Truyện Đỉnh

😄 Truyện cười dân gian

Nàng thiếu nữ nhà triệu phú vùng băng giá

Chuyện tình cô gái Ét-ki-mô · Chương 1/2 · của Mark Twain

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 16.578 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06“Vâng, ông Tuên, ông muốn biết gì về đời…
  2. 4:30“Ôi, Lát-xca, tôi mà vạch áo cho người xem…
  3. 6:14Tôi cố làm dịu phán quyết ấy, vì thấy…
  4. 7:23Điều ấy làm cô trầm ngâm. Một lát sau…
  5. 8:34Cô kể tiếp:
  6. 9:16“Rồi bày tất cả ra trong một thùng mỡ…
  7. 11:26Cô hoảng sợ, bối rối, kêu lên:
  8. 13:28“Thật thế ạ? Ông nói thế dễ thương quá!…

Chương 1: Nàng thiếu nữ nhà triệu phú vùng băng giá

“Vâng, ông Tuên, ông muốn biết gì về đời tôi, tôi cũng sẽ kể ông nghe,” cô nói bằng giọng dịu dàng, đôi mắt thật thà điềm tĩnh nhìn mặt tôi. “Vì ông có lòng tốt mến tôi, lại muốn biết về tôi.”

Nãy giờ cô vẫn lơ đãng lấy một con dao xương nhỏ cạo lớp mỡ cá voi trên má, rồi quệt vào ống tay áo lông, trong khi ngắm cực quang phương Bắc vung những dải lửa xuống từ bầu trời, nhuộm cánh đồng tuyết cô quạnh và những tảng băng trôi sừng sững như đền đài bằng muôn sắc cầu vồng, một cảnh tượng huy hoàng, đẹp đẽ tới mức gần như không chịu nổi. Nhưng giờ cô rũ bỏ cơn mơ màng, sẵn sàng kể cho tôi nghe câu chuyện đời nhỏ bé, khiêm nhường mà tôi đã xin. Cô ngồi thoải mái trên khối băng chúng tôi dùng làm ghế tràng kỷ, còn tôi chuẩn bị lắng nghe.

Cô là một sinh vật xinh đẹp. Tôi nói theo quan điểm của người Ét-ki-mô. Người khác có lẽ sẽ cho cô hơi quá đẫy đà một chút. Cô vừa tròn hai mươi tuổi, và được coi là cô gái quyến rũ nhất bộ lạc, không ai sánh kịp. Ngay cả bây giờ, ngoài trời, trong bộ áo lông, quần lông, ủng lông cồng kềnh, chẳng ra hình thù gì, và cái mũ trùm to tướng, thì ít ra vẻ đẹp của gương mặt cô vẫn hiện rõ. Còn thân hình cô thì đành phải tin vậy. Trong số bao nhiêu khách khứa ra vào, tôi chưa thấy cô gái nào ngồi bên cái máng ăn hiếu khách của cha cô mà có thể gọi là sánh ngang với cô. Thế nhưng cô không hề hư hỏng. Cô dịu dàng, tự nhiên, chân thành. Nếu cô có biết mình là hoa khôi, thì cũng chẳng có gì trong cử chỉ của cô cho thấy cô biết điều ấy.

Cô làm bạn đồng hành hằng ngày của tôi đã được một tuần, và càng biết cô, tôi càng mến cô. Cô được nuôi dạy chu đáo, âu yếm, trong một bầu không khí thanh lịch hiếm có ở vùng địa cực, vì cha cô là người quan trọng nhất bộ lạc, đứng hàng đầu trong nền văn minh Ét-ki-mô. Tôi đã cùng Lát-xca, đó là tên cô, đi xe chó kéo những chuyến dài qua những đồng băng mênh mông, và lúc nào cũng thấy cô là người bạn đường dễ chịu, trò chuyện dễ nghe. Tôi đi câu cá với cô, nhưng không ngồi trên chiếc thuyền nguy hiểm của cô. Tôi chỉ đi theo trên mặt băng, xem cô phóng cây lao chính xác chết người vào con mồi. Chúng tôi cùng đi săn hải cẩu. Mấy lần tôi đứng xem cô và gia đình đào mỡ một con cá voi mắc cạn. Một lần tôi đi theo một quãng khi cô săn gấu, nhưng quay về trước khi xong việc, vì tận đáy lòng tôi sợ gấu.

Thế đấy, giờ cô đã sẵn sàng bắt đầu câu chuyện, và đây là những gì cô kể:

“Bộ lạc chúng tôi xưa nay vẫn quen lang thang từ nơi này sang nơi khác trên mặt biển đóng băng, như những bộ lạc khác. Nhưng hai năm trước cha tôi chán cảnh ấy, ông dựng toà dinh thự lớn bằng những khối tuyết đông cứng này. Ông xem kìa, nó cao hơn hai mét, dài gấp ba bốn lần mọi nhà khác. Từ đó chúng tôi ở luôn đây. Cha tôi rất tự hào về ngôi nhà của mình, mà cũng có lý thôi. Vì nếu ông đã xem xét kỹ, hẳn ông đã nhận thấy nó đẹp hơn, đầy đủ hơn những ngôi nhà thường thấy biết bao. Còn nếu ông chưa xem, ông phải xem, vì ông sẽ thấy nó có những tiện nghi xa hoa vượt xa mức thông thường. Chẳng hạn, ở đầu nhà mà ông gọi là ‘phòng khách’, cái bục cao dành cho khách và gia đình ngồi ăn là cái bục lớn nhất ông từng thấy trong bất cứ ngôi nhà nào. Có phải thế không?”

“Phải, cô nói đúng lắm, Lát-xca ạ. Nó lớn nhất. Ngay cả trong những ngôi nhà đẹp nhất ở nước Mỹ, chúng tôi cũng chẳng có gì giống thế.”

Lời thừa nhận ấy làm mắt cô sáng lên vì tự hào và vui sướng. Tôi để ý thấy thế, và hiểu ngay mình nên nói gì.

“Tôi nghĩ hẳn là nó làm ông ngạc nhiên,” cô nói. “Lại còn điều này nữa: nó được trải lông thú dày hơn bình thường nhiều. Đủ mọi loại lông thú, lông hải cẩu, rái cá biển, cáo bạc, gấu, chồn mác-tơ, chồn xa-bin, loại nào cũng nhiều. Những chiếc ghế ngủ bằng khối băng dọc theo tường mà ông gọi là ‘giường’ cũng thế. Ở nhà ông, bục với ghế ngủ có được trang bị tốt hơn không?”

“Thật tình là không, Lát-xca ạ. Còn kém xa.”

Câu ấy lại làm cô vui. Cô chỉ nghĩ tới số lượng lông thú mà người cha có óc thẩm mỹ của cô đã chịu khó tích trữ, chứ không nghĩ tới giá trị của chúng. Tôi có thể bảo cô rằng những đống lông thú quý ấy là cả một gia tài, hay ít ra ở nước tôi thì sẽ là thế. Nhưng cô sẽ không hiểu, vì ở dân tộc cô, những thứ ấy chẳng được xếp vào hàng của cải. Tôi có thể bảo cô rằng bộ quần áo cô đang mặc, hay bộ quần áo hằng ngày của người tầm thường nhất quanh cô, đáng giá một nghìn hai trăm hay một nghìn rưỡi đô la, và ở nước tôi chẳng ai mặc bộ cánh một nghìn hai trăm đô la đi câu cá cả. Nhưng cô sẽ không hiểu, nên tôi chẳng nói gì. Cô kể tiếp:

“Rồi còn những thùng nước thải nữa. Phòng khách nhà chúng tôi có hai cái, phần còn lại của ngôi nhà có hai cái nữa. Hiếm có nhà nào phòng khách có tới hai cái. Ở nhà ông, phòng khách có hai cái không?”

Nhớ tới mấy cái thùng ấy, tôi suýt nghẹt thở, nhưng kịp trấn tĩnh trước khi cô nhận ra, rồi nói, giọng tha thiết:

“Ôi, Lát-xca, tôi mà vạch áo cho người xem lưng nước mình thì thật đáng xấu hổ, cô đừng để lộ ra nhé, vì tôi đang nói riêng với cô thôi. Nhưng tôi xin lấy danh dự mà thề rằng ngay cả người giàu nhất thành phố Niu Oóc cũng chẳng có hai thùng nước thải trong phòng khách.”

Cô vỗ hai bàn tay bọc lông, sung sướng ngây thơ, kêu lên:

“Ôi, ông nói đùa, ông nói đùa!”

“Thật đấy, cô em ạ. Có ông Van-đơ-bin chẳng hạn. Ông Van-đơ-bin gần như là người giàu nhất thế giới. Thế mà dẫu tôi đang nằm trên giường hấp hối, tôi vẫn có thể nói với cô rằng ngay cả ông ấy cũng chẳng có hai cái trong phòng khách. Ơ kìa, ông ấy chẳng có lấy một cái. Nếu không đúng thì cho tôi chết ngay tại chỗ.”

Đôi mắt đáng yêu của cô mở to kinh ngạc, rồi cô nói chậm rãi, giọng như kính sợ:

“Lạ quá, không thể tin nổi, người ta không thể hình dung được. Ông ấy keo kiệt à?”

“Không, không phải thế. Ông ấy không tiếc tiền, nhưng mà, ờ, cô biết đấy, làm thế thì trông như khoe khoang. Phải, đúng thế, ý là thế đấy. Theo cách của ông ấy thì ông ấy là người giản dị, ngại phô trương.”

Lát-xca nói: “Khiêm tốn như thế thì cũng phải thôi, nếu đừng quá đà. Nhưng mà chỗ ấy trông ra sao?”

“À, dĩ nhiên là trông khá trống trải, dở dang, nhưng mà...”

“Tôi cũng nghĩ thế! Tôi chưa từng nghe chuyện gì như vậy. Ngoài chuyện ấy ra thì nhà ông ta có đẹp không?”

“Khá đẹp, đẹp chứ. Người ta đánh giá cao lắm.”

Cô gái im lặng một lúc, mơ màng gặm một mẩu nến, có vẻ đang cố nghĩ cho ra lẽ. Cuối cùng cô hất đầu, quả quyết nói ra ý kiến của mình:

“Theo tôi, có một kiểu khiêm tốn mà xét tới tận cùng thì chính nó cũng là một kiểu khoe khoang. Khi một người có đủ sức sắm hai thùng nước thải trong phòng khách mà không sắm, thì có thể ông ta khiêm tốn thật lòng, nhưng khả năng gấp trăm lần là ông ta chỉ đang tìm cách gây chú ý với thiên hạ. Tôi nghĩ ông Van-đơ-bin của ông biết rõ mình đang làm gì.”

Tôi cố làm dịu phán quyết ấy, vì thấy rằng lấy cái chuẩn hai thùng nước thải mà xét mọi người thì không công bằng, dù ở đúng chốn của nó thì đó là chuẩn khá hợp lý. Nhưng cô gái đã quyết, không chịu nghe. Một lát sau cô hỏi:

“Ở nước ông, người giàu có những ghế ngủ tốt như của chúng tôi không, làm bằng những khối băng rộng đẹp như thế không?”

“À, cũng khá tốt, đủ tốt, nhưng không làm bằng khối băng.”

“Lạ nhỉ! Sao lại không làm bằng khối băng?”

Tôi giải thích những khó khăn, rồi chuyện băng đắt đỏ ở một đất nước mà nếu không canh chừng gắt gao người bán băng thì hoá đơn tiền băng còn nặng hơn cả cục băng. Thế là cô kêu lên:

“Trời ơi, ông phải mua băng à?”

“Chắc chắn là thế, cô em ạ.”

Cô phá lên một tràng cười ngây thơ như gió lốc:

“Ôi, tôi chưa từng nghe chuyện gì ngốc nghếch thế! Trời ơi, có thiếu gì băng, nó chẳng đáng giá gì. Này, ngay bây giờ trước mắt đây có cả trăm dặm băng. Cả đống ấy tôi chẳng đổi lấy một cái bong bóng cá.”

“Thì đấy là vì cô không biết đánh giá nó, cô bé nhà quê ngốc nghếch ạ. Nếu cô có chừng ấy băng ở Niu Oóc giữa mùa hè, cô có thể mua hết mọi con cá voi ngoài chợ.”

Cô nhìn tôi ngờ vực, hỏi:

“Ông nói thật đấy chứ?”

“Hoàn toàn thật. Tôi xin thề.”

Điều ấy làm cô trầm ngâm. Một lát sau cô thở dài khe khẽ:

“Ước gì tôi được sống ở đó.”

Tôi chỉ định đưa cho cô một chuẩn mực giá trị mà cô hiểu được, nhưng mục đích của tôi hỏng rồi. Tôi chỉ làm cô có ấn tượng rằng ở Niu Oóc cá voi vừa rẻ vừa nhiều, khiến cô thèm chảy nước miếng. Tôi thấy tốt nhất là cố giảm nhẹ cái hại mình đã gây ra, nên nói:

“Nhưng nếu sống ở đó cô sẽ chẳng thích thịt cá voi đâu. Chẳng ai thích cả.”

“Cái gì!”

“Thật đấy, họ không thích.”

“Sao lại không?”

“Ừ-ừ-ừm, tôi cũng không biết rõ. Tôi nghĩ là do định kiến. Phải, đúng thế, chỉ là định kiến thôi. Tôi đoán hồi nào đó có kẻ rỗi việc khởi ra một định kiến chống lại nó, mà một khi cái ý thích thất thường như thế đã chạy đà rồi thì cô biết đấy, nó kéo dài chẳng biết bao giờ dứt.”

“Đúng thế, hoàn toàn đúng,” cô gái trầm ngâm. “Giống như định kiến của chúng tôi với xà phòng ở đây ấy. Ông biết không, lúc đầu các bộ lạc chúng tôi có định kiến với xà phòng.”

Tôi liếc nhìn xem cô có nói nghiêm túc không. Rõ ràng là có. Tôi ngập ngừng, rồi thận trọng hỏi:

“Xin lỗi cô. Họ có định kiến với xà phòng ư? Đã từng có ư?”

“Vâng, nhưng chỉ lúc đầu thôi. Chẳng ai chịu ăn nó.”

“À, tôi hiểu rồi. Lúc nãy tôi chưa hiểu ý cô.”

Cô kể tiếp:

“Chỉ là định kiến thôi. Lần đầu xà phòng từ người nước ngoài tới đây, chẳng ai thích. Nhưng vừa thành mốt là ai cũng thích, giờ thì nhà nào có tiền cũng có. Ông có thích nó không?”

“Có chứ. Không có nó chắc tôi chết mất, nhất là ở đây. Cô có thích không?”

“Tôi mê nó lắm! Ông có thích nến không?”

“Tôi coi nến là thứ tuyệt đối cần thiết. Cô có thích không?”

Mắt cô như nhảy múa, cô kêu lên:

“Ôi! Đừng nhắc nữa! Nến! Với xà phòng!”

“Với lòng cá!”

“Với dầu cá voi!”

“Với mỡ thừa!”

“Với mỡ cá voi!”

“Với thịt ôi! Với dưa cải chua! Với sáp ong! Với hắc ín! Với dầu thông! Với mật mía! Với...”

“Đừng, ôi, đừng, tôi sẽ chết vì sung sướng mất!”

“Rồi bày tất cả ra trong một thùng mỡ thừa, mời hàng xóm tới mà xông vào ăn!”

Nhưng cảnh tượng về một bữa tiệc lý tưởng ấy quá sức chịu đựng của cô, và cô ngất đi, tội nghiệp. Tôi xoa tuyết lên mặt cô cho cô tỉnh lại, và một lúc sau làm cô nguôi được cơn kích động. Rồi dần dần cô lại trôi về câu chuyện của mình:

“Thế là chúng tôi bắt đầu sống trong ngôi nhà đẹp này. Nhưng tôi không hạnh phúc. Lý do thế này: tôi sinh ra để yêu. Với tôi, không có tình yêu thì không có hạnh phúc thật sự. Tôi muốn được yêu vì chính con người tôi. Tôi muốn có một thần tượng, và muốn là thần tượng của thần tượng ấy. Không gì kém hơn sự tôn thờ lẫn nhau có thể làm thoả mãn bản tính nồng nhiệt của tôi. Tôi có rất nhiều người cầu hôn, thật ra là quá nhiều, nhưng ai cũng có một khuyết điểm chết người. Sớm hay muộn tôi cũng phát hiện ra khuyết điểm ấy, không ai không để lộ ra. Họ không muốn tôi, mà muốn của cải của tôi.”

“Của cải của cô?”

“Vâng. Vì cha tôi là người giàu nhất bộ lạc này, hay giàu nhất trong mọi bộ lạc ở vùng này.”

Tôi tự hỏi của cải của cha cô gồm những gì. Không thể là ngôi nhà, ai cũng dựng được một cái như thế. Không thể là lông thú, chúng chẳng được coi trọng. Không thể là xe trượt, chó kéo, lao móc, thuyền, lưỡi câu và kim khâu bằng xương, những thứ ấy không phải của cải. Thế thì cái gì làm cho người này giàu có, kéo cả đám người cầu hôn hám lợi tới nhà ông? Cuối cùng tôi thấy cách tốt nhất để biết là hỏi. Thế là tôi hỏi. Cô gái hài lòng ra mặt với câu hỏi, tới mức tôi thấy rõ cô đang nóng lòng chờ tôi hỏi. Cô muốn kể cũng khổ sở chẳng kém tôi muốn biết. Cô nép sát vào tôi, thân mật thì thầm:

“Ông đoán xem ông ấy có bao nhiêu, ông chẳng đoán nổi đâu!”

Tôi giả vờ suy nghĩ rất lung, cô say sưa thích thú dõi theo gương mặt lo âu, vất vả của tôi. Cuối cùng, khi tôi chịu thua, van cô làm dịu cơn khao khát của tôi bằng cách tự nói cho tôi biết ông Van-đơ-bin địa cực này có bao nhiêu, thì cô ghé sát miệng vào tai tôi, thì thầm đầy ấn tượng:

“Hai mươi hai cái lưỡi câu. Không phải bằng xương đâu, mà là hàng ngoại, làm bằng sắt thật!”

Rồi cô lùi phắt lại đầy kịch tính để xem hiệu quả. Tôi cố hết sức để không làm cô thất vọng. Tôi tái mặt, lẩm bẩm:

“Trời đất ơi!”

“Thật như ông đang sống đây, ông Tuên ạ!”

“Lát-xca, cô lừa tôi rồi. Không thể thế được.”

Cô hoảng sợ, bối rối, kêu lên:

“Ông Tuên, từng chữ đều là thật, từng chữ một. Ông tin tôi chứ, ông tin tôi rồi chứ? Nói là ông tin tôi đi, nói đi!”

“Tôi, ờ, phải, tôi tin, tôi đang cố tin. Nhưng nó đột ngột quá. Đột ngột tới mức làm người ta ngã quỵ. Cô không nên làm thế một cách đột ngột như vậy. Nó...”

“Ôi, tôi xin lỗi! Giá mà tôi nghĩ tới...”

“Thôi, không sao, tôi không trách cô nữa, vì cô còn trẻ, vô tư, dĩ nhiên cô không lường trước được nó sẽ tác động...”

“Nhưng ôi trời, lẽ ra tôi phải biết chứ. Sao mà...”

“Cô thấy đấy, Lát-xca, nếu lúc đầu cô nói năm sáu cái thôi, rồi dần dần...”

“Ôi, tôi hiểu rồi, tôi hiểu rồi. Rồi dần dần thêm một cái, rồi hai cái, rồi... Chao ôi, sao tôi không nghĩ ra điều ấy!”

“Thôi đừng bận tâm, cô bé, không sao đâu. Giờ tôi đỡ rồi, lát nữa tôi sẽ khỏi. Nhưng mà tung ra cả hai mươi hai cái một lúc vào một người không chuẩn bị, mà sức khoẻ cũng chẳng mấy dồi dào...”

“Ôi, thật là tội ác! Nhưng ông tha thứ cho tôi nhé, nói là ông tha thứ cho tôi đi. Đi mà!”

Sau khi được cô dỗ dành, vuốt ve, năn nỉ khá nhiều, rất dễ chịu, tôi tha thứ cho cô, và cô lại vui. Một lúc sau cô lại tiếp tục câu chuyện. Chẳng mấy chốc tôi phát hiện ra kho báu gia đình còn có một thứ nữa, hình như là một món trang sức nào đó, và cô đang tìm cách lảng tránh không nói thẳng về nó, sợ tôi lại ngã quỵ. Nhưng tôi cũng muốn biết về thứ ấy, nên giục cô nói cho tôi biết nó là gì. Cô sợ. Nhưng tôi nài, bảo lần này tôi sẽ gồng mình chuẩn bị trước, thì cú sốc sẽ không làm tôi đau.

Cô đầy lo ngại, nhưng sự cám dỗ được khoe điều kỳ diệu ấy với tôi, được tận hưởng sự kinh ngạc, thán phục của tôi mạnh quá. Cô thú nhận rằng cô đang mang nó trên người, và bảo nếu tôi chắc chắn đã sẵn sàng, vân vân và vân vân. Rồi cô thò tay vào ngực áo, lấy ra một miếng đồng thau vuông méo mó, vừa lấy vừa lo lắng nhìn mắt tôi. Tôi ngã vào người cô, giả ngất khá khéo, làm cô sung sướng mà cũng suýt sợ chết khiếp. Khi tôi tỉnh lại, bình tĩnh rồi, cô nóng lòng muốn biết tôi nghĩ gì về món trang sức của cô.

“Tôi nghĩ gì về nó à? Tôi nghĩ đó là thứ tinh xảo nhất tôi từng thấy.”

“Thật thế ạ? Ông nói thế dễ thương quá! Mà nó đáng yêu thật, phải không?”

“Phải nói là thế! Tôi thà có nó còn hơn có cả đường xích đạo.”

“Tôi biết là ông sẽ thán phục nó mà,” cô nói. “Tôi thấy nó đẹp lắm. Mà ở khắp mấy vĩ độ này chẳng có cái thứ hai. Người ta từ tận vùng biển Bắc Cực không đóng băng tới đây để xem nó. Ông đã thấy cái nào như thế bao giờ chưa?”

Tôi bảo chưa, đây là lần đầu tiên tôi thấy. Nói lời nói dối rộng lượng ấy làm tôi nhói lòng, vì trong đời tôi đã thấy cả triệu cái như thế. Món trang sức khiêm nhường của cô chẳng qua chỉ là một cái thẻ gửi hành lý cũ móp méo của hãng đường sắt Niu Oóc Xen-trơn.

“Trời!” tôi nói. “Cô mang nó theo người đi khắp nơi như thế này, một mình, không có ai bảo vệ, đến một con chó cũng không à?”

“Suỵt! Đừng nói to thế,” cô nói. “Không ai biết tôi mang nó theo đâu. Người ta tưởng nó ở trong kho báu của bố. Bình thường nó vẫn ở đấy.”

“Kho báu ở đâu?”

Đó là một câu hỏi sỗ sàng, và trong thoáng chốc cô có vẻ giật mình, hơi nghi ngờ. Nhưng tôi nói:

“Ồ, thôi nào, đừng sợ tôi. Ở nước tôi có bảy mươi triệu dân, và tuy chính tôi không nên tự nói thế, nhưng không có ai trong số họ lại không dám giao cho tôi giữ vô số lưỡi câu.”

Câu ấy làm cô yên lòng, và cô nói cho tôi biết chỗ giấu lưỡi câu trong nhà. Rồi cô lan man sang chuyện khoe một chút về kích thước của những tấm băng trong suốt làm cửa sổ cho toà dinh thự, và hỏi tôi ở nhà đã thấy tấm nào như thế chưa. Tôi thẳng thắn thú nhận là chưa, khiến cô vui tới mức không tìm được lời nào khoác lên niềm mãn nguyện của mình. Làm cô vui dễ quá, mà làm cô vui lại thú vị quá, nên tôi nói tiếp:

“Ôi, Lát-xca, cô là cô gái may mắn! Ngôi nhà đẹp đẽ này, món trang sức tinh xảo kia, kho báu giàu có ấy, tất cả chỗ tuyết thanh lịch này, những tảng băng trôi xa hoa, sự cằn cỗi vô tận, những con gấu với hải mã công cộng, sự tự do cao quý, sự rộng lớn, ánh mắt ngưỡng mộ của mọi người hướng về cô, sự tôn kính của mọi người dâng tới cô mà chẳng cần đòi hỏi. Trẻ trung, giàu có, xinh đẹp, được săn đón, được theo đuổi, được ghen tị, không một nhu cầu nào không được đáp ứng, không một ước muốn nào không được thoả mãn, chẳng có gì cô mong mà không có được. Đó là vận may không thể đo đếm! Tôi đã gặp vô số cô gái, nhưng ngoài cô ra, chẳng có cô nào mà có thể nói thật những điều phi thường ấy. Và cô xứng đáng, xứng đáng với tất cả, Lát-xca ạ. Tận đáy lòng tôi tin như vậy.”

Nghe tôi nói thế, cô tự hào, hạnh phúc vô cùng. Cô cảm ơn tôi mãi vì câu nói cuối, giọng nói và ánh mắt cô cho thấy cô cảm động.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chuyện tình cô gái Ét-ki-mô

  1. 1Nàng thiếu nữ nhà triệu phú vùng băng giá15 phút
  2. 2Lưỡi câu bị mấtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1893
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Esquimau Maiden's Romance, Mark Twain, 1893, in trong tập The Man That Corrupted Hadleyburg and Other Stories (Project Gutenberg số 3251)
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →