôi đông cứng lại. Người ta đang gọi tôi, gọi tên tôi, đang đi tìm tôi!

Tiếng gọi vọng lên nghe nghèn nghẹt vì xa, nhưng điều ấy chẳng làm vơi đi nỗi kinh hoàng. Đó là âm thanh khủng khiếp nhất tôi từng nghe. Nó đi khắp nơi, khắp mọi chỗ dưới kia: dọc hành lang, qua mọi phòng, cả hai tầng, cả tầng hầm, cả kho dưới đất. Rồi ra ngoài, xa dần, xa dần. Rồi lại quay về, khắp nhà một lần nữa, và tôi tưởng nó sẽ không bao giờ, không bao giờ dừng. Nhưng cuối cùng nó cũng dừng, rất nhiều giờ sau, khi ánh chạng vạng mờ mờ trên gác xép đã bị bóng tối đen kịt xoá sạch từ lâu.

Rồi trong sự tĩnh lặng phúc lành ấy, nỗi kinh hoàng của tôi vơi dần, vơi dần, tôi thấy yên lòng và ngủ thiếp đi. Tôi được nghỉ ngơi một giấc ngon, nhưng tỉnh dậy trước khi ánh chạng vạng trở lại. Tôi thấy khá dễ chịu, và giờ có thể nghĩ ra một kế hoạch. Tôi nghĩ ra một kế rất hay: bò xuống, xuống tận dưới theo cầu thang sau, nấp sau cửa kho, rồi khi người giao đá tới lúc rạng sáng, trong lúc ông ta vào trong chất đá vào tủ lạnh, tôi sẽ lẻn ra mà trốn đi. Rồi tôi sẽ trốn cả ngày, tới đêm thì lên đường. Lên đường tới, thôi thì, tới bất cứ nơi nào người ta không biết tôi, không chỉ chỗ tôi cho ông chủ.

Tôi đã thấy gần như phấn chấn, thì bỗng nhiên tôi nghĩ: Ơ kìa, đời mình sẽ ra sao nếu không có con mình!

Đó là tuyệt vọng. Chẳng có kế hoạch nào cho tôi cả, tôi thấy rõ như vậy. Tôi phải ở lại chỗ này. Ở lại, chờ đợi, và nhận lấy những gì sẽ tới. Đó không phải việc của tôi. Cuộc đời là như thế, mẹ tôi đã nói vậy.

Rồi, thôi thì, rồi tiếng gọi lại bắt đầu! Mọi nỗi buồn của tôi quay trở lại. Tôi tự nhủ, ông chủ sẽ không bao giờ tha thứ. Tôi không biết mình đã làm gì khiến ông cay nghiệt, không chịu tha thứ đến thế. Nhưng tôi đoán đó là điều một con chó không hiểu nổi, còn với con người thì rõ ràng và khủng khiếp.

Họ gọi, gọi mãi, tôi tưởng như suốt bao nhiêu ngày đêm. Lâu tới mức đói và khát gần như làm tôi phát điên, và tôi nhận ra mình đang yếu lắm. Những lúc như thế người ta ngủ nhiều, và tôi cũng ngủ nhiều. Có lần tôi tỉnh dậy trong nỗi sợ khủng khiếp, tôi tưởng như tiếng gọi đang ở ngay trên gác xép! Và đúng là thế thật. Đó là giọng Xê-đi, cô bé đang khóc. Tên tôi bật ra từ môi cô bé đứt quãng, tội nghiệp. Và tôi không dám tin vào tai mình vì sung sướng khi nghe cô bé nói:

“Về với chúng tớ đi, ôi, về với chúng tớ đi, và tha thứ cho chúng tớ. Không có cậu, mọi thứ buồn lắm...”

Tôi bật ra một tiếng ăng ẳng nhỏ đầy biết ơn, và ngay giây sau Xê-đi đã lao tới, vấp váp giữa bóng tối và đống đồ cũ, vừa đi vừa hét to cho cả nhà nghe: “Tìm thấy rồi! Tìm thấy rồi!”

Những ngày sau đó, thôi thì, thật tuyệt vời. Bà mẹ, Xê-đi và những người làm, ôi, họ như tôn thờ tôi. Họ làm cho tôi cái giường đẹp tới đâu cũng thấy chưa đủ. Còn thức ăn, họ chẳng bằng lòng với thứ gì ngoài thịt thú rừng và những món ngon trái mùa. Ngày nào bạn bè, hàng xóm cũng kéo tới nghe chuyện chủ nghĩa anh hùng của tôi. Đó là cái tên họ gọi việc ấy, và nó có nghĩa là nông nghiệp. Tôi nhớ có lần mẹ tôi tung chữ ấy ra ở một chuồng chó, rồi giải thích như thế. Nhưng mẹ không nói nông nghiệp là gì, chỉ bảo nó đồng nghĩa với sự nóng sáng nội tường.

Ngày mấy chục lần, bà Grây và Xê-đi kể câu chuyện ấy cho những người mới tới, bảo rằng tôi đã liều mạng cứu em bé, cả em bé lẫn tôi đều có vết bỏng làm chứng. Rồi khách chuyền tay tôi, vuốt ve tôi, xuýt xoa về tôi, và các bạn có thể thấy niềm tự hào trong mắt Xê-đi và mẹ cô bé. Nhưng khi người ta muốn biết sao tôi đi khập khiễng, thì họ có vẻ xấu hổ, lảng sang chuyện khác. Đôi khi người ta cứ gặng hỏi mãi bên này bên kia về chuyện ấy, tôi thấy dường như họ sắp khóc.

Mà vinh quang chưa hết đâu. Không, bạn bè của ông chủ tới, cả hai mươi người danh tiếng nhất, đưa tôi vào phòng thí nghiệm, bàn luận về tôi như thể tôi là một thứ phát minh. Mấy người bảo một con vật câm mà làm được thế thì thật kỳ diệu, đó là biểu hiện bản năng tuyệt vời nhất họ từng biết. Nhưng ông chủ nói, giọng hăng hái:

“Nó cao hơn bản năng nhiều. Đó là LÝ TRÍ. Và có khối người, được đặc ân cứu rỗi, được cùng các anh và tôi lên một thế giới tốt đẹp hơn nhờ có lý trí, lại có ít lý trí hơn con vật bốn chân khờ khạo đáng thương này, kẻ đã được định sẵn là phải chết hẳn.”

Rồi ông cười, nói: “Này, nhìn tôi mà xem, tôi đúng là một câu châm biếm! Lạy Trời, với tất cả trí tuệ lớn lao của mình, điều duy nhất tôi suy ra được là con chó đã điên và đang giết đứa trẻ. Trong khi nếu không nhờ trí khôn của con vật, mà đó là LÝ TRÍ, tôi nói các anh nghe, thì đứa bé đã chết rồi!”

Họ tranh luận, tranh luận mãi, và tôi là trung tâm của mọi cuộc tranh luận. Tôi ước gì mẹ tôi biết vinh dự lớn lao này đã đến với tôi. Hẳn mẹ sẽ tự hào lắm.

Rồi họ bàn tới quang học, như họ gọi, và bàn xem một tổn thương nào đó ở não có gây mù hay không. Nhưng họ không thống nhất được, và bảo rằng ít lâu nữa phải làm thí nghiệm để kiểm chứng. Tiếp đó họ bàn về cây cối, và chuyện ấy làm tôi thích thú. Vì mùa hè, Xê-đi và tôi đã gieo hạt, tôi giúp cô bé đào lỗ, các bạn biết đấy, rồi ngày qua ngày, một cây nhỏ hay một bông hoa mọc lên ở đó, thật kỳ diệu không hiểu làm sao lại thế được. Nhưng nó vẫn mọc. Tôi ước gì mình biết nói. Tôi sẽ kể cho những người kia nghe chuyện ấy, cho họ thấy tôi biết nhiều thế nào, và tôi sẽ hào hứng lắm với đề tài ấy. Nhưng tôi chẳng thích quang học. Nó tẻ nhạt, và khi họ quay lại bàn về nó, tôi thấy chán, rồi ngủ thiếp đi.

Chẳng bao lâu mùa xuân tới, nắng ấm, dễ chịu, tươi đẹp. Bà mẹ dịu dàng và bọn trẻ vỗ về chào tạm biệt tôi và con tôi, rồi lên đường đi thăm họ hàng. Ông chủ chẳng chơi với chúng tôi, nhưng hai mẹ con chơi với nhau rất vui, những người làm thì tốt bụng, thân thiện, nên chúng tôi sống khá hạnh phúc, đếm từng ngày chờ cả nhà về.

Rồi một hôm, những người đàn ông ấy lại tới, bảo bây giờ làm thí nghiệm đây. Họ mang con tôi vào phòng thí nghiệm, tôi cũng khập khiễng ba chân đi theo, lòng đầy tự hào, vì dĩ nhiên bất cứ sự chú ý nào dành cho con tôi cũng là niềm vui của tôi. Họ bàn luận, làm thí nghiệm, rồi bỗng nhiên con tôi rú lên. Họ đặt nó xuống sàn, nó loạng choạng đi vòng vòng, đầu bê bết máu. Ông chủ vỗ tay reo lên:

“Đấy, tôi thắng rồi, thừa nhận đi! Nó mù như con dơi!”

Và tất cả đều nói:

“Đúng thế. Ông đã chứng minh được lý thuyết của mình, và từ nay nhân loại đau khổ mang ơn ông rất nhiều.”

Họ xúm quanh ông, bắt tay ông nồng nhiệt, biết ơn, và ca ngợi ông.

Nhưng tôi gần như không thấy, không nghe những điều ấy. Vì tôi đã chạy ngay tới bên đứa con bé bỏng yêu dấu, nép sát vào nó nơi nó nằm, liếm máu cho nó. Nó áp đầu vào đầu tôi, khe khẽ rên rỉ, và tận đáy lòng tôi biết rằng, trong đau đớn khổ sở, được cảm thấy hơi ấm của mẹ là một niềm an ủi với nó, dù nó không nhìn thấy tôi. Rồi một lát sau nó gục xuống, cái mũi nhỏ mềm như nhung của nó tựa trên sàn, và nó nằm yên, không cựa quậy nữa.

Chẳng bao lâu ông chủ ngừng tranh luận một chút, rung chuông gọi người hầu vào, và bảo: “Đem nó đi chôn ở góc vườn xa kia.” Rồi ông lại bàn tiếp. Tôi lon ton chạy theo người hầu, lòng rất vui, rất biết ơn, vì tôi biết giờ con tôi đã hết đau, vì nó đang ngủ.

Chúng tôi đi tít xuống cuối vườn, tận cùng, nơi mùa hè bọn trẻ, chị vú, con tôi và tôi vẫn chơi dưới bóng một cây du lớn. Ở đó người hầu đào một cái hố, và tôi thấy anh sắp đem con tôi đi trồng. Tôi mừng lắm, vì nó sẽ lớn lên, mọc lên thành một con chó đẹp đẽ, khôi ngô như Rô-bin A-đe, và sẽ là một bất ngờ tuyệt đẹp cho cả nhà khi họ về. Thế là tôi cố giúp anh đào, nhưng cái chân què của tôi chẳng được tích sự gì, vì nó cứng đơ, các bạn biết đấy, mà đào thì phải có hai chân, không thì vô ích. Khi người hầu đào xong, lấp đất lên bé Rô-bin, anh vỗ vỗ đầu tôi, mắt anh rưng rưng nước mắt, và anh nói:

“Tội nghiệp con chó nhỏ, mày đã cứu con của ông ấy!”

Tôi đã canh suốt hai tuần lễ, mà con tôi vẫn chưa mọc lên! Tuần vừa rồi, một nỗi sợ đã len lén kéo tới. Tôi nghĩ có điều gì đó khủng khiếp trong chuyện này. Tôi không biết là gì, nhưng nỗi sợ làm tôi ốm, và tôi không ăn được, dù người làm mang cho tôi những món ngon nhất. Họ vuốt ve tôi, đêm còn ra tận đây, khóc, và nói: “Tội nghiệp con chó nhỏ, thôi đi mà, về nhà đi, đừng làm chúng tao đau lòng!” Tất cả những điều ấy càng làm tôi sợ hơn, khiến tôi tin chắc đã có chuyện gì xảy ra. Mà tôi yếu lắm rồi. Từ hôm qua tôi không đứng dậy nổi nữa.

Và trong giờ vừa qua, những người làm, nhìn về phía mặt trời đang lặn khuất và cái lạnh của đêm đang kéo tới, đã nói những điều tôi không hiểu, nhưng chúng mang một cái gì đó lạnh buốt tới tim tôi:

“Tội nghiệp mấy mẹ con bà chủ! Họ có ngờ gì đâu. Sáng mai họ sẽ về, và nôn nóng hỏi con chó nhỏ đã làm việc dũng cảm ấy. Ai trong chúng ta đủ can đảm để nói với họ sự thật: ‘Người bạn nhỏ khiêm nhường đã đi tới nơi mà loài vật vẫn tới khi chết hẳn.’”

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1903
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: A Dog's Tale, Mark Twain, 1903 (Project Gutenberg số 3174)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →