Mùa xuân nháy một con mắt long lanh như thuỷ tinh với ông Oét-xbơ-rúc, chủ bút tạp chí Mi-néc-va, và kéo ông chệch khỏi lối đi thường ngày. Ông vừa ăn trưa ở góc quen trong một khách sạn trên đường Brốt-uê, đang trên đường về toà soạn thì đôi chân ông vướng vào lưới bùa của cô nàng mùa xuân lẳng lơ. Nói cho dễ hiểu là ông rẽ sang phía đông ở phố Hai mươi sáu, lội qua an toàn dòng lũ xe cộ mùa xuân trên Đại lộ Năm, rồi thả bộ lững thững trên những lối đi của quảng trường Ma-đi-xơn đang đâm chồi nảy lộc.
Không khí dịu dàng và khung cảnh của công viên nhỏ gần như tạo thành một bức tranh đồng quê. Màu chủ đạo là màu xanh lá, cái màu ngự trị buổi khai thiên lập địa khi con người và cây cỏ được tạo ra.
Đám cỏ non giữa các lối đi có màu gỉ đồng, một màu xanh độc địa, gợi nhớ tới cả bầy người vất vưởng đã thở lên mặt đất này suốt mùa hè và mùa thu. Những chồi cây đang nứt ra trông quen quen một cách lạ lùng đối với những ai từng nghiên cứu thực vật học qua mấy cọng rau trang trí trên đĩa cá của bữa ăn bốn mươi xu. Bầu trời trên cao mang cái sắc ngọc xanh nhợt mà các nhà thơ phòng khiêu vũ hay gieo vần với "em" với "mềm" với "đêm". Màu sắc tự nhiên và thật thà duy nhất nhìn thấy được là màu xanh lộ liễu của những chiếc ghế dài mới sơn, một sắc nằm giữa màu dưa chuột muối và màu chiếc áo mưa đen của năm ngoái. Nhưng trong con mắt dân thành phố của chủ bút Oét-xbơ-rúc, phong cảnh ấy là một kiệt tác.
Và giờ đây, dù bạn thuộc hạng người xông bừa vào, hay thuộc đám đông hiền lành không dám đặt chân, bạn cũng phải theo tôi làm một cuộc đột nhập ngắn vào đầu óc ngài chủ bút.
Tâm hồn chủ bút Oét-xbơ-rúc mãn nguyện và thanh thản. Số tháng Tư của tạp chí Mi-néc-va đã bán sạch trước ngày mùng mười. Một người bán báo ở tận thị trấn Ki-ô-cúc viết thư rằng nếu có thêm năm mươi số nữa, ông ta cũng bán hết. Chủ tạp chí vừa tăng lương cho ông chủ bút. Ông vừa đưa về nhà một bà đầu bếp quý như vàng, mới nhập cư, rất sợ cảnh sát. Và các báo buổi sáng vừa đăng toàn văn bài diễn văn ông đọc trong bữa tiệc của giới xuất bản. Hơn nữa, trong đầu ông còn vang vọng những nốt hân hoan của một bài hát tuyệt hay mà cô vợ trẻ duyên dáng đã hát cho ông nghe trước khi ông rời căn hộ trên khu phố trên sáng nay. Dạo này cô say mê âm nhạc lắm, tập luyện từ sớm và rất chăm. Khi ông khen giọng cô tiến bộ, cô đã ôm chầm lấy ông vì sung sướng được khen. Ông còn cảm thấy cả liều thuốc bổ dịu dàng của cô y tá Mùa Xuân, đang rón rén đi dọc các phòng bệnh của thành phố đang hồi phục.
Trong khi chủ bút Oét-xbơ-rúc đang thong thả bước giữa hai dãy ghế công viên, nơi đã bắt đầu đông những kẻ lang thang và những người trông trẻ con nghịch ngợm, ông thấy có ai túm chặt lấy tay áo mình. Ngờ rằng mình sắp bị xin tiền, ông quay lại với một bộ mặt lạnh lùng chẳng hứa hẹn gì, và thấy người túm áo mình là Đô, Sác-cơn-phớt Đô, nhếch nhác, gần như rách rưới, cái vẻ con nhà tử tế hầu như không còn nhận ra được dưới những đường nét sâu hơn của sự tiều tuỵ.
Trong khi ông chủ bút đang gượng dậy khỏi cơn ngạc nhiên, xin tóm tắt nhanh tiểu sử của Đô.
Anh là một nhà văn viết truyện, và là một người quen cũ của Oét-xbơ-rúc. Có một thời hai người có thể gọi nhau là bạn cũ. Hồi ấy Đô có chút tiền, sống trong một toà nhà căn hộ tươm tất gần nhà Oét-xbơ-rúc. Hai gia đình thường cùng đi xem hát, cùng đi ăn tối. Bà Đô và bà Oét-xbơ-rúc thành đôi bạn "thân nhất đời". Rồi một ngày kia, một cái xúc tu nhỏ của con bạch tuộc tài chính, chỉ để tiêu khiển, đã nuốt chửng vốn liếng của Đô. Anh dọn tới khu Grá-mơ-xi, nơi chỉ với vài đồng mỗi tuần người ta có thể ngồi trên chiếc rương của mình, dưới những chùm đèn tám ngọn, trước những lò sưởi đá cẩm thạch, mà ngắm lũ chuột chơi đùa trên sàn. Đô định sống bằng nghề viết truyện. Thỉnh thoảng anh bán được một truyện. Anh gửi cho Oét-xbơ-rúc rất nhiều. Tạp chí Mi-néc-va in một hai truyện. Số còn lại bị trả về. Kèm theo mỗi bản thảo bị từ chối, Oét-xbơ-rúc đều gửi một bức thư riêng cẩn thận và tận tâm, chỉ ra tường tận những lí do khiến ông thấy nó không dùng được. Chủ bút Oét-xbơ-rúc có quan niệm rõ ràng của riêng ông về thế nào là truyện hay. Đô cũng có quan niệm của anh. Còn bà Đô thì chủ yếu lo những thứ làm nên các đĩa thức ăn còm cõi mà bà cố vét vén cho ra. Một hôm Đô thao thao với vợ về cái hay của mấy nhà văn Pháp nọ. Đến bữa tối, họ ngồi vào một đĩa thức ăn mà cậu học trò đói bụng có thể nuốt gọn trong một miếng. Đô nhận xét đôi câu.
— Món băm kiểu Mô-pát-xăng đấy, bà Đô nói. Có thể nó không phải là nghệ thuật, nhưng em thật lòng mong anh viết một bộ truyện dài kì năm món kiểu tiểu thuyết ăn khách, tráng miệng bằng một bài thơ tình. Em đói.
Sác-cơn-phớt Đô còn cách thành công xa đến thế, khi anh túm tay áo chủ bút Oét-xbơ-rúc ở quảng trường Ma-đi-xơn. Đó là lần đầu tiên sau mấy tháng ông chủ bút gặp lại Đô.
— Ơ kìa, Sác, cậu đấy à? Oét-xbơ-rúc nói, hơi ngượng nghịu, vì câu hỏi của ông như chạm tới vẻ ngoài đã khác xưa của người kia.
— Ngồi xuống một phút đi, Đô nói, kéo tay áo ông. Đây là văn phòng của tôi. Trông thế này, tôi chẳng tới văn phòng ông được. Ồ, ngồi đi, ông chẳng mất mặt đâu. Mấy con chim bị vặt lông dở dang trên các ghế kia sẽ tưởng ông là một tay trộm trèo ban công sang trọng. Họ chẳng biết ông chỉ là chủ bút đâu.
— Hút thuốc không, Sác? Chủ bút Oét-xbơ-rúc nói, thận trọng ngồi xuống chiếc ghế xanh chói lọi. Đã nhân nhượng thì bao giờ ông cũng nhân nhượng một cách lịch thiệp.
Đô đớp lấy điếu xì gà như con chim bói cá lao xuống con cá rô, hay như cô gái mổ vào viên kẹo sô-cô-la.
— Tôi vừa mới... ông chủ bút mở lời.
— Ồ, tôi biết rồi, khỏi nói hết, Đô nói. Cho xin que diêm. Ông chỉ có đúng mười phút rảnh. Làm sao ông lọt qua được cậu bé gác cửa của tôi mà xông vào chốn thâm nghiêm này thế? Cậu ta kia kìa, đang ném dùi cui vào con chó không biết đọc tấm biển "Không giẫm lên cỏ".
— Viết lách thế nào rồi? Ông chủ bút hỏi.
— Nhìn tôi đây này, Đô nói, câu trả lời đấy. Mà đừng có làm cái vẻ mặt ngượng nghịu, thân tình mà thẳng thắn ấy rồi hỏi tôi sao không đi làm chân chào hàng rượu hay đánh xe ngựa thuê. Tôi chiến đấu tới cùng. Tôi biết tôi viết được truyện hay, và rồi tôi sẽ bắt các ông phải thừa nhận. Trước khi xong chuyện với các ông, tôi sẽ bắt các ông phải đổi chữ "rất tiếc" thành chữ "ngân phiếu".
Chủ bút Oét-xbơ-rúc nhìn qua cặp kính kẹp mũi với một vẻ buồn rầu ngọt ngào, biết tuốt, thông cảm và hoài nghi, cái vẻ mặt đã đăng kí bản quyền của mọi ông chủ bút bị vây hãm bởi những cây bút có bài không dùng được.
— Ông đã đọc truyện mới nhất tôi gửi chưa, truyện "Tiếng chuông báo động của linh hồn" ấy? Đô hỏi.
— Đọc kĩ rồi. Tôi đã phân vân về truyện ấy, Sác ạ, phân vân thật đấy. Nó có vài điểm hay. Tôi đang viết thư cho cậu để gửi kèm khi trả nó về. Tôi rất tiếc...
— Khỏi tiếc, Đô nói, giọng gay gắt. Mấy chữ ấy giờ chẳng còn xoa dịu mà cũng chẳng còn làm tôi đau được nữa. Tôi muốn biết tại sao. Nào, nói mấy điểm hay ra trước đi.
— Truyện ấy, Oét-xbơ-rúc nói chậm rãi, sau một tiếng thở dài nén lại, được viết quanh một cốt truyện gần như độc đáo. Khắc hoạ nhân vật thì hay nhất trong những gì cậu từng viết. Bố cục cũng gần như thế, trừ vài chỗ nối yếu, có thể gia cố bằng vài thay đổi, vài nét sửa. Đó là một truyện hay, trừ...
— Tôi viết tiếng Anh được chứ? Đô ngắt lời.
— Tôi vẫn luôn bảo cậu là cậu có văn phong, ông chủ bút nói.
— Thế thì cái dở là...
— Vẫn cái bệnh cũ, chủ bút Oét-xbơ-rúc nói. Cậu dẫn tới cao trào như một nghệ sĩ. Rồi cậu lại biến mình thành một thợ chụp ảnh. Tôi chẳng biết cơn điên cố chấp nào ám cậu, nhưng truyện nào cậu viết cũng thế. Không, tôi rút lại phép so sánh với thợ chụp ảnh. Thỉnh thoảng nhiếp ảnh, dù phối cảnh của nó không thể nào đúng nổi, vẫn ghi lại được một thoáng sự thật. Nhưng cậu làm hỏng mọi cái kết bằng những nét bút phẳng lì, xám xịt, xoá nhoà mọi thứ, mà tôi đã phàn nàn bao nhiêu lần. Giá cậu chịu vươn lên đỉnh cao văn chương của những cảm xúc kịch tính, và tô chúng bằng những gam màu rực rỡ mà nghệ thuật đòi hỏi, thì ông đưa thư sẽ bớt để lại trước cửa nhà cậu những phong bì dày cộp tự đề địa chỉ.
— Ôi, đàn với đèn sân khấu! Đô kêu lên, giễu cợt. Đầu ông vẫn còn cái nếp kịch rẻ tiền ngày xưa. Khi gã ria mép đen bắt cóc cô bé Bét-xi tóc vàng, thì ông nhất định phải để bà mẹ quỳ xuống giữa vùng ánh đèn, giơ hai tay lên mà nói: "Xin trời cao chứng giám, tôi sẽ không nghỉ ngơi dù ngày hay đêm, cho tới khi tên ác ôn nhẫn tâm đã cướp con tôi phải nếm sức nặng của sự báo thù!"
Chủ bút Oét-xbơ-rúc nở một nụ cười tự mãn không gì lay chuyển nổi.
— Tôi nghĩ, ông nói, ngoài đời thật người đàn bà sẽ nói đúng những lời ấy, hoặc những lời rất giống thế.
— Trừ trên sân khấu với sáu trăm đêm diễn liên tục ra thì chẳng ở đâu có, Đô nói, giọng nóng nảy. Để tôi bảo ông ngoài đời bà ấy sẽ nói gì. Bà ấy sẽ nói: "Cái gì! Bét-xi bị một gã lạ mặt dắt đi à? Trời ơi! Hết chuyện này tới chuyện khác! Lấy cho tôi cái mũ kia, tôi phải chạy ra đồn cảnh sát. Sao chẳng ai trông nó thế hả? Lạy Chúa, tránh ra cho tôi, không thì tôi chẳng bao giờ sửa soạn xong mất. Không phải cái mũ ấy, cái mũ nâu có nơ nhung cơ. Con Bét-xi chắc là điên rồi, bình thường nó sợ người lạ lắm. Phấn thế này có đánh nhiều quá không? Trời ơi! Sao mà tôi rối hết cả ruột!"
Đô nói tiếp:
— Bà ấy sẽ nói như thế đấy. Người ta ngoài đời thật không lên giọng anh hùng ca hay ngâm thơ vào những lúc xúc động tột độ. Họ đơn giản là không làm được. Nếu những lúc ấy họ có nói gì, thì họ lấy từ đúng cái vốn từ hằng ngày, chỉ có lời lẽ với ý tứ rối tung thêm một chút, thế thôi.
— Sác này, chủ bút Oét-xbơ-rúc nói, giọng trang trọng, cậu đã bao giờ bế thân hình dập nát, không còn sự sống của một đứa trẻ từ dưới gầm xe điện lên, ôm nó trong tay, đặt nó xuống trước mặt người mẹ đang hoảng loạn chưa? Cậu đã bao giờ làm thế, và nghe những lời đau đớn tuyệt vọng tự nhiên tuôn ra từ môi bà ấy chưa?
— Chưa bao giờ, Đô nói. Thế ông đã bao giờ chưa?
— À, chưa, chủ bút Oét-xbơ-rúc nói, hơi cau mày. Nhưng tôi hoàn toàn có thể tưởng tượng ra bà ấy sẽ nói gì.
— Tôi cũng thế, Đô nói.
Và giờ đã tới lúc thích hợp để chủ bút Oét-xbơ-rúc đóng vai nhà tiên tri, bắt cây bút cứng đầu kia phải im miệng. Một kẻ viết truyện chưa thành danh đâu có quyền áp đặt lời ăn tiếng nói cho các nam nữ nhân vật của tạp chí Mi-néc-va, trái với lí thuyết của chính ông chủ bút.
— Sác thân mến, ông nói, nếu tôi có hiểu chút gì về cuộc đời, thì tôi biết rằng mọi cảm xúc đột ngột, sâu sắc và bi thương trong trái tim con người đều gọi ra một lời biểu hiện tương ứng, hài hoà, phù hợp và cân xứng với nó. Sự hài hoà tất yếu ấy giữa lời nói và cảm xúc, bao nhiêu phần do tự nhiên, bao nhiêu phần do ảnh hưởng của nghệ thuật, thì khó mà nói được. Tiếng gầm khủng khiếp mà cao cả của con sư tử cái bị cướp mất con, xét về mặt kịch tính, vượt xa những tiếng rên rỉ và gừ gừ thường ngày của nó, cũng như những lời lẽ vương giả siêu phàm của vua Lia vượt xa những câu lẩm cẩm của ông lão lẩn thẩn. Nhưng cũng đúng là mọi người, đàn ông cũng như đàn bà, đều có một thứ có thể gọi là ý thức kịch tính tiềm ẩn, được đánh thức bởi một cảm xúc đủ sâu đủ mạnh. Một ý thức vô tình học được từ văn chương và sân khấu, thôi thúc họ diễn đạt những cảm xúc ấy bằng ngôn từ xứng với tầm quan trọng và giá trị kịch tính của chúng.
— Thế nhân danh bảy tấm chăn yên ngựa thiêng của chòm sao Nhân Mã, thì sân khấu với văn chương học được cái trò ấy ở đâu? Đô hỏi.
— Từ cuộc đời, ông chủ bút đắc thắng đáp.
Nhà văn đứng bật dậy khỏi ghế, vung tay hùng hồn nhưng không nói nên lời. Anh nghèo tới mức không còn lời nào để diễn đạt cho đủ sự phản đối của mình.
Trên một chiếc ghế gần đó, một gã vô công rồi nghề luộm thuộm mở đôi mắt đỏ ngầu, thấy rằng mình nên ủng hộ tinh thần cho một người anh em đang bị chèn ép.
— Đấm cho nó một quả đi, anh bạn, gã khàn khàn gọi Đô. Nó đến đây làm ồn như cái máy hát ở khu trò chơi giữa đám quý ông vào quảng trường để ngồi suy ngẫm là cái quái gì?
Chủ bút Oét-xbơ-rúc nhìn đồng hồ, làm ra vẻ thong thả.
— Ông cho tôi biết, Đô hỏi, giọng lo lắng mà hung hăng, những lỗi cụ thể nào trong truyện "Tiếng chuông báo động của linh hồn" khiến ông vứt nó đi?
— Khi Gáp-ri-en Mơ-ri, Oét-xbơ-rúc nói, nhấc điện thoại lên và được báo tin vị hôn thê của anh ta bị một tên trộm bắn, anh ta nói, tôi không nhớ chính xác từng chữ, nhưng...
— Tôi nhớ, Đô nói. Anh ta nói: "Khỉ gió cái tổng đài, lúc nào cũng cắt ngang." Rồi anh ta quay sang bạn: "Này Tôm-mi, đạn cỡ ba mươi hai có làm thủng lỗ to không? Xui quá nhỉ? Lấy giùm tớ ly rượu trên tủ đi, Tôm-mi. Không, rượu không, chẳng pha gì cả."
— Rồi nữa, ông chủ bút nói tiếp, chẳng dừng lại tranh cãi, khi Bê-rê-ni-xơ mở lá thư của chồng báo tin anh ta đã bỏ trốn với cô thợ làm móng tay, thì lời của cô ấy là, để xem nào...
— Cô ấy nói, tác giả chen vào: "Chà, thế có chết người không cơ chứ!"
— Những lời lẽ lạc lõng tới vô lí, Oét-xbơ-rúc nói, tạo ra một cái hụt hẫng, đẩy câu chuyện vào chỗ bi hài vô vọng. Tệ hơn nữa, chúng phản ánh sai cuộc đời. Không một con người nào lại thốt ra những câu nói thông tục tầm thường khi đối mặt với bi kịch bất ngờ.
— Sai, Đô nói, ngậm chặt cái hàm lởm chởm râu một cách ương ngạnh. Tôi nói rằng chẳng người đàn ông hay đàn bà nào lại tuôn ra những lời văn hoa bóng bẩy khi đối mặt với một cao trào thật sự. Họ nói năng tự nhiên, mà còn tệ hơn một chút.
Ông chủ bút đứng dậy khỏi ghế, với cái vẻ bao dung của người biết rõ nội tình.
— Này, Oét-xbơ-rúc, Đô nói, nắm chặt lấy ve áo ông, ông có nhận truyện "Tiếng chuông báo động của linh hồn" không, nếu ông tin rằng hành động và lời nói của các nhân vật ở những đoạn ta vừa bàn là đúng với đời thật?
— Rất có thể tôi sẽ nhận, nếu tôi tin như thế, ông chủ bút nói. Nhưng tôi đã giải thích với cậu rằng tôi không tin.
— Nếu tôi chứng minh được với ông là tôi đúng thì sao?
— Tiếc lắm, Sác, nhưng e là giờ tôi không có thời gian tranh luận thêm nữa.
— Tôi không muốn tranh luận, Đô nói. Tôi muốn chứng minh cho ông thấy, bằng chính cuộc đời, rằng quan điểm của tôi là đúng.
— Cậu làm thế nào được? Oét-xbơ-rúc hỏi, giọng ngạc nhiên.
— Ông nghe này, nhà văn nghiêm túc nói. Tôi đã nghĩ ra một cách. Với tôi, điều quan trọng là các tạp chí phải công nhận lí thuyết truyện đúng với đời thật của tôi là đúng. Tôi đã chiến đấu cho nó ba năm nay, và giờ tôi chỉ còn đồng đô-la cuối cùng, mà nợ hai tháng tiền nhà.
— Tôi đã áp dụng cái ngược lại với lí thuyết của cậu, ông chủ bút nói, khi chọn truyện cho tạp chí Mi-néc-va. Số phát hành đã tăng từ chín mươi nghìn lên...
— Bốn trăm nghìn, Đô nói. Trong khi lẽ ra nó phải được đẩy lên một triệu.
— Cậu vừa nói gì với tôi về việc chứng minh cái lí thuyết cưng của cậu.
— Tôi sẽ chứng minh. Nếu ông cho tôi chừng nửa tiếng, tôi sẽ chứng minh cho ông thấy tôi đúng. Tôi sẽ chứng minh bằng Lu-i-dơ.
— Vợ cậu à! Oét-xbơ-rúc kêu lên. Bằng cách nào?
— À, không hẳn là bằng cô ấy, mà là cùng với cô ấy, Đô nói. Ông biết đấy, xưa nay Lu-i-dơ vẫn tận tuỵ và yêu thương tôi thế nào. Cô ấy nghĩ tôi là thứ thuốc chính hiệu duy nhất trên thị trường có chữ kí của ông lang già. Từ khi tôi phải đóng vai thiên tài bị lãng quên, cô ấy còn âu yếm và chung thuỷ hơn bao giờ hết.
— Đúng thế thật, cô ấy là một người bạn đời đáng yêu, đáng phục, ông chủ bút tán thành. Tôi còn nhớ hồi xưa cô ấy với vợ tôi thân nhau như hình với bóng. Cả hai chúng ta đều may mắn, Sác ạ, có được những người vợ như thế. Hôm nào cậu phải đưa chị nhà tới chơi một tối, ta sẽ lại làm một bữa lẩu thân mật như hồi trước vẫn thích ấy.
— Để sau, Đô nói. Khi nào tôi có thêm cái áo sơ mi nữa. Giờ tôi kể ông nghe kế hoạch của tôi. Sáng nay sau bữa sáng, nếu có thể gọi trà với cháo yến mạch là bữa sáng, lúc tôi sắp ra khỏi nhà, Lu-i-dơ bảo tôi cô ấy sẽ tới thăm bà dì ở phố Tám mươi chín. Cô ấy bảo ba giờ sẽ về. Cô ấy bao giờ cũng đúng giờ tới từng phút. Bây giờ là...
Đô liếc về phía túi đựng đồng hồ của ông chủ bút.
— Ba giờ kém hai mươi bảy phút, Oét-xbơ-rúc nói, xem đồng hồ.
— Vừa đủ thời gian, Đô nói. Ta sẽ tới căn hộ của tôi ngay. Tôi sẽ viết một lá thư, đề tên cô ấy, rồi để trên bàn, chỗ cô ấy bước vào cửa là thấy ngay. Ông với tôi sẽ nấp trong phòng ăn sau tấm rèm cửa. Trong thư tôi sẽ viết rằng tôi đã bỏ cô ấy ra đi mãi mãi với một người tri kỉ, người hiểu được những đòi hỏi của tâm hồn nghệ sĩ của tôi, điều mà cô ấy chưa bao giờ hiểu. Khi cô ấy đọc thư, ta sẽ quan sát hành động và nghe lời nói của cô ấy. Thế là ta sẽ biết lí thuyết nào đúng, của ông hay của tôi.
— Ồ, không đời nào! Ông chủ bút kêu lên, lắc đầu. Như thế là tàn nhẫn không thể tha thứ được. Tôi không thể đồng ý để tình cảm của chị Đô bị đem ra đùa cợt như thế.
— Vững lên nào, nhà văn nói. Tôi nghĩ tôi quý cô ấy cũng chẳng kém gì ông. Việc này là vì cô ấy cũng như vì tôi. Tôi phải tìm cách nào đó để bán được truyện của mình. Nó chẳng làm hại gì Lu-i-dơ đâu. Cô ấy khoẻ mạnh lành lặn. Tim cô ấy chạy khoẻ như cái đồng hồ chín mươi tám xu. Chỉ trong một phút thôi, rồi tôi sẽ bước ra giải thích với cô ấy. Ông thật sự nợ tôi một cơ hội, Oét-xbơ-rúc ạ.
Cuối cùng chủ bút Oét-xbơ-rúc cũng nhượng bộ, tuy chỉ nửa ưng nửa không. Và trong cái nửa đồng ý của ông ẩn nấp một nhà mổ xẻ sinh vật sống, cái nhà mổ xẻ có trong tất cả chúng ta. Ai chưa từng cầm dao mổ thì hãy đứng dậy. Tiếc thay trên đời không có đủ thỏ và chuột lang cho tất cả mọi người.
Hai nhà thực nghiệm nghệ thuật rời quảng trường, vội vã đi về phía đông, rồi về phía nam, tới khu Grá-mơ-xi. Bên trong hàng rào sắt cao, công viên nhỏ đã khoác chiếc áo xanh mùa xuân bảnh bao, đang tự ngắm mình trong tấm gương đài phun nước. Bên ngoài hàng rào, dãy nhà đổ nát bao quanh một khoảng vuông trống, những cái vỏ của một tầng lớp quý tộc đã qua, nghiêng ngả như những bóng ma đang thì thầm về những chuyện bị lãng quên của giới thượng lưu đã biến mất. Vinh quang của thành phố cũng qua đi như thế.
Cách công viên một hai dãy nhà về phía bắc, Đô lại dẫn ông chủ bút rẽ sang phía đông, rồi đi thêm một quãng ngắn, vào một toà nhà căn hộ cao mà hẹp, mặt tiền nặng nề những đồ trang trí lòe loẹt. Họ lê bước lên tới tầng năm, và Đô, thở hổn hển, tra chìa vào ổ khoá cửa một căn hộ phía trước.
Khi cánh cửa mở ra, chủ bút Oét-xbơ-rúc nhìn mà thương cảm, thấy các căn phòng bày biện nghèo nàn, sơ sài biết bao.
— Ông kiếm lấy cái ghế mà ngồi, nếu tìm được, Đô nói, để tôi đi tìm giấy bút. Ơ, cái gì thế này? Có lá thư của Lu-i-dơ. Chắc cô ấy để lại lúc đi ra ngoài sáng nay.
Anh cầm một chiếc phong bì trên chiếc bàn giữa phòng, xé ra. Anh bắt đầu đọc lá thư rút ra từ trong đó, và đã lỡ đọc to thì anh đọc to luôn tới hết. Đây là những lời chủ bút Oét-xbơ-rúc nghe thấy:
"Sác-cơn-phớt thân mến,
Khi anh nhận được thư này thì em đã cách xa chừng trăm dặm và vẫn còn đang đi tiếp. Em đã được nhận vào dàn đồng ca của Đoàn Nhạc kịch Miền Tây, và hôm nay mười hai giờ trưa bọn em lên đường lưu diễn. Em không muốn chết đói, nên em quyết định tự kiếm sống. Em sẽ không về nữa. Bà Oét-xbơ-rúc cũng đi cùng em. Chị ấy bảo chị ấy chán sống với một thứ vừa là máy hát, vừa là tảng băng, vừa là cuốn từ điển lắm rồi, và chị ấy cũng sẽ không về nữa. Hai tháng nay bọn em đã lén tập hát tập múa. Em mong anh thành công, và mọi việc đều ổn! Vĩnh biệt anh.
Lu-i-dơ."
Đô buông rơi lá thư, đưa hai bàn tay run rẩy lên ôm mặt, rồi kêu lên bằng một giọng trầm và rung:
— Lạy Chúa, sao Người lại bắt con uống chén đắng này? Nàng đã phản bội rồi, thì xin hãy để những món quà đẹp nhất của Thiên đường, là niềm tin và tình yêu, trở thành câu cửa miệng đùa cợt của bọn phản trắc và lũ quỷ dữ!
Cặp kính của chủ bút Oét-xbơ-rúc rơi xuống sàn. Ngón tay một bàn tay ông lần mò chiếc khuy áo, trong khi đôi môi tái nhợt của ông buột ra:
— Này, Sác, thế có chết tôi không cơ chứ? Có ngã ngửa người ra không cơ chứ, Sác? Khốn nạn thật đấy, Sác ạ, phải không?
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn