Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Những đêm tháng Năm

Cô dâu · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 21.233 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Đã khoảng mười giờ tối, và trăng tròn đang…
  2. 3:34Phải, bà ấy tốt… Xa-sa đồng ý. Mẹ cô,…
  3. 6:26Tôi yêu ông bố của tôi lắm, An-đrây An-đrây-ích…
  4. 8:31Khi Na-đi-a thức giấc, có lẽ khoảng hai giờ,…
  5. 11:15Còn con thì mấy hôm nay chẳng vui chút…
  6. 13:46Họ ra vườn, đi dạo một chút.
  7. 16:43Khoan đã, đồ con hoang đàng! bà nội thuyết…
  8. 19:58Cô im lặng.

Chương 1: Những đêm tháng Năm

Đã khoảng mười giờ tối, và trăng tròn đang chiếu sáng trên khu vườn. Trong nhà Su-min vừa xong buổi lễ cầu nguyện ban đêm mà bà nội Mác-pha Mi-khai-lốp-na đã đặt, và giờ đây Na-đi-a, cô vừa ra vườn một lát, nhìn thấy trong phòng lớn người ta đang bày bàn ăn nhẹ, thấy bà nội trong chiếc váy lụa xúng xính đang tất bật; cha An-đrây, vị tổng linh mục nhà thờ chính toà, đang nói chuyện gì đó với mẹ Na-đi-a, bà Ni-na I-va-nốp-na, và giờ đây dưới ánh đèn buổi tối, nhìn qua cửa sổ, chẳng hiểu sao mẹ trông rất trẻ; đứng bên cạnh là con trai cha An-đrây, anh An-đrây An-đrây-ích, đang chăm chú lắng nghe.

Trong vườn yên tĩnh, mát mẻ, và những bóng tối thẫm, êm đềm nằm trên mặt đất. Nghe đâu đó rất xa, rất xa, có lẽ ngoài thành phố, tiếng ếch nhái kêu. Cảm thấy rõ tháng Năm, tháng Năm thân yêu! Hít thở thật sâu được, và muốn nghĩ rằng không phải ở đây, mà ở đâu đó dưới bầu trời, trên ngọn cây, xa tít ngoài thành phố, trên những cánh đồng và những khu rừng, giờ đây đang mở ra một cuộc sống mùa xuân riêng, bí ẩn, tươi đẹp, giàu có và thiêng liêng, mà con người yếu đuối và tội lỗi không sao hiểu thấu. Và chẳng hiểu sao lại muốn khóc.

Cô, Na-đi-a, đã hai mươi ba tuổi; từ năm mười sáu tuổi cô đã say sưa mơ ước được lấy chồng, và giờ đây cuối cùng cô đã là vị hôn thê của An-đrây An-đrây-ích, chính người đang đứng sau cửa sổ kia; cô thích anh, đám cưới đã được định vào ngày mồng bảy tháng Bảy, thế nhưng cô chẳng thấy vui, đêm ngủ không ngon, niềm vui đã biến đâu mất… Từ tầng hầm, nơi có gian bếp, qua ô cửa sổ để mở, nghe thấy người ta đang vội vã, dao thớt lách cách, cánh cửa có ròng rọc đóng sập sập; thoang thoảng mùi gà tây quay và anh đào ngâm. Và chẳng hiểu sao cô có cảm giác rằng giờ đây cả đời sẽ cứ thế, không đổi thay, không có hồi kết!

Kìa có ai đó từ trong nhà bước ra và dừng lại trên bậc thềm: đó là A-lếch-xan-đrơ Ti-mô-phê-ích, hay gọi giản dị là Xa-sa, một người khách từ Mát-xcơ-va đến đây chừng mười ngày trước. Ngày xưa đã lâu lắm rồi, có một người họ hàng xa của bà nội vẫn đến xin bố thí, ấy là bà Ma-ri-a Pê-tơ-rốp-na, một bà goá quý tộc sa sút, nhỏ bé, gầy gò, ốm yếu. Bà có một cậu con trai tên là Xa-sa. Chẳng hiểu sao người ta bảo cậu là một hoạ sĩ tài năng, và khi mẹ cậu mất, bà nội, để cứu rỗi linh hồn, đã gửi cậu lên Mát-xcơ-va học ở trường Cô-mi-xa-rốp; chừng hai năm sau cậu chuyển sang trường Hội hoạ, học ở đó gần mười lăm năm và tốt nghiệp khoa kiến trúc, đỗ vớt, nhưng rốt cuộc không làm kiến trúc, mà làm việc ở một xưởng in thạch bản ở Mát-xcơ-va. Gần như mùa hè nào anh cũng về chỗ bà nội, thường là ốm rất nặng, để nghỉ ngơi và hồi sức.

Lúc này anh mặc một chiếc áo đuôi tôm cài khuy kín và chiếc quần vải buồm đã cũ, sờn rách ở gấu. Áo sơ mi cũng chưa là, và cả người anh trông có vẻ gì đó không được tươm tất. Rất gầy, đôi mắt to, những ngón tay dài và gầy, để râu, da ngăm đen, nhưng dẫu sao vẫn đẹp trai. Anh đã quen với nhà Su-min như với người thân, và ở đây anh thấy như ở nhà mình. Và căn phòng anh ở đây từ lâu đã được gọi là phòng của Xa-sa.

Đứng trên bậc thềm, anh trông thấy Na-đi-a và đi lại chỗ cô.

— Ở đây chỗ các cô dễ chịu thật, anh nói.

— Dĩ nhiên là dễ chịu. Anh nên ở đây cho tới mùa thu.

— Phải, chắc là phải thế thôi. Có lẽ tôi sẽ ở chỗ các cô đến tháng Chín.

Anh cười vô cớ và ngồi xuống bên cạnh.

— Còn em thì ngồi đây nhìn mẹ, Na-đi-a nói. Từ đây trông mẹ trẻ thế! Mẹ em dĩ nhiên cũng có những nhược điểm, cô nói thêm sau một lúc im lặng, nhưng dù sao mẹ em vẫn là một người đàn bà khác thường.

— Phải, bà ấy tốt… Xa-sa đồng ý. Mẹ cô, theo cách của bà, dĩ nhiên là một người đàn bà rất tốt bụng và dễ mến, nhưng… biết nói với cô thế nào nhỉ? Sáng sớm nay tôi có xuống bếp nhà cô, thì thấy bốn người hầu ngủ ngay trên sàn, chẳng có giường, thay cho chăn đệm là đống giẻ rách, hôi hám, rệp, gián… Y hệt như hai mươi năm trước, chẳng thay đổi gì cả. Thôi, bà nội thì Chúa phù hộ bà, bà là bà nội mà; nhưng mẹ cô thì hẳn là nói tiếng Pháp, có đóng kịch cơ mà. Có lẽ cũng phải hiểu ra chứ.

Khi Xa-sa nói, anh hay chìa ra trước mặt người nghe hai ngón tay dài, gầy guộc.

— Tôi chưa quen nên thấy mọi thứ ở đây cứ hoang dã thế nào ấy, anh nói tiếp. Quỷ biết được, chẳng ai làm gì cả. Mẹ cô cả ngày chỉ đi dạo như một bà nữ công tước nào đó, bà nội cũng chẳng làm gì, cô cũng thế. Cả chú rể, anh An-đrây An-đrây-ích, cũng chẳng làm gì cả.

Na-đi-a đã nghe những lời này năm ngoái, và hình như cả năm kia nữa, và cô biết rằng Xa-sa không thể nghĩ khác đi được, ngày trước điều đó làm cô buồn cười, nhưng bây giờ chẳng hiểu sao cô lại thấy bực.

— Toàn những chuyện cũ rích, nghe chán từ lâu rồi, cô nói và đứng dậy. Anh nghĩ ra cái gì mới hơn một chút đi.

Anh cười và cũng đứng dậy, rồi cả hai đi về phía ngôi nhà. Cô, cao ráo, xinh đẹp, thon thả, giờ đứng cạnh anh trông rất khoẻ mạnh và tươi tắn; cô cảm thấy điều ấy, và cô thấy thương anh, và chẳng hiểu sao thấy ngượng.

— Mà anh nói lắm điều thừa quá, cô nói. Anh vừa nói về anh An-đrây của em đấy, nhưng anh có biết gì về anh ấy đâu.

— Anh An-đrây của em… Thôi kệ anh An-đrây của cô! Tôi chỉ tiếc cho tuổi trẻ của cô thôi.

Khi họ vào phòng lớn, mọi người đã ngồi vào bàn ăn tối. Bà nội, hay như trong nhà vẫn gọi là bà, rất béo, chẳng đẹp đẽ gì, lông mày rậm và có ria mép lún phún, nói rất to, và ngay qua giọng nói và cách nói năng cũng thấy bà là người lớn nhất trong nhà. Bà có những dãy cửa hàng ở chợ phiên và ngôi nhà cổ có hàng cột với khu vườn, nhưng sáng nào bà cũng cầu Chúa cứu bà khỏi bị phá sản, vừa cầu vừa khóc. Còn con dâu bà, mẹ Na-đi-a, bà Ni-na I-va-nốp-na, tóc vàng, nịt bụng thật chặt, đeo kính kẹp mũi và ngón tay nào cũng đeo nhẫn kim cương; rồi cha An-đrây, một ông già gầy gò, rụng hết răng, với vẻ mặt như sắp kể một chuyện gì đó rất buồn cười; và con trai ông, An-đrây An-đrây-ích, chồng chưa cưới của Na-đi-a, đẫy đà và đẹp trai, tóc quăn, trông như một nghệ sĩ hay hoạ sĩ; cả ba người đang nói chuyện về thuật thôi miên.

— Ở chỗ bà một tuần là con khoẻ lại, bà nội nói với Xa-sa, chỉ có điều phải ăn cho nhiều vào. Trông con ra cái thể thống gì! bà thở dài. Con trông khiếp quá! Đúng là, y như thật, đứa con hoang đàng.

— Đã phung phí hết của cải cha ban, cha An-đrây chậm rãi nói, mắt cười cười, kẻ khốn khổ ấy phải đi chăn giữa đàn súc vật vô tri…

— Tôi yêu ông bố của tôi lắm, An-đrây An-đrây-ích nói, rồi chạm tay vào vai cha. Một ông già tuyệt vời. Một ông già tốt bụng.

Mọi người im lặng một lúc. Xa-sa bỗng bật cười và áp khăn ăn lên miệng.

— Vậy là bà tin vào thuật thôi miên? cha An-đrây hỏi bà Ni-na I-va-nốp-na.

— Dĩ nhiên tôi không thể khẳng định là tôi tin, bà Ni-na I-va-nốp-na đáp, làm cho gương mặt mình một vẻ rất nghiêm trang, thậm chí nghiêm khắc, nhưng tôi phải thú nhận rằng trong tự nhiên có rất nhiều điều bí ẩn và khó hiểu.

— Tôi hoàn toàn đồng ý với bà, tuy phải thêm vào từ phía mình rằng đức tin thu hẹp đáng kể cõi bí ẩn của chúng ta.

Người ta dọn lên một con gà tây to, rất béo. Cha An-đrây và bà Ni-na I-va-nốp-na tiếp tục câu chuyện. Kim cương lấp lánh trên ngón tay bà Ni-na I-va-nốp-na, rồi nước mắt lấp lánh trong mắt bà, bà xúc động.

— Dù tôi không dám tranh luận với cha, bà nói, nhưng cha hãy đồng ý rằng trong cuộc sống có biết bao nhiêu câu đố không giải được!

— Không có câu nào cả, tôi dám đảm bảo với bà.

Sau bữa tối, An-đrây An-đrây-ích chơi vĩ cầm, còn bà Ni-na I-va-nốp-na đệm dương cầm. Mười năm trước anh đã tốt nghiệp khoa ngữ văn trường đại học, nhưng chẳng làm ở đâu, chẳng có công việc gì nhất định, chỉ thỉnh thoảng tham gia những buổi hoà nhạc từ thiện; và trong thành phố người ta gọi anh là nghệ sĩ.

An-đrây An-đrây-ích chơi đàn; mọi người im lặng lắng nghe. Trên bàn, ấm xa-mô-va reo khe khẽ, và chỉ có mỗi Xa-sa là uống trà. Rồi, khi đồng hồ điểm mười hai tiếng, một sợi dây vĩ cầm bỗng đứt; mọi người cười ồ, nhốn nháo cả lên và bắt đầu chào nhau ra về.

Tiễn chồng chưa cưới xong, Na-đi-a lên phòng mình trên gác, nơi cô ở cùng mẹ (tầng dưới là của bà nội). Ở dưới, trong phòng lớn, người ta bắt đầu tắt đèn, mà Xa-sa vẫn còn ngồi uống trà. Anh bao giờ cũng uống trà rất lâu, theo kiểu Mát-xcơ-va, mỗi lần đến bảy cốc. Na-đi-a, khi đã cởi áo và nằm lên giường, còn nghe rất lâu tiếng người hầu dọn dẹp ở dưới, tiếng bà nội gắt gỏng. Cuối cùng tất cả lặng yên, chỉ thỉnh thoảng nghe tiếng Xa-sa ho khục khặc giọng trầm trong phòng mình ở tầng dưới.

Khi Na-đi-a thức giấc, có lẽ khoảng hai giờ, trời bắt đầu hửng sáng. Xa xa đâu đó người gác đêm gõ mõ. Cô không muốn ngủ nữa, nằm thì êm quá, không thoải mái. Na-đi-a, cũng như trong tất cả những đêm tháng Năm vừa qua, ngồi dậy trên giường và bắt đầu nghĩ ngợi. Mà ý nghĩ thì vẫn là những ý nghĩ như đêm qua, đơn điệu, vô ích, dai dẳng, những ý nghĩ về chuyện An-đrây An-đrây-ích đã bắt đầu tán tỉnh cô và cầu hôn ra sao, cô đã nhận lời ra sao, rồi dần dần đã biết quý con người tốt bụng, thông minh ấy ra sao. Nhưng chẳng hiểu sao bây giờ, khi chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến đám cưới, cô bắt đầu thấy sợ hãi, bồn chồn, như thể có một điều gì mơ hồ, nặng nề đang chờ cô.

«Cốc cốc, cốc cốc… người gác đêm uể oải gõ. Cốc cốc…»

Qua ô cửa sổ cũ kỹ rộng lớn có thể thấy khu vườn, những bụi tử đinh hương đang nở rộ ở phía xa, ngái ngủ và rũ rượi vì lạnh; và màn sương, trắng, dày, lặng lẽ trôi đến bên những bụi tử đinh hương, muốn phủ kín chúng. Trên những ngọn cây xa, lũ quạ ngái ngủ kêu quàng quạc.

— Lạy Chúa, sao lòng con nặng nề thế này!

Có lẽ cô dâu nào trước ngày cưới cũng cảm thấy y như thế. Ai mà biết được! Hay đây là ảnh hưởng của Xa-sa? Nhưng Xa-sa đã mấy năm liền nói đi nói lại mãi một điều, như đọc sách, và khi anh nói thì trông anh ngây ngô và kỳ quặc. Nhưng vì sao Xa-sa cứ lởn vởn mãi trong đầu cô? Vì sao?

Người gác đêm đã thôi gõ từ lâu. Dưới cửa sổ và trong vườn chim chóc ríu ran, sương mù đã rời khỏi khu vườn, mọi vật xung quanh bừng sáng trong ánh xuân, như một nụ cười. Chẳng mấy chốc cả khu vườn, được mặt trời sưởi ấm, vuốt ve, đã sống dậy, và những giọt sương lấp lánh như kim cương trên lá; và khu vườn cũ bỏ hoang từ lâu sáng nay trông thật trẻ trung, tươi tắn.

Bà nội đã thức dậy. Xa-sa ho khục khặc giọng trầm. Nghe tiếng người ta dọn ấm xa-mô-va ở dưới nhà, tiếng kéo ghế.

Thời gian trôi chậm chạp. Na-đi-a đã dậy từ lâu và đã dạo trong vườn từ lâu, mà buổi sáng vẫn còn kéo dài mãi.

Kìa bà Ni-na I-va-nốp-na, mắt đẫm lệ, tay cầm cốc nước khoáng. Bà mê thông linh học, mê phép chữa vi lượng đồng căn, đọc nhiều, thích nói về những mối hoài nghi mà bà hay mắc phải, và tất cả những điều đó, Na-đi-a thấy, đều chứa đựng một ý nghĩa sâu xa, bí ẩn. Bây giờ Na-đi-a hôn mẹ và đi bên cạnh bà.

— Mẹ khóc vì chuyện gì thế, mẹ? cô hỏi.

— Tối qua trước khi ngủ, mẹ đọc một truyện kể về một ông già và cô con gái của ông. Ông già làm việc ở đâu đó, rồi thì ông sếp đem lòng yêu con gái ông. Mẹ chưa đọc hết, nhưng có một đoạn đọc mà không cầm được nước mắt, bà Ni-na I-va-nốp-na nói và nhấp một ngụm nước. Sáng nay nhớ lại, mẹ cũng khóc một chút.

— Còn con thì mấy hôm nay chẳng vui chút nào, Na-đi-a nói sau một lúc im lặng. Sao đêm nào con cũng không ngủ được?

— Mẹ không biết, con yêu. Còn khi nào mẹ không ngủ được, thì mẹ nhắm mắt thật chặt, chặt như thế này này, rồi hình dung ra An-na Ca-rê-ni-na, nàng đi đứng ra sao, nói năng ra sao, hoặc hình dung một chuyện lịch sử nào đó, từ thời cổ đại…

Na-đi-a cảm thấy mẹ không hiểu mình và không thể hiểu được. Cô cảm thấy điều đó lần đầu tiên trong đời, và cô thậm chí thấy sợ, muốn trốn đi; và cô về phòng mình.

Hai giờ chiều mọi người ngồi vào ăn trưa. Hôm ấy là thứ Tư, ngày ăn chay, nên người ta dọn cho bà nội món súp củ cải đỏ không thịt và cá vền ăn với cháo kiều mạch.

Để chọc tức bà nội, Xa-sa ăn cả món súp có thịt của mình lẫn món súp chay. Anh đùa suốt bữa ăn, nhưng những câu đùa của anh nặng nề, bao giờ cũng nhằm rút ra một bài học, và chẳng buồn cười chút nào khi trước lúc nói một câu dí dỏm, anh giơ cao những ngón tay rất dài, gầy guộc, như ngón tay người chết của mình, và khi người ta chợt nghĩ ra rằng anh đang ốm rất nặng, và có lẽ chẳng còn sống được bao lâu trên đời này nữa; khi ấy người ta thấy thương anh đến ứa nước mắt.

Sau bữa trưa, bà nội về phòng nghỉ, bà Ni-na I-va-nốp-na chơi dương cầm một lúc rồi cũng đi.

— Ôi, cô Na-đi-a thân mến, Xa-sa bắt đầu câu chuyện thường lệ sau bữa trưa của mình, giá mà cô nghe tôi! giá mà!

Cô ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế bành cổ, mắt nhắm lại, còn anh thì lặng lẽ đi lại trong phòng, từ góc này sang góc kia.

— Giá mà cô đi học! anh nói. Chỉ những người được khai sáng và những người thánh thiện mới đáng quan tâm, chỉ họ mới cần thiết. Những người như thế càng nhiều thì vương quốc của Chúa trên mặt đất càng sớm đến. Rồi thì từ cái thành phố của cô dần dần sẽ không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào, tất cả sẽ đảo lộn, tất cả sẽ đổi thay như có phép màu. Và khi ấy ở đây sẽ có những ngôi nhà đồ sộ, lộng lẫy tuyệt vời, những khu vườn kỳ diệu, những đài phun nước khác thường, những con người xuất chúng… Nhưng điều chính không phải ở đó. Điều chính là cái đám đông, theo nghĩa của chúng ta, như bây giờ, cái ác ấy khi đó sẽ không còn nữa, vì mỗi người đều sẽ có đức tin, và mỗi người đều sẽ biết mình sống để làm gì, và chẳng ai còn tìm chỗ dựa trong đám đông nữa. Cô thân mến, cô bé thân yêu, hãy đi đi! Hãy cho mọi người thấy rằng cái cuộc sống trì trệ, xám xịt, tội lỗi này đã làm cô chán ngấy. Hãy cho ít nhất là chính bản thân cô thấy điều đó!

— Không được đâu, Xa-sa. Em sắp lấy chồng rồi.

— Ôi, thôi đi! Ai cần đến chuyện ấy?

Họ ra vườn, đi dạo một chút.

— Và dù sao đi nữa, cô thân mến ạ, phải suy nghĩ cho kỹ, phải hiểu cái cuộc sống nhàn rỗi này của các cô nhơ nhớp, vô đạo đức đến nhường nào, Xa-sa nói tiếp. Cô hãy hiểu cho, nếu chẳng hạn cô, mẹ cô và bà cô chẳng làm gì cả, thì nghĩa là có một người nào khác đang làm việc thay cho các cô, các cô đang ăn mòn cuộc đời của một người khác; thế có sạch sẽ không, có nhơ nhuốc không?

Na-đi-a muốn nói: «Vâng, đúng thế»; muốn nói rằng cô hiểu; nhưng nước mắt ứa ra trong mắt cô, cô bỗng lặng đi, co rúm người lại và về phòng mình.

Trước buổi tối, An-đrây An-đrây-ích đến và như thường lệ chơi vĩ cầm rất lâu. Nói chung anh ít nói, và anh yêu cây vĩ cầm, có lẽ vì trong lúc chơi đàn người ta có thể im lặng. Hơn mười giờ, khi ra về, đã mặc áo khoác, anh ôm Na-đi-a và bắt đầu hôn ngấu nghiến lên mặt, lên vai, lên tay cô.

— Em yêu, em thân yêu của anh, em tuyệt đẹp của anh!… anh lẩm bẩm. Ôi, anh hạnh phúc biết bao! Anh phát điên lên vì sung sướng!

Và cô có cảm giác như đã nghe những lời này từ lâu rồi, lâu lắm rồi, hoặc đã đọc ở đâu đó… trong một cuốn tiểu thuyết, một cuốn cũ, rách nát, đã bị vứt xó từ lâu. Trong phòng lớn, Xa-sa ngồi bên bàn uống trà, đặt cái đĩa lên năm ngón tay dài của mình; bà nội đang bày bài tây chơi một mình, bà Ni-na I-va-nốp-na đang đọc sách. Ngọn đèn thờ kêu lách tách, và mọi sự dường như đều yên tĩnh, êm ả. Na-đi-a chúc mọi người ngủ ngon, lên phòng mình trên gác, nằm xuống và ngủ thiếp ngay. Nhưng cũng như đêm qua, trời vừa tờ mờ sáng là cô đã thức giấc. Cô không muốn ngủ nữa, trong lòng bất an, nặng nề. Cô ngồi, gục đầu lên đầu gối, và nghĩ về chồng chưa cưới, về đám cưới… Chẳng hiểu sao cô nhớ ra rằng mẹ cô đã không yêu người chồng quá cố của bà, và giờ bà chẳng có gì cả, sống hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ chồng, tức là bà nội. Và Na-đi-a, nghĩ thế nào cũng không hiểu nổi vì sao đến tận bây giờ cô vẫn thấy ở mẹ mình một điều gì đó đặc biệt, khác thường, vì sao cô đã không nhận ra một người đàn bà giản dị, bình thường, bất hạnh.

Xa-sa ở dưới nhà cũng không ngủ, nghe thấy anh ho. Một con người kỳ lạ, ngây thơ, Na-đi-a nghĩ, và trong những giấc mơ của anh, trong tất cả những khu vườn kỳ diệu, những đài phun nước khác thường ấy, có cái gì đó ngớ ngẩn; nhưng chẳng hiểu sao trong sự ngây thơ của anh, ngay cả trong sự ngớ ngẩn ấy, có biết bao điều tốt đẹp, đến nỗi cô vừa mới thoáng nghĩ đến chuyện có nên đi học không, là cả trái tim, cả lồng ngực cô như được một làn hơi mát phả qua, ngập tràn một cảm giác vui sướng, hân hoan.

— Nhưng tốt hơn là đừng nghĩ, đừng nghĩ… cô thì thầm. Không nên nghĩ về chuyện ấy.

«Cốc cốc… người gác đêm gõ ở đâu đó xa xa. Cốc cốc… cốc cốc…»

Giữa tháng Sáu, Xa-sa bỗng thấy chán và chuẩn bị đi Mát-xcơ-va.

— Tôi không sống nổi ở cái thành phố này, anh nói, giọng u ám. Chẳng có nước máy, chẳng có cống rãnh! Ăn bữa trưa mà tôi thấy ghê: trong bếp bẩn không thể tả nổi…

— Khoan đã, đồ con hoang đàng! bà nội thuyết phục, chẳng hiểu sao lại thì thầm. Mồng bảy là đám cưới rồi!

— Con không muốn.

— Thế mà con đã định ở chỗ bà đến tháng Chín cơ mà!

— Nhưng giờ con lại không muốn. Con cần phải làm việc!

Mùa hè năm ấy ẩm ướt và lạnh, cây cối ướt sũng, mọi thứ trong vườn đều trông lạnh lẽo, ủ ê, quả thật là muốn được làm việc. Trong các phòng, cả dưới nhà lẫn trên gác, nghe vang lên những giọng phụ nữ lạ, máy khâu trong phòng bà nội chạy lạch cạch: người ta đang gấp rút sắm sửa đồ cưới. Riêng áo lông thôi đã cho Na-đi-a sáu chiếc, và chiếc rẻ nhất, theo lời bà nội, cũng đã giá ba trăm rúp! Sự nhộn nhịp ấy làm Xa-sa bực bội; anh ngồi trong phòng mình mà cáu kỉnh; nhưng dù sao người ta cũng thuyết phục được anh ở lại, và anh hứa sẽ đi vào ngày mồng một tháng Bảy, không sớm hơn.

Thời gian trôi nhanh. Vào ngày lễ thánh Phê-rô, sau bữa trưa, An-đrây An-đrây-ích cùng Na-đi-a đến phố Mát-xcơ-va, để một lần nữa xem lại ngôi nhà đã thuê và đã sửa soạn từ lâu cho đôi vợ chồng trẻ. Ngôi nhà hai tầng, nhưng mới bày biện xong tầng trên. Trong phòng lớn, sàn nhà sơn giả gỗ ván ghép bóng loáng, những chiếc ghế kiểu Viên, cây dương cầm, giá để bản nhạc vĩ cầm. Mùi sơn. Trên tường treo một bức tranh sơn dầu lớn trong khung vàng: một người đàn bà khoả thân và bên cạnh là một chiếc bình màu tím sứt quai.

— Bức tranh tuyệt vời, An-đrây An-đrây-ích nói, và thở dài vì kính trọng. Của hoạ sĩ Si-sma-chép-xki đấy.

Tiếp theo là phòng khách với chiếc bàn tròn, đi-văng và những chiếc ghế bành bọc vải xanh da trời sặc sỡ. Trên đi-văng treo một tấm chân dung chụp ảnh lớn của cha An-đrây đội mũ linh mục, đeo huân chương. Rồi họ vào phòng ăn có tủ bát đĩa, rồi vào phòng ngủ; ở đây, trong bóng tờ mờ, hai chiếc giường kê sát cạnh nhau, và có vẻ như khi bày biện phòng ngủ, người ta đã nghĩ rằng ở đây bao giờ cũng sẽ rất tốt đẹp, và không thể khác được. An-đrây An-đrây-ích dẫn Na-đi-a đi khắp các phòng, lúc nào cũng ôm eo cô; còn cô thì thấy mình yếu đuối, có lỗi, cô căm ghét tất cả những căn phòng này, những chiếc giường, những chiếc ghế bành, người đàn bà khoả thân làm cô buồn nôn. Đối với cô, giờ đây đã rõ ràng là cô hết yêu An-đrây An-đrây-ích rồi, hoặc có lẽ chưa bao giờ yêu anh cả; nhưng nói điều ấy ra sao, nói với ai và để làm gì, thì cô không hiểu và không thể hiểu nổi, dù cô đã nghĩ về điều đó suốt mọi ngày, mọi đêm… Anh ôm eo cô, nói năng thật âu yếm, khiêm nhường, anh thật hạnh phúc khi đi lại trong căn nhà này của mình; còn cô thì thấy ở mọi thứ chỉ toàn sự tầm thường, một sự tầm thường ngớ ngẩn, ngây ngô, không chịu nổi, và bàn tay anh ôm eo cô, cô thấy cứng và lạnh như một cái đai sắt. Và từng phút một, cô sẵn sàng bỏ chạy, oà khóc, lao qua cửa sổ. An-đrây An-đrây-ích dẫn cô vào phòng tắm, và ở đây anh chạm tay vào chiếc vòi nước gắn trên tường, thế là nước bỗng chảy ra.

— Thế nào? anh nói và bật cười. Anh đã cho làm một cái thùng trên gác mái chứa được trăm xô nước, và thế là giờ anh với em sẽ có nước.

Họ đi dạo một vòng quanh sân, rồi ra phố, gọi một chiếc xe ngựa. Bụi cuốn lên thành từng đám dày, và có vẻ như trời sắp mưa đến nơi.

— Em có lạnh không? An-đrây An-đrây-ích hỏi, nheo mắt vì bụi.

Cô im lặng.

— Hôm qua Xa-sa, em nhớ không, trách anh là chẳng làm gì cả, anh nói sau một lúc im lặng. Thì sao nào, anh ta đúng! đúng vô cùng! Anh chẳng làm gì cả và không thể làm gì được. Em yêu của anh, vì sao lại thế? Vì sao ngay cả cái ý nghĩ rằng một ngày nào đó anh sẽ gắn phù hiệu lên trán mà đi làm công chức cũng làm anh ghê tởm đến thế? Vì sao anh lại thấy khó chịu đến thế khi gặp một ông luật sư, hay một ông thầy dạy tiếng La-tinh, hay một uỷ viên hội đồng thị chính? Ôi nước Nga mẹ! Ôi nước Nga mẹ, mẹ còn phải cõng trên mình biết bao nhiêu kẻ ăn không ngồi rồi và vô dụng! Biết bao nhiêu kẻ như con, hỡi người mẹ chịu nhiều đau khổ!

Và cái việc mình chẳng làm gì cả, anh khái quát lên, coi đó là dấu hiệu của thời đại.

— Khi cưới nhau rồi, anh nói tiếp, mình sẽ cùng về nông thôn, em yêu, mình sẽ làm việc ở đó! Mình sẽ mua một mảnh đất nho nhỏ có vườn, có sông, sẽ lao động, sẽ quan sát cuộc sống… Ôi, như thế mới tuyệt làm sao!

Anh bỏ mũ ra, và tóc anh bay phấp phới trong gió, còn cô nghe anh nói và nghĩ: «Lạy Chúa, con muốn về nhà! Lạy Chúa!». Gần tới tận nhà, họ vượt qua cha An-đrây.

— Kìa bố đang đi kia! An-đrây An-đrây-ích mừng rỡ và vẫy vẫy chiếc mũ. Tôi yêu ông bố của tôi lắm, thật đấy, anh nói trong lúc trả tiền xe. Một ông già tuyệt vời. Một ông già tốt bụng.

Na-đi-a bước vào nhà, bực bội, khó ở, nghĩ rằng suốt buổi tối sẽ có khách, phải tiếp chuyện họ, mỉm cười, nghe vĩ cầm, nghe đủ thứ chuyện vớ vẩn và chỉ nói về đám cưới. Bà nội, đường bệ, xúng xính trong chiếc váy lụa, kiêu kỳ như bà vẫn luôn tỏ ra trước mặt khách, đang ngồi bên ấm xa-mô-va. Cha An-đrây bước vào với nụ cười ranh mãnh của mình.

— Tôi có được niềm vui và niềm an ủi đầy ân phước được thấy bà mạnh khoẻ, ông nói với bà nội, và thật khó hiểu ông đang đùa hay nói nghiêm túc.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cô dâu

  1. 1Những đêm tháng Năm21 phút
  2. 2Chuyến tàu trong mưaĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1903
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Невеста, 1903
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →