Truyện Đỉnh

😄 Truyện cười dân gian

Chuyện của người bệnh

của Mark Twain

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 14.555 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Trông tôi như người sáu mươi tuổi, đã có…
  2. 3:13Một lúc sau, tôi bắt đầu nhận ra có…
  3. 5:02“Vâng,” tôi thở dài đáp.
  4. 6:14“...thì hôm sau đã bị cắt ngã như cỏ,…
  5. 7:01“Đáng lẽ người ta tống ông ấy lên đường…
  6. 8:14“Không, ông anh ạ, nó chẳng làm ông ấy…
  7. 10:08Nhưng chúng tôi không thể ở ngoài ấy giữa…
  8. 12:40“Mình phải ở ngoài này thôi, ông anh ạ.…

Trông tôi như người sáu mươi tuổi, đã có vợ. Nhưng đó là do bệnh tật và những nỗi khổ tôi phải chịu, chứ thật ra tôi chưa vợ, và mới bốn mươi mốt tuổi. Các bạn sẽ khó mà tin rằng tôi, bây giờ chỉ còn là một cái bóng, mới hai năm ngắn ngủi trước đây còn là một người khoẻ mạnh, cường tráng, một người đàn ông bằng sắt, một lực sĩ thực thụ. Ấy vậy mà đó là sự thật trần trụi. Nhưng còn lạ hơn thế nữa là cái cách tôi mất đi sức khoẻ. Tôi mất nó vì một đêm mùa đông đã giúp trông coi một thùng súng trên chuyến tàu dài hai trăm dặm. Đó là sự thật trăm phần trăm, và tôi sẽ kể cho các bạn nghe.

Tôi là người Clíp-len, bang Ô-hai-ô. Một đêm mùa đông hai năm trước, tôi về tới nhà khi trời vừa tối, giữa một trận bão tuyết quất ràn rạt. Điều đầu tiên tôi nghe được khi bước vào nhà là người bạn thân nhất thời thơ ấu, bạn học cùng trường của tôi, Giôn Hác-kết, đã mất từ hôm trước. Lời trăng trối cuối cùng của anh là mong tôi đưa thi hài anh về cho cha mẹ già tội nghiệp ở bang Uy-xcon-xin.

Tôi bàng hoàng, đau xót vô cùng, nhưng không có thời gian để mà xúc động. Tôi phải lên đường ngay. Tôi cầm lấy tấm thẻ đề “Gửi ông trợ tế Lê-vi Hác-kết, Bê-lem, Uy-xcon-xin”, rồi vội vã lao qua cơn bão đang rít lên mà tới ga xe lửa. Tới nơi, tôi tìm thấy cái thùng dài bằng gỗ thông trắng như người ta đã tả cho tôi. Tôi lấy mấy cái đinh bấm đóng tấm thẻ lên thùng, nhìn người ta đưa nó lên toa hàng chuyển phát an toàn, rồi chạy vào phòng ăn mua cho mình một cái bánh mì kẹp với mấy điếu xì gà.

Một lát sau tôi quay ra, thì thấy cái thùng quan tài của tôi hình như lại nằm đó, và một anh chàng trẻ tuổi đang đứng xem xét quanh nó, tay cầm một tấm thẻ, mấy cái đinh bấm và một cái búa! Tôi ngạc nhiên, chẳng hiểu ra sao. Anh ta bắt đầu đóng tấm thẻ của mình lên thùng, còn tôi thì chạy vội ra toa hàng, lòng rối như tơ vò, để hỏi cho ra lẽ. Nhưng không, cái thùng của tôi vẫn ở đó, nguyên vẹn, trong toa hàng, chẳng ai đụng tới.

Sự thật là, tôi không hề ngờ rằng đã có một sự nhầm lẫn khủng khiếp. Tôi đang mang đi một thùng súng trường mà anh chàng trẻ tuổi kia mang ra ga để gửi cho một đại đội súng trường ở Pi-ô-ri-a, bang I-li-noi. Còn anh ta thì nhận được cái xác của tôi!

Đúng lúc ấy, ông trưởng tàu hô lên: “Mời lên tàu!” Tôi nhảy lên toa hàng, ngồi xuống một kiện xô chậu khá êm. Anh nhân viên chuyển phát đang ở đó, cặm cụi làm việc. Ông là một người đàn ông chất phác chừng năm mươi tuổi, gương mặt thật thà, giản dị, hiền hậu, toát ra một vẻ niềm nở thực tế, xởi lởi.

Khi tàu chuyển bánh, một người lạ nhảy vội lên toa, đặt một gói pho mát Lim-buốc lên đầu cái thùng quan tài của tôi, à không, cái thùng súng của tôi. Gói pho mát ấy đã chín tới, chín rất già dặn, rất có năng lực. Ý tôi là bây giờ tôi mới biết đó là pho mát Lim-buốc, chứ lúc ấy cả đời tôi chưa từng nghe nói tới thứ hàng ấy, và dĩ nhiên tôi hoàn toàn không biết bản chất của nó.

Thế rồi tàu lao vun vút trong đêm hoang dại, cơn bão buốt giá vẫn gầm thét. Một nỗi khổ sở ảm đạm len vào lòng tôi, tim tôi chùng xuống, chùng xuống, chùng xuống mãi! Ông nhân viên chuyển phát già buông một hai câu nhận xét lanh lảnh về cơn bão và cái thời tiết lạnh như Bắc Cực, rồi kéo sầm hai cánh cửa trượt lại, cài then, đóng chặt cửa sổ, rồi lăng xăng đi lại chỗ này chỗ kia, sắp xếp đồ đạc cho ngay ngắn. Trong lúc ấy ông khe khẽ ngân nga, rất mãn nguyện, bài thánh ca “Ngày mai tươi đẹp”, hát lạc giọng khá nhiều.

Một lúc sau, tôi bắt đầu nhận ra có một mùi cực kỳ ghê tởm, xộc tận óc, đang len lỏi trong bầu không khí giá lạnh. Điều này khiến tinh thần tôi càng thêm sa sút, vì dĩ nhiên tôi cho rằng đó là do người bạn quá cố tội nghiệp của mình. Có điều gì đó buồn thương vô hạn khi anh nhắc tôi nhớ tới anh theo cái cách thầm lặng, thảm thương này, nên tôi khó mà cầm được nước mắt. Hơn nữa, tôi còn lo cho ông nhân viên chuyển phát già, sợ ông để ý. Tuy vậy, ông vẫn thản nhiên ngân nga, chẳng tỏ dấu hiệu gì, và tôi thấy biết ơn ông vì điều đó.

Biết ơn thì có, nhưng tôi vẫn bứt rứt. Và chẳng mấy chốc tôi càng lúc càng bứt rứt hơn, vì mỗi phút trôi qua, cái mùi ấy lại đặc thêm, càng lúc càng nồng như mùi thịt thú rừng để lâu, càng khó chịu đựng.

Một lúc sau, sắp xếp đồ đạc xong xuôi vừa ý, ông nhân viên lấy củi nhóm một ngọn lửa thật to trong lò. Điều này làm tôi khổ sở không tả xiết, vì tôi không thể không cảm thấy đó là một sai lầm. Tôi tin chắc nó sẽ có hại cho người bạn quá cố tội nghiệp của tôi.

Ông Tôm-xơn, tên ông nhân viên là Tôm-xơn, như tôi biết được trong đêm ấy, giờ lại đi lục khắp toa, bịt kín mọi khe hở ông tìm thấy, và bảo rằng đêm bên ngoài thế nào cũng mặc, ông tính làm cho chúng tôi được dễ chịu. Tôi không nói gì, nhưng tôi tin là ông chọn sai cách. Trong lúc ấy ông vẫn ngân nga một mình như trước. Và cũng trong lúc ấy, cái lò mỗi lúc một nóng hơn, toa tàu mỗi lúc một ngột ngạt hơn. Tôi thấy mặt mình tái đi, buồn nôn, nhưng tôi lặng lẽ đau khổ mà không nói gì.

Chẳng mấy chốc tôi để ý thấy bài “Ngày mai tươi đẹp” cứ nhạt dần, rồi tắt hẳn, và một sự tĩnh lặng đáng ngại bao trùm. Một lát sau, ông Tôm-xơn nói:

“Phù! Tôi đoán cái thứ tôi vừa nhét vào lò không phải là quế đâu!”

Ông há miệng thở một hai lần, rồi đi về phía cái thùng quan... à, thùng súng, đứng một lúc ngay bên trên gói pho mát Lim-buốc, rồi quay lại ngồi gần tôi, trông có vẻ khá ấn tượng. Sau một hồi im lặng trầm ngâm, ông hất tay chỉ cái thùng, hỏi:

“Bạn của anh à?”

“Vâng,” tôi thở dài đáp.

“Ông ấy chín kỹ rồi đấy nhỉ!”

Chừng hai phút không ai nói gì thêm, mỗi người mải theo dòng suy nghĩ của mình. Rồi ông Tôm-xơn nói, giọng khe khẽ, kính sợ:

“Có những lúc chẳng biết chắc họ đã đi thật hay chưa. Trông như đi rồi, anh biết đấy, nhưng người còn ấm, khớp xương còn mềm. Thế nên dù anh nghĩ họ đi rồi, anh cũng không biết chắc được. Toa của tôi từng có những trường hợp như thế. Kinh khủng lắm, vì anh không biết lúc nào họ sẽ ngồi dậy mà nhìn anh!”

Rồi ông ngừng một lát, hơi hất khuỷu tay về phía cái thùng: “Nhưng ông này thì không phải đang ngủ mê đâu! Không, thưa anh, ông này thì tôi dám bảo đảm!”

Chúng tôi ngồi một lúc lâu trong im lặng trầm ngâm, nghe tiếng gió và tiếng tàu chạy ầm ầm. Rồi ông Tôm-xơn nói, giọng khá xúc động:

“Thôi thì, ai rồi cũng phải đi, không tránh được đâu. Người do đàn bà sinh ra thì ngày sống ngắn ngủi mà thưa thớt, Kinh Thánh nói thế. Phải, anh nhìn kiểu gì thì nhìn, nó vẫn trang nghiêm khủng khiếp mà kỳ lạ lắm. Chẳng ai tránh được, ai cũng phải đi, tất cả mọi người, có thể nói thế. Hôm nay anh còn khoẻ mạnh, cường tráng...”

Tới đây ông vùng đứng dậy, đập vỡ một ô kính, thò mũi ra ngoài một lúc, rồi lại ngồi xuống. Trong khi đó tôi cũng vùng dậy, thò mũi ra đúng chỗ ấy. Và cứ chốc chốc chúng tôi lại làm như thế.

“...thì hôm sau đã bị cắt ngã như cỏ, và những nơi từng biết người ấy sẽ không bao giờ còn biết người ấy nữa, Kinh Thánh nói thế. Phải đấy, trang nghiêm khủng khiếp mà kỳ lạ lắm. Nhưng sớm muộn gì ai cũng phải đi, không tránh được đâu.”

Lại một khoảng im lặng dài. Rồi:

“Ông ấy chết vì bệnh gì?”

Tôi bảo tôi không biết.

“Ông ấy chết bao lâu rồi?”

Tôi thấy nên nói thêm sự thật lên một chút cho khớp với tình hình, nên tôi bảo:

“Hai ba ngày rồi.”

Nhưng chẳng ăn thua gì. Ông Tôm-xơn đón nhận câu ấy với vẻ phật ý, rõ ràng như muốn nói: “Ý anh là hai ba năm chứ gì.” Rồi ông cứ thế nói tiếp, điềm nhiên bỏ ngoài tai lời tôi, trình bày khá dài quan điểm của ông về sự thiếu khôn ngoan khi hoãn việc chôn cất quá lâu. Rồi ông lững thững đi về phía cái thùng, đứng một lát, rồi chạy vội về, ghé ngay ô kính vỡ, mà nói:

“Đáng lẽ người ta tống ông ấy lên đường từ mùa hè năm ngoái thì tốt cho tất cả mọi người.”

Ông Tôm-xơn ngồi xuống, úp mặt vào chiếc khăn tay lụa đỏ, người cứ đung đưa, lắc lư từ từ, như người đang gắng hết sức chịu đựng một điều gần như không thể chịu nổi. Tới lúc này, cái hương thơm, nếu có thể gọi là hương thơm, đã gần như làm người ta ngạt thở. Mặt ông Tôm-xơn đang chuyển sang màu xám. Tôi biết mặt tôi cũng chẳng còn chút máu nào.

Một lúc sau, ông Tôm-xơn tựa trán vào bàn tay trái, khuỷu tay chống lên đầu gối, tay kia phẩy phẩy chiếc khăn đỏ về phía cái thùng, mà nói:

“Tôi đã chở khối ông như thế rồi, có ông còn quá hạn khá lâu nữa kia, nhưng lạy Chúa, ông này hơn đứt tất cả, mà hơn một cách dễ dàng! Ông anh ạ, so với ông này thì mấy ông kia thơm như hoa vòi voi!”

Lời công nhận ấy dành cho người bạn tội nghiệp của tôi làm tôi hài lòng, bất chấp hoàn cảnh đau buồn, vì nó nghe rất giống một lời khen.

Chẳng bao lâu, rõ ràng là phải làm một cái gì đó. Tôi đề nghị hút xì gà. Ông Tôm-xơn cho là ý hay. Ông nói:

“Có khi nó làm ông ấy dịu bớt đi được chút.”

Chúng tôi rón rén phì phèo một lúc, cố hết sức tưởng tượng rằng tình hình đã khá hơn. Nhưng chẳng ăn thua gì. Chẳng bao lâu sau, không ai bàn với ai, hai điếu xì gà cùng lặng lẽ tuột khỏi những ngón tay rã rời của chúng tôi một lúc. Ông Tôm-xơn thở dài:

“Không, ông anh ạ, nó chẳng làm ông ấy dịu đi được xu nào. Thật ra còn tệ hơn, vì có vẻ nó khích cho ông ấy thêm tham vọng. Giờ anh tính mình nên làm gì?”

Tôi không gợi ý được gì. Thật ra tôi cứ phải nuốt nước bọt, nuốt mãi, và không dám liều mở miệng nói. Ông Tôm-xơn bắt đầu lẩm bẩm, rời rạc, buồn rầu, về những trải nghiệm khốn khổ của đêm nay. Và ông bắt đầu gọi người bạn tội nghiệp của tôi bằng đủ thứ danh hiệu, khi thì chức quân sự, khi thì chức dân sự. Tôi để ý thấy cứ mỗi khi uy lực của người bạn tội nghiệp tăng lên, ông Tôm-xơn lại thăng chức cho anh tương xứng, ban cho anh một danh hiệu to hơn. Cuối cùng ông nói:

“Tôi có ý này. Hay là mình xắn tay vào, đẩy ngài đại tá sang đầu bên kia toa một chút, chừng ba mét chẳng hạn? Như thế thì ngài sẽ không còn ảnh hưởng nhiều như vậy nữa, anh có nghĩ thế không?”

Tôi bảo đó là một kế hay. Thế là chúng tôi hít một hơi thật đầy không khí trong lành ở ô kính vỡ, tính nín thở cho tới khi làm xong. Rồi chúng tôi đi tới đó, cúi xuống trên gói pho mát chết người, nắm chặt lấy cái thùng. Ông Tôm-xơn gật đầu: “Sẵn sàng!” Rồi chúng tôi dồn hết sức lao người tới trước. Nhưng ông Tôm-xơn trượt chân, ngã sụp xuống, mũi úp ngay vào gói pho mát, thế là hơi thở ông xổng mất. Ông sặc sụa, ọe khan, hổn hển, quờ quạng đứng dậy, lao về phía cửa, hai tay cào cấu không khí, giọng khàn đặc: “Đừng cản tôi! Tránh đường cho tôi! Tôi chết mất, tránh đường cho tôi!”

Ra tới cái sàn lạnh cóng ở đầu toa, tôi ngồi xuống đỡ đầu ông một lúc, rồi ông hồi lại. Một lát sau ông nói:

“Anh có nghĩ mình đẩy được ngài đại tướng nhích đi tí nào không?”

Tôi bảo không, chúng tôi chẳng nhích được ông ấy chút nào.

“Thế thì ý ấy đi tong rồi. Phải nghĩ cách khác thôi. Tôi đoán ông ấy hài lòng với chỗ ông ấy đang nằm. Mà nếu ông ấy đã muốn thế, đã quyết không muốn ai quấy rầy, thì anh cứ tin đi, chuyện này ông ấy muốn sao được vậy. Phải, cứ để ông ấy nằm yên đấy là hơn, ông ấy muốn thế thì cứ thế. Vì ông ấy nắm hết quân át chủ bài rồi, anh biết đấy, thế nên lẽ dĩ nhiên kẻ nào định thay đổi kế hoạch của ông ấy thì sẽ thua.”

Nhưng chúng tôi không thể ở ngoài ấy giữa cơn bão điên cuồng, chúng tôi sẽ chết cóng mất. Thế là chúng tôi lại vào trong, đóng cửa lại, lại bắt đầu chịu khổ, thay phiên nhau ghé ô kính vỡ. Một lúc sau, khi tàu vừa rời một ga có dừng lại chốc lát, ông Tôm-xơn nhảy chân sáo vào, vui vẻ kêu lên:

“Giờ thì ổn rồi! Tôi đoán lần này mình hạ được ngài đô đốc rồi. Tôi nghĩ tôi có thứ này sẽ làm ông ấy xẹp ngay.”

Đó là a-xít các-bô-lích, ông mang cả một bình to. Ông rưới khắp mọi nơi. Thật ra ông tưới đẫm mọi thứ, cả thùng súng, cả gói pho mát, tất tần tật. Rồi chúng tôi ngồi xuống, thấy khá nhiều hy vọng. Nhưng chẳng được bao lâu. Các bạn biết đấy, hai thứ mùi bắt đầu hoà vào nhau, và rồi, thôi thì, chẳng mấy chốc chúng tôi lại lao ra cửa. Ở ngoài ấy, ông Tôm-xơn lấy khăn lau mặt, giọng nản chí:

“Vô ích thôi. Mình không chọi nổi ông ấy đâu. Mình đưa ra thứ gì để làm ông ấy dịu đi, ông ấy cũng tận dụng tuốt, ướp thêm hương vị riêng của ông ấy vào rồi trả lại cho mình. Ông anh ơi, anh có biết không, bây giờ ở trong ấy còn tệ hơn cả trăm lần so với lúc ông ấy mới bắt đầu. Tôi chưa từng thấy ông nào hăng hái với công việc như thế, say mê chết tiệt như thế. Không, thưa anh, chưa bao giờ, từ ngày tôi làm nghề chạy tàu tới giờ. Mà tôi đã chở khối ông như thế rồi, như tôi đã kể với anh.”

Đợi tới lúc cóng cứng cả người, chúng tôi lại vào trong. Nhưng trời ơi, bây giờ thì không ở trong ấy nổi nữa. Thế là chúng tôi cứ đi ra đi vào như nhảy điệu van-xơ, lúc thì đông cứng, lúc thì tan băng, lúc thì ngạt thở, thay phiên nhau. Chừng một giờ sau, tàu dừng ở một ga khác. Lúc tàu rời ga, ông Tôm-xơn mang vào một cái bao, và nói:

“Ông anh ạ, tôi sẽ đánh liều với ông ấy một lần nữa, chỉ lần này thôi. Nếu lần này mà không hạ được ông ấy, thì việc của chúng mình là tung khăn xin thua, rút khỏi cuộc tranh cử. Tôi tính thế đấy.”

Ông mang vào cả đống lông gà, táo khô, thuốc lá lá, giẻ rách, giày cũ, lưu huỳnh, a nguỳ, và đủ thứ linh tinh khác. Ông chất tất cả lên một tấm tôn đặt giữa sàn toa rồi châm lửa đốt. Khi chúng đã cháy rần rật, tôi chẳng hiểu nổi làm sao đến cái xác chết cũng chịu được. Tất cả những gì trước đó, so với mùi này, chỉ là thơ ca thuần tuý. Thế nhưng các bạn để ý cho, cái mùi nguyên thuỷ vẫn sừng sững nổi lên trên tất cả, cao siêu như thường. Thật ra những mùi kia dường như chỉ giúp nó bám chắc hơn. Và trời ơi, nó mới đậm đà làm sao!

Lúc ấy tôi không kịp suy nghĩ những điều này, không có thời gian. Tôi nghĩ ra chúng ở ngoài sàn đầu toa. Trên đường lao ra sàn, ông Tôm-xơn ngạt thở ngã gục. Tôi túm cổ áo lôi ông ra, nhưng lôi được ra thì chính tôi cũng suýt đi đời. Khi hai người đã hồi lại, ông Tôm-xơn nói, giọng rầu rĩ:

“Mình phải ở ngoài này thôi, ông anh ạ. Phải thế thôi. Chẳng còn cách nào khác. Ngài thống đốc muốn đi một mình, mà ngài đã sắp xếp sao cho bỏ phiếu thì ngài thắng mình.”

Rồi một lát sau ông nói thêm:

“Mà anh có biết không, mình bị trúng độc rồi. Đây là chuyến đi cuối cùng của mình đấy, anh cứ xác định đi. Rồi sẽ ra bệnh thương hàn cho mà xem. Tôi thấy nó đang tới rồi đây này. Phải đấy, thưa anh, mình trúng cử rồi, chắc chắn như anh được mẹ sinh ra.”

Một giờ sau, tới ga kế tiếp, người ta khiêng chúng tôi khỏi sàn đầu toa, người cóng cứng, bất tỉnh nhân sự. Tôi lên ngay một cơn sốt độc, mê man suốt ba tuần liền. Lúc ấy tôi mới biết rằng mình đã trải qua cái đêm khủng khiếp ấy cùng một thùng súng trường vô hại và một gói pho mát vô tội. Nhưng tin ấy tới quá muộn, không cứu được tôi nữa. Trí tưởng tượng đã làm xong việc của nó, và sức khoẻ tôi đã tan nát vĩnh viễn. Không hòn đảo Béc-mu-đa nào, không miền đất nào khác có thể trả nó lại cho tôi. Đây là chuyến đi cuối cùng của tôi. Tôi đang trên đường về nhà để chết.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Invalid's Story, Mark Twain, 1882, bản in trong tập Merry Tales (Project Gutenberg số 60900)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →